Thứ Tư, 16 tháng 7, 2014

Thân thế và sự nghiệp của Muhammad : Giáo chủ Hồi Giáo

Muhammad teaching
Charlie Nguyễn
GIAI ĐOẠN I (570 – 622)
 Vị giáo chủ sáng lập đạo Hồi là Muhammad, sinh năm 570 tại thành phố Mecca, thủ đô của xứ Saudi Arabia ngày nay. Sau 23 năm viết sách Thánh Kinh Koran và thuyết giảng về đạo Islam, ông qua đời tại thành phố Medina, cách Mecca khoảng 40 miles về phía Bắc, hưởng thọ 62 tuổi.
Cuộc đời của Muhammad đã bắt đầu từ 30 năm cuối thế kỷ 6 và bắt cầu 32 năm sau qua thế kỷ 7. Tất cả những gì ảnh hưởng đến cuộc đời của Muhammad đều in dấu ấn trong thế giới đạo Hồi ngày nay. Vì vậy chúng ta cần phải tìm hiểu bối cảnh lịch sử của xã hội Ả Rập trong cả hai thế kỷ 6 và 7.
Khác với Kinh Thánh Cựu Ước Do Thái là một tập truyện, Kinh Thánh Koran gần như một cuốn nhật ký. Đọc Kinh Koran, người ta sẽ thấy rất nhiều nét đặc thù của đời sống du mục Ả Rập, các sinh hoạt thương mại của dân Mecca, các phong tục tập quán và tín ngưỡng cổ truyền của người Ả Rập, các cuộc chiến tranh của đế quốc Ki Tô Giáo Byzantine, đế quốc Hỏa Giáo Ba Tư v.v…
Tất cả đều được Muhammad phản ảnh trong kinh Koran. Do đó, khi đọc kinh Koran, chúng ta rất dễ dàng kiểm chứng các sự kiện bằng cách đối chiếu với lịch sử. Ngược lại, sự nghiên cứu lịch sử về bối cảnh bán đảo Ả Rập trong thế kỷ 6 và 7 sẽ giúp chúng ta hiểu biết rõ ràng hơn về Muhammad cũng như về đạo Islam.
1. Về địa dư:
Bán đảo Ả Rập là một hình chữ nhật chiều dài 1200 miles, rộng 900 miles. Diện tích trên một triệu dặm vuông, lớn bằng 1/3 Hoa Kỳ hoặc bằng 8 lần diện tích Việt Nam. Sở dĩ vùng này được gọi là bán đảo vì nó được bao bọc ba phía bởi biển hoặc đại dương: Đông giáp Vịnh Ba Tư, Nam giáp Ấn Độ Dương và phía Tây giáp Hồng Hải (Biển Đỏ). Phía Bắc của bán đảo này là vùng sa mạc hoang vu chạy dài tới biên giới Syria và Palestine. Người ta gọi nó là sa mạc Syro-Arabia vì nó ở giữa hai nước Ả Rập và Syria. Đi băng qua sa mạc này bằng đường bộ là một điều nguy hiểm nếu không dự trữ đủ nước uống. Khách lữ hành phải đi những quãng đường rất xa mới gặp được một ốc đảo (oasis). Các ốc đảo trong sa mạc được tạo thành do những hồ nước ngầm ở dưới mặt đất (underground pools). Khí hậu sa mạc rất khô, thường chỉ có mưa vào mùa xuân. Vùng có mưa nhiều nhất là miền cực nam bán đảo Ả Rập, tức nước Yemen ngày nay.
2. Dân cư:
Bán đảo Ả Rập ngày nay được chia thành nhiều quốc gia: Nước lớn nhất là Saudi Arabia 757 ngàn dặm vuông, 23 triệu dân. Yemen 203 ngàn dặm vuông, 10 triệu dân. Oman 2.5 triệu dân, Cộng Hòa Ả Rập Emirates 2.3 triệu dân và Quatar 1 triệu dân. Đa số dân Ả Rập là con cháu xa xưa của giống người ở Địa Trung Hải và miền núi Alpes ở Âu Châu. Về phương diện chủng tộc, người Ả Rập được xếp vào chủng tộc da trắng (Whites) như người Âu. Hầu hết người Ả Rập thời xưa sinh sống bằng nghề du mục. Do đó, chính họ đã tự đặt tên cho chủng tộc của mình là Arab có nghĩa là du mục (Arab means Nomad).
Người Ả Rập và Do Thái thù ghét nhau là do sự kỳ thị tôn giáo, sự thật Ả Rập và Do Thái đều cùng một chủng tộc. Theo Thánh Kinh Cựu Ước Do Thái thì sau cơn đại hồng thủy, cả nhân loại chết hết, chỉ còn lại một gia đình của ông Noah sống sót mà thôi. Con trai lớn của ông Noah là Shem trở thành tổ tiên của các giống dân Do Thái và Ả Rập. Do đó, phát sinh danh từ “Semites” để gọi chung Do Thái và Ả Rập. Semites có nghĩa là “con cháu của Shem” (Semites: Descendants of Shem).
Mới đây, một số nhà khoa học về nhân chủng đã làm một cuộc thử nghiệm DNA trên nhiều người Do Thái và nhiều người Ả Rập tại Iraq, Arabia, Yemen và Syria. Họ công bố kết quả thử nghiệm đã xác nhận người Do Thái và các giống dân Ả Rập đều cùng chung một mẫu DNA, tức cùng chung một nguồn gốc tổ tiên. Chẳng những vậy, họ đều có chung một nguồn gốc văn hóa từ Babylon. Ngôn ngữ cổ của Babylon là Sumerian, ngôn ngữ cổ Do Thái là Hebrew và ngôn ngữ Arabic đều có nhiều nét tương đồng. Ngôn ngữ của Muhammad và của Kinh Koran là ngôn ngữ Ả Rập (Arabic) hiện là ngôn ngữ chính của 250 triệu người thuộc nhiều quốc gia ở Trung Đông.
3. Chính Trị và Tôn Giáo:
Trong thế kỷ 6 và nửa đầu thế kỷ 7, toàn vùng Trung Đông bị chia thành hai miền đặt dưới sự khống chế của hai đế quốc: Đế quốc Ba Tư làm chủ miền đông gồm có Iran, Iraq, Syria và Arabia. Trong thời gian này, đế quốc Ba Tư chọn Hỏa Giáo (Zoroastrianism) làm quốc giáo và chọn Ctesiphon làm thủ đô. Đế quốc Byzantine làm chủ miền tây gồm có Hy Lạp, Do Thái, Palestine, Ai Cập và vùng Địa Trung Hải. Đế quốc Byzantine chọn Ki Tô Giáo làm quốc giáo và chọn Constantinople (nay là Istambul) làm thủ đô.
Hai đế quốc Ba Tư và Byzantine đánh nhau liên miên từ thế kỷ 2 đến thế kỷ 7, ròng rã 500 năm. Từ đầu thế kỷ 4, đế quốc Byzantine đổi tên Ki Tô Giáo thành “Công Giáo”, tiếng Hy Lạp Katholikos có nghĩa là tôn giáo hoàn vũ (Universal Religion). Rất nhiều người Ả Rập trong vùng kiểm soát của đế quốc Byzantine theo đạo Công Giáo. Tất cả những người này thuộc quyền cai quản của Giáo Hội Syria (Syriac Church). Đến giữa thế kỷ 6, đế quốc Công Giáo Byzantine chinh phục được vua xứ Abyssinia (tức là Ethiopia ngày nay) theo đạo và cho nhiều đoàn truyền giáo xâm nhập Yemen ở cực nam bán đảo Ả Rập.
Đế quốc Ba Tư thấy rõ âm mưu của Byzantine nên tìm cách nâng đỡ mọi người Do Thái và những người Ả Rập theo đạo Do Thái nắm chính quyền tại bán đảo Ả Rập. Năm 510 (tức 60 năm trước khi Muhammad sinh ra) với sự yểm trợ của đế quốc Ba Tư, một người Ả Rập theo đạo Do Thái là Yusuf Asai đã thống lãnh các bộ lạc Ả Rập và lên ngôi vua cai trị toàn bán đảo Ả Rập.
Đến năm 525, đế quốc Byzantine yểm trợ cho vua Công Giáo xứ Abyssinia đem quân xâm chiếm bán đảo Ả Rập. Vua Yusuf Asai chống cự không nổi phải bỏ chạy, cuối cùng nhà vua nhảy xuống biển tự tử. Từ đó, bán đảo Ả Rập thành thuộc địa của Abyssinia và Ki Tô Giáo thành quốc giáo tại xứ này.
Năm 570, người Ả Rập cầu cứu hoàng đế Ba Tư đem quân đánh đuổi quân Ki Tô Giáo Abyssinia. Đế quốc Ba Tư chiến thắng và biến bán đảo Ả Rập thành một tỉnh của đế quốc. Cũng từ đó, Hỏa Giáo của Ba Tư được truyền bá rộng rãi trong dân chúng Ả Rập.
4. Phong Tục Tập Quán:
Dù sống cuộc đời du mục ở sa mạc hay chuyên nghề thương mại sinh sống tại thành thị, mọi người Ả Rập đều thích tự xưng là “những người con của sa mạc” (sons of desert). Từ nhiều ngàn năm qua cho đến nay, người Ả Rập vẫn luôn luôn gắn bó với những con lạc đà. Chúng là những cỗ xe lý tưởng đưa họ qua sa mạc và đồng thời cũng là nguồn cung cấp sữa và thịt. Người Ả Rập ít trồng trọt nên họ thường bị thiếu ngũ cốc và bị suy dinh dưỡng. Cuộc sống sa mạc đã tạo ra hoàn cảnh khiến cho các bộ lạc du mục phải luôn luôn gây chiến với nhau để tranh chiếm các giếng nước hiếm hoi hoặc tranh chiếm các thảo nguyên để thả nuôi gia súc. Qua nhiều thế kỷ, cuộc sống du mục đã hình thành nơi các sắc dân Ả Rập những phong tục tập quán đặc biệt:
a. Tục trả thù:
Để có thể sống còn trong những điều kiện khắt nghiệt của sa mạc, mọi người Ả Rập phải tụ họp lại thành từng nhóm (groups) gắn bó với nhau bằng quan hệ huyết thống. Nhiều nhóm liên kết với nhau thành đoàn (clans) hoặc lớn hơn nữa thành bộ lạc (tribes). Mọi cá nhân đều phải gắn bó với quyền lợi chung của bộ lạc. Người Ả Rập gọi tinh thần gắn bó ấy là “muruwah” bao hàm rất nhiều ý nghĩa: phải can đảm trong chiến đấu, phải kiên nhẫn chịu đựng mọi sự đau khổ khi bộ lạc gặp khó khăn, phải cương quyết bảo vệ mọi kẻ yếu trong bộ lạc và phải quyết tâm trả thù những kẻ đã dám xâm phạm đến sinh mạng và tài sản của bộ lạc.
Các tù trưởng có trách nhiệm bảo vệ mọi thành viên trong bộ lạc của mình. Nếu không trừng phạt những kẻ đã xâm phạm đến sinh mạng và tài sản của thành viên trong bộ lạc mình thì tù trưởng đó sẽ không còn được tín nhiệm nữa. Vì tính liên đới trách nhiệm trong bộ lạc nên trong nhiều trường hợp một người trong bộ lạc này bị giết thì một người trong bộ lạc thù địch phải bị giết để đền mạng. Luật sa mạc là nợ máu phải trả bằng máu. Bán đảo Ả Rập là một sân khấu vĩ đại của những chu kỳ bạo động không bao giờ dứt.
Trong những thời kỳ đói kém hay hạn hán, các bộ lạc gặp khó khăn thường chọn một trong những bộ lạc thù địch để tấn công nhằm cướp gia súc, thực phẩm và hàng hóa cần thiết để sống còn. Các đàn ông của bộ lạc địch đều bị giết. Các đàn bà trẻ đẹp bị bắt đưa về làm vợ bé hay đầy tớ. Số còn lại bị đưa đi bán ở chợ nô lệ.
Những người Ả Rập du mục không hề coi những vụ cướp của giết người như vậy là điều tội lỗi. Họ quan niệm đó chỉ là những việc làm tự nhiên để trừng phạt kẻ thù một cách hợp lý mà thôi.
b. Tục giết các bé gái sơ sinh (Female Infanticide)
Luật sa mạc cũng tàn nhẫn như luật rừng: Chỉ có kẻ mạnh sống sót, mọi kẻ yếu phải bị loại trừ! Việc giết các bé gái sơ sinh là một phương cách điều chỉnh dân số của các bộ lạc du mục. Lý do là một khi bộ lạc có quá nhiều con gái và quá ít con trai thì bộ lạc bị lâm vào tình trạng suy yếu. Chỉ có đàn ông con trai mới có thể đáp ứng nhu cầu sống còn của bộ lạc, đó là nhu cầu chiến đấu và nhu cầu lao động sản xuất.
Phụ nữ bị coi rẻ nên xã hội du mục không dành cho họ một quyền lợi luật định nào (no legal right). Họ bị coi như một thứ tài sản, hay nói đúng hơn là một động sản (movabal property). Những gia đình nào đã sinh một vài đứa con gái rồi thì những bé gái sinh sau thường bị giết chết không thương tiếc.
c. Tục cắt da qui đầu và cắt âm vật
Theo tương truyền thì Abraham là người đầu tiên tự cắt da qui đầu của mình và cắt da qui đầu các con trai của ông để tỏ lòng tuân phục Thiên Chúa. Do đó, tục lệ cắt da qui đầu trở thành nghi lễ bắt buộc đối với mọi người theo đạo Do Thái. Tục lệ này thường được gọi là Phép Cắt Bì (Cirumcision).
Trước khi có đạo Hồi, đa số người Ả Rập thường tự xưng là tín đồ đạo Abraham, tức Đạo Do Thái Nguyên Thủy. Họ thường cắt da qui đầu cho các bé trai giống như người Do Thái.
Ngoài ra, người Ả Rập có tục lệ cắt bỏ một phần hoặc tất cả âm vật, còn được gọi là mồng đóc (Clitoris) của các bé gái từ 4 đến 8 tuổi. Đây là một tục lệ chung của người Ả Rập, không phân biệt tôn giáo. Hiện nay, nhiều người Ả Rập ở Ai Cập, Yemen, Sudan theo Ki Tô Giáo vẫn giữ tục lệ này. Họ tin rằng việc cắt clitoris tuy có gây đau đớn nhưng tránh cho phụ nữ những đòi hỏi sinh lý và giúp họ dễ trở nên thanh sạch cao đẹp hơn.
d. Tục chứng minh trinh tiết cô dâu
Một tục lệ của người Ả rập gây căng thẳng tinh thần cho các cô gái đến tuổi lấy chồng, đó là tục lệ chứng minh trinh tiết cô dâu (Proof of the bride’s Virginity). Sau đám cưới, mọi người trong gia đình cô dâu và những người khách tham dự tụ họp bên ngoài phòng ngủ cô dâu chú rễ. Sau khi động phòng, chú rễ bước ra khỏi phòng ngủ báo cáo kết quả cho mọi người biết. Nếu chú rễ tuyên bố cô dâu đã mất trinh trước đám cưới thì đây là một điều nhục nhã cho gia đình nhà gái và cuộc hôn nhân có thể bị hủy bỏ!
e. Tục giết gái chửa hoang
Các cô gái Ả Rập không chồng mà chửa bị coi là đã phạm trọng tội đối với danh dự của gia đình. Các cô gái này thường bị cha hoặc anh em ruột giết chết để bảo vệ danh dự gia đình. Vì thế, người Ả Rập gọi tục lệ này là “Giết người vì danh dự” (Honor Killing). Các cô gái chửa hoang thường khó có thể thoát chết vì dù có chạy đến cầu cứu các cơ quan luật pháp cũng không được bảo vệ. Các thủ phạm giết người trong trường hợp này được xã hội coi là hành động chính đáng và nếu có bị tù thì cũng chỉ trong một thời gian rất ngắn có tính cách tượng trưng mà thôi.
Tất cả các tục lệ kể trên hiện vẫn còn tồn tại trong các xứ Ả Rập Hồi Giáo. Tuy nhiên, những tục lệ đó không xuất phát từ đạo Hồi vì trong kinh Koran cũng như những văn bản luật pháp của đạo Hồi đều không có điều khoản nào qui định về các tục lệ đó. Ngày nay, nhiều nước Hồi Giáo đã ban hành các biện pháp hủy bỏ hoặc hạn chế các tục lệ xét ra có hại và lỗi thời.
GIAI ĐOẠN II (622-632) 
Năm 619, người vợ yêu quí của Muhammad là bà Khadija qua đời, hưởng thọ 64 tuổi. Qua năm sau, Muhammad lấy cô Sawdah, 30 tuổi, là em dâu của ông Suhayl tù trưởng bộ lạc Amir. Cô Sawdah hiện là một góa phụ. Ba năm về trước, Sawdah đã cùng chồng đi tỵ nạn tại Ethiopia cùng với gia đình của Muhammad vì vợ chồng cô đều theo đạo Hồi. Khi trở lại Mecca được ít lâu thì chồng cô bị bệnh và qua đời. Muhammad cưới cô Sawdah với ý định liên kết quân sự với tù trưởng Amir, nhưng sau này tù trưởng Amir đã chống lại Muhammad và bị bắt làm tù binh tại Medina.
Cũng trong năm 620, người bạn giàu có và hết sức thân cận của Muhammad là Abu Bakr đã gã cô con gái út của ông là Aisha mới lên 6 tuổi cho Muhammad. Sự hứa gã chỉ có tính cách hình thức vì Aisha vẫn sống với cha mẹ. Sau này, khi Aisha lên 9 tuổi mới sống với Muhammad như vợ chồng.
Trong thời gian này, tại thành phố Yathrib đã có khoảng 100 gia đình theo đạo Hồi. Yathrib là một ốc đảo khá lớn, cách Mecca khoảng 200 dặm về phia bắc. Đây là nơi cư ngụ lâu đời của sáu bộ lạc Ả Rập và ba bộ lạc Do Thái.
Vào tháng 9 năm 622, một phái đoàn 75 người từ Yathrib đến Mecca mời Muhammad cùng gia đình và các tín đồ Hồi Giáo di cư về Yathrib để thành lập cộng đồng Hồi Giáo đầu tiên. Sau một thời gian ngắn chuẩn bị, Muhammad và khoảng 100 gia đình Hồi Giáo bí mật trốn Mecca để di cư đến Yathrib. Trong số này có gia đình của Abu Bakr.
Sau mấy ngày băng qua những bãi cát sa mạc, đoàn người di cư của Muhammad đã tới ốc đảo Yathrib ngày 24 tháng 9 năm 622. Đây là ngày trọng đại trong lịch sử Hồi Giáo vì đó chính là ngày mở đầu cho cả một kỷ nguyên Hồi Giáo. Lịch Hồi Giáo bắt đầu từ ngày này chứ không phải từ ngày sinh của Muhammad. Năm 622 Dương Lịch trở thành năm thứ nhất của Âm Lịch Hồi Giáo. Danh từ Ả Rập gọi cuộc di cư lịch sử này là HIJRA. Thành phố Yathrib nguyên là tên gọi theo tiếng Hebrew của người Do Thái, nay được đổi tên thành Medina, chữ tắt của Madinat Al Rasul có nghĩa là Thành Phố của Thiên Sứ (City of Messenger). Medina từ một ốc đảo heo hút giữa sa mạc đã trở thành thánh địa thứ hai sau Mecca. Hiện nay mỗi năm cũng có khoảng từ 2 đến 3 triệu tín đồ trên khắp thế giới đến đây hành hương.
Lúc ban đầu mới đến Medina, Muhammad và đoàn người Hồi Giáo chỉ là những kẻ tỵ nạn rách nát chạy trốn sự ngược đãi của những người đa thần giáo ở Mecca. Nhưng dần dần, trong vòng 5 năm kế tiếp, cả 6 bộ lạc Ả Rập ở Medina đều theo đạo Hồi và tất cả thành phố Medina được đặt dưới quyền lãnh đạo duy nhất của Muhammad.
Cả 6 bộ lạc ở Medina cùng ký với nhau một hiệp ước gọi là “Umma”, có nghĩa là hiệp ước thành lập một đơn vị xã hội căn bản. Nói đúng hơn, đó là một cộng đồng Hồi Giáo liên kết với nhau trên nền tảng tôn giáo chứ không đặt trên nền tảng huyết thống hay chủng tộc. Kinh Koran nêu lên điều căn bản cho cộng đồng Hồi Giáo như sau: “Quan hệ giữa các tín đồ Hồi Giáo với nhau là quan hệ anh em ruột thịt” (The believers are bond of brothers – Koran 49:10).
Một điều đặc biệt là tại Medina, Muhammad ra lệnh cho các tín đồ phải nghe lời ông như nghe lời Chúa. Tất cả các tín đồ già trẻ lớn bé đều tuân lệnh của ông răm rắp. Ông viết trong kinh Koran: “Ai vâng lời tiên tri là vâng lời chính Thiên Chúa” (He that obeys the Apostle, obeys Allah himself – Koran 4:80).
Không ai có thể phủ nhận được tài thuyết phục của Muhammad. Ông đã dùng tôn giáo để thống nhất các bộ lạc Ả Rập trước đây luôn luôn thù nghịch nhau. Tôn giáo đã tập họp họ trong một cộng đồng Hồi Giáo (umma). Medina đã trở thành khuôn mẫu đầu tiên về umma mà các người kế vị sau này đã bắt chước để bành trướng đạo Hồi ra khắp thế giới.
Muhammad trú ngụ tại Medina trong 10 năm. Nhiều sử gia chuyên về Hồi Giáo đã chia thời gian này làm hai giai đoạn:
- Giai đoạn đầu từ năm 622 đến 627
- Giai đoạn sau từ năm 627 đến 632 là năm Muhammad qua đời.
GIAI ĐOẠN ĐẦU TẠI MEDINA (622-627)
Trong thời kỳ 5 năm đầu trú ngụ tại Medina, Muhammad và cộng đồng Hồi Giáo đầu tiên đã thực hiện rất nhiều cuộc đột kích (raids) nhằm mục đích tấn công các đoàn lữ hành đi qua sa mạc để cướp lạc đà, ngựa, vũ khí, hàng hóa và các loại thực phẩm. Cộng đồng Hồi Giáo tại Medina khó có thể sống còn nếu không tổ chức các vụ cướp nói trên. Ngoài ra, Muhammad biết trước những người đa thần giáo ở Mecca sớm muộn cũng sẽ tấn công cộng đồng Hồi Giáo tại Medina. Do đó ông phải lo tăng cường binh lực bằng cách cướp lạc đà, ngựa, vũ khí và tích lũy lương thực.
Muhammad luôn luôn kêu gọi cộng đồng Hồi Giáo tại Medina phải sẵn sàng chiến đấu và tích cực tham gia thánh chiến (Jihad). Ý niệm “thánh chiến” trong Hồi Giáo không chỉ có nghĩa là sẵn sàng tử đạo mà còn có nghĩa là một “bổn phận thiêng liêng” của mọi tín đồ phải tham gia chiến đấu trên mọi mặt trận, từ tinh thần đến vật chất, từ kinh tế đến chính trị. Do đó, các chương trong kinh Koran được viết tại Medina đều mang đậm nét về chính trị, xã hội, kinh tế và cả về quân sự nữa.
Muhammad hoàn toàn khác với Jesus vì ông không bao giờ chấp nhận “đưa má cho người ta tát”. Ông đưa ra một học thuyết được mệnh danh là “Thần Học Chiến Tranh Chính Đáng” (Theology of the just war). “Khi anh gặp những kẻ không tin đạo gây chiến thì đừng bao giờ quay lưng về phía chúng” (When you meet those who disbelieve marching for war, then turn not your back to them – Koran 8:15). Khi viết những câu thơ này, Muhammad đang phải đối phó với nguy cơ chiến tranh với Mecca. Muốn chiến thắng Mecca thì trước hết phải tiến hành những cuộc đột kích những chuyến hàng nhỏ của Mecca để làm suy yếu dần nguồn nhân lực tài lực của họ. Sau đó tiến đến những cuộc tấn công lớn để triệt tiêu độc quyền buôn bán của Mecca với Syria. Khi độc quyền buôn bán đó không còn nữa thì nền kinh tế của Mecca sẽ bị suy sụp. Cuối cùng sẽ có ngày toàn thành phố Mecca bị Muhammad chinh phục.
1. Những cuộc “thánh chiến” đẫm máu.-
Trong mấy tháng đầu năm 623, Muhammad cho người đi thám thính để theo dõi tình hình của các đoàn lữ hành Mecca đi Syria. Quân thám thính về báo cáo có một đoàn lữ hành sắp đi ngang qua Medina và có rất ít người bảo vệ. Muhammad sai Hamzah dẫn vài chục kỵ binh đi phục kích. Sau khi giết hết mọi người trong đoàn lữ hành, đoàn kỵ binh của Hamzah dẫn hết lạc đà, ngựa và toàn bộ chiến lợi phẩm về Medina.
Từ đầu năm 623 đến tháng 9 năm đó, Muhammad đã thực hiện nhiều cuộc đột kích như vậy. Các thương gia ở Mecca đối phó bằng cách ký hiệp ước với các bộ lạc ở dọc theo bờ biển Hồng Hải.
Con đường dọc theo bờ biển Hồng Hải là trục lộ chính của các đoàn lữ hành từ Mecca đi Syria. Đồng thời, các thương gia Mecca tuyển nhiều kỵ binh ưu tú thuộc bộ lạc Bedouin để tăng cường bảo vệ các đoàn lữ hành.
Tháng 9 năm 623, sau khi đã tăng cường an ninh mọi mặt, Mecca ủy nhiệm cho đại thương gia Umayah Juma hướng dẫn một đoàn lữ hành rất lớn gồm có 2.500 lạc đà chở hàng từ Mecca đi Syria. Muhammad hay tin này đã quyết định huy động toàn lực và đích thân chỉ huy cuộc tấn công để cướp số hàng lớn lao này.
Cuộc tấn công thành công mỹ mãn. Mecca bắt đầu cảm thấy phải nể sợ Muhammad. Sau vụ này, Mecca đành tạm ngưng các chuyến buôn phải qua Medina. Thay vì đi về phương bắc, họ đi về phương nam để buôn bán với xứ Yemen.
Mặc dầu Mecca đã bỏ tuyến đường phía bắc và phải đổi về tuyến đường phía nam buôn bán với Yemen, nhưng Muhammad vẫn không buông tha. Tháng giêng năm 624, Muhammad sai Abdallah mang quân đi vòng xuống phía nam của bán đảo Ả Rập, cách Medina tới hơn 400 dặm, để chận đánh đoàn lữ hành của Mecca đang trên đường tới Yemen. Đoàn quân của Abdallah cướp trọn số hàng đem về Medina. Vụ này gây phẫn nộ cho mọi người Ả Rập vì theo truyền thống của đạo cổ truyền thì tháng giêng là tháng thiêng liêng, mọi việc cướp của giết người phải được kiêng cữ. Dân Mecca gọi Muhammad là kẻ vô thần.
Sự phẫn nộ của dân Mecca chưa kịp nguôi thì xảy ra vụ kế tiếp. Đó là vào tháng ăn chay Ramadan, tức tháng 3 năm 624, Muhammad nghe tin một đại thương gia của Mecca là Abu Sufyan sẽ dẫn một đoàn lữ hành gồm trên 1000 người chở nhiều hàng quí giá của ngoại quốc đem về Mecca.
Muhammad huy động 500 quân, gồm có 350 tín đồ Hồi Giáo tình nguyện và 150 người thuộc các bộ lạc ở Medina. Muhammad dẫn quân đến bố trí tại các đồi cát ở Badr, một địa danh ở sát bờ Hồng Hải và cách Medina khoảng 100 cây số về phía tây. Badr là nơi các bộ lạc Ả Rập thường tổ chức hội chợ để mua bán trao đổi các đặc sản của mình.
Abu Sufyan là một thủ lãnh thông minh và giàu kinh nghiệm. Trước khi đoàn lữ hành tiến đến một đia điểm nguy hiểm hay khả nghi, Sufyan luôn luôn cho một toán tiền thám phi ngựa đến đó trước để quan sát hoặc thăm dò dân địa phương. Toán tiền thám về báo cáo cho biết quân phục kích của Muhammad hiện có mặt tại Badr. Abu Sufyan ra lệnh cho đoàn lữ hành tạt ngang sang tay mặt để đi xuống vùng bãi biển bằng phẳng của Hồng Hải. Đồng thời ông thuê một người cưỡi ngựa rất giỏi tên là Damdam phi ngựa như bay về Mecca cấp báo và yêu cầu mang quân ra để hộ tống đoàn lữ hành trên đường về Mecca.
Sau khi được Damdam báo tin về việc Muhammad bố trí quân phục kích tại Badr, toàn dân Mecca hết sức tức giận vì chuyến hàng do Sufyan điều khiển là chuyến hàng đắt giá nhất của giới thương gia Mecca. Hơn nữa, cuộc đột kích diễn ra lúc này đang trong tháng Ramadan chứng tỏ Muhammad bất chấp tục lệ cổ truyền thiêng liêng của người Ả Rập. Càng ngày Muhammad càng tỏ ra là một người nguy hiểm!
Do sự tức giận đó nên số người tự nguyện tham gia đoàn quân tiếp cứu Sufyan ghi tên rất đông và gồm cả những người thân thiết của Muhammad nữa. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, giới lãnh đạo Mecca đã qui tụ được trên một ngàn người, trong đó có chú ruột của Muhammad là Abbas, hai em họ chí thân đã từng sống chung với Muhammad dưới một mái nhà từ nhỏ (đó là hai con trai của Abu Talif, chú ruột kiêm cha nuôi của Muhammad từ lúc 8 tuổi), tù trưởng bộ lạc Amir là bạn thân kiêm anh rễ của vợ Muhammad và có cả Hakim là cháu ruột của bà Khadija (vợ đầu của Muhammad).
Ngay chiều hôm đó, đoàn quân tiếp cứu rời Mecca tiến về Badr. Họ phải đi qua Badr đến địa điểm trên bờ biển Hồng Hải để gặp đoàn lữ hành của Sufyan. Quân số của cả hai đoàn gộp lại lên tới trên 2000 người. Ỷ vào quân số đông gấp bốn lần quân số của Muhammad nên họ yên tâm lên đường trở về Mecca.
Toán thám báo của Muhammad báo cáo cho biết đoàn quân đông đảo của Sufyan sắp đi ngang qua Badr. Muhammad kêu gọi mọi người phải quyết tâm chiến đấu dù phải đối đầu với bạn bè hoặc người ruột thịt. Muhammad bố trí người tại các giếng nước ở Badr để ngăn chặn mọi nguồn nước uống. Số quân còn lại núp sau các đụn cát. Muhammad căn dặn mọi người phải tiêu diệt những người lãnh đạo của Mecca ngay từ đầu để gây rối loạn hàng ngũ của địch. Muhammad không sợ quân số đông của Mecca vì ông biết rõ những người chỉ huy của họ chỉ quen chỉ huy những nhóm nhỏ mà thôi. Khi có quân số đông, họ sẽ không biết điều động và phối hợp ra sao.
Quân số của Muhammad tuy ít nhưng Muhammad có tài chỉ huy, quân lính dưới quyền ông tuyệt đối vâng lời và có kỷ luật.
Trưa hôm sau, đoàn lữ hành của Abu Sufyan và đoàn tiếp cứu của Mecca từ từ tiến vào Badr. Các cung thủ của Muhammad núp sau các đụn cát đột nhiên xuất hiện và ưu tiên nhắm bắn các cấp chỉ huy của đoàn lữ hành. Chỉ trong khoảnh khắc, 50 người chỉ huy đoàn lữ hành bỏ xác tại trận. Đoàn người lữ hành và tiếp cứu hoảng hồn bỏ chạy tán loạn. Quân của Muhammad từ mọi hướng xông ra chém giết nhiều vô kể. Một số tàn quân của Mecca sống sót chạy thoát. Muhammad chiếm được hàng trăm lạc đà và ngựa, tịch thu nhiều vũ khí, quân trang và hàng hóa ngoại nhập đủ loại. Muhammad cho giải 70 tù binh về Medina. Điều đặc biệt là những tù binh này hầu hết đều là bạn bè hoặc họ hàng của những người Hồi Giáo trước đây ở Mecca di cư về Medina.
Trong số đó có Suhayl, tù trưởng bộ lạc Amir là bạn thân của Muhammad trước đây và là anh chồng cũ của Sawdah, vợ của Muhammad hiện nay. Quan trọng hơn cả là tù binh Abbas, chú ruột của Muhammad. Sau đó là Aquil và Nawfal là hai con trai của Abu Talif, chú ruột kiêm cha nuôi của Muhammad. Còn một người nữa cũng quan trọng không kém là Abu Alas, con rễ của Muhammad. Abu Alas lấy cô con gái áp út của Muhammad tên là Zaynab. Vì Abu không chịu theo đạo Hồi và không di cư đến Medina nên Zaynab phải ở lại Mecca với chồng con.
Khi đoàn quân của Muhammad chiến thắng trở về, tất cả mọi người Hồi Giáo ở Medina chạy ra đón mừng với niềm hân hoan chưa từng có. Bởi vì cứ mỗi lần đoàn quân chiến thắng trở về thì tất cả những đồ cướp được (loots) đều phân phát cho tất cả mọi người. Lần này họ hy vọng sẽ nhận được nhiều hàng hóa ngoại nhập quí hiếm mà bình thường họ không thể có được.
Trong lúc đó, ba bộ lạc Do Thái tại Medina tỏ ra hết sức lo ngại vì những người Ả Rập Hồi Giáo quá hiếu chiến hiếu sát sẽ trở thành một mối nguy hiểm khó lường trong tương lai.
Tại Mecca cũng như tại khắp nơi trên bán đảo Ả Rập, tin tức về trận đánh ở Badr đã làm mọi người phải bàng hoàng vì sự tổn thất lớn lao về người và của mà Muhammad đã gây ra cho Mecca. Không riêng gì Mecca mà cả những bộ lạc Bedouin và Do Thái cũng phải e dè và chuẩn bị đối phó với Muhammad.
Muhammad và các tín đồ của ông không quan tâm đến những vấn đề nói trên. Trái lại, mọi người đều cảm thấy rất phấn khởi sau một chiến thắng lớn hơn dự tưởng. Muhammad càng thêm tin tưởng rằng Chúa đã phù hộ một cách đặc biệt cho đoàn quân Hồi Giáo của ông. Chính Thiên Chúa đã tiêu diệt người Mecca chứ không phải ông diệt họ. Diệt địch nhân danh Chúa là đặc quyền của người Hồi Giáo. Ông đã diễn đạt những ý trên trong kinh Koran như sau:
“Anh đã không giết người như anh nghĩ mà là Chúa đã giết họ. Khi anh quật ngã họ nhưng không phải do anh mà là Chúa đã quật họ. Đó là đặc quyền mà Chúa đã ban cho những tín đồ của Ngài”. (You did not slay the ennemies, but God slew them. When thou threw it was not thyself that threw, but God threw. And that He might confer on the believers a fair benefits – Koran 8:17).
Mặc dầu thực hiện những hành vi cướp của giết người nhưng Muhammad và các tín đồ vẫn tin tưởng mình có chính nghĩa và luôn luôn được Thiên Chúa phù hộ, cho nên dù cho quân số ít cũng vẫn có thể đánh thắng những kẻ địch đông hơn gấp bội.
Kinh Koran viết về điều này như sau:
” Nếu quân số của anh chỉ có hai mươi, nhưng đều là những người kiên cường, các anh sẽ chiến thắng hai trăm địch. Nếu quân số của anh có một ngàn, các anh sẽ chiến thắng hai ngàn địch. Đó là sự cho phép của Chúa”.
(If there be twenty of you – patient men.
You will overcome two hundred.
If there be one thousand of you.
You will overcome two thousand,
by the leave of God. God is with the patient – Koran 8:67)
Cái ý nghĩ cho rằng Thiên Chúa đứng cùng phe với mình trong các cuộc chiến tranh là một đặc tính trong truyền thống của các đạo thờ Thiên Chúa, bao gồm cả đạo Do Thái, đạo Ki Tô và đạo Hồi.
-Thánh kinh Cựu Ước Exodus của đạo Do Thái kể chuyện Mai-sen dẫn dân Do Thái đến Biển Đỏ thì được Chúa hóa phép cho nước biển rẽ sang hai bên tạo thành con đường cho dân Do Thái đi qua đáy biển an toàn. Liền sau đó thì đoàn quân của vua Pharaon Ai Cập ập tới để rượt bắt những người Do Thái. Khi đoàn quân Ai Cập đi xuống con đường dưới đáy biển thì Chúa hóa phép cho nước biển từ hai bên ập lại khiến cho đoàn quân Ai Cập bị chết đuối hết. Mai-sen và dân Do Thái quì xuống cảm ơn Chúa và xưng tụng Chúa là “Thiên Chúa của các đạo binh”
- Người Công Giáo cũng bắt chước người Do Thái tin rằng Thiên Chúa luôn luôn đứng về phe với họ để giúp họ chống lại mọi kẻ thù. Tại các buổi lễ ở nhà thờ, người Công Giáo luôn luôn đọc kinh trong đó có câu: “Thánh, Thánh, Thánh! Chúa là Thiên Chúa các đạo binh, vinh danh Chúa trên các tầng trời!”
Đối với Muhammad, mặc dầu ông dạy các tín đồ tin tưởng vào sự phù hộ đặc biệt của Chúa, nhưng ông là người rất thực tế nên làm việc gì cũng phải tính toán cẩn thận. Sau trận đánh ở Badr, Muhammad biết Mecca sẽ nhất định trả thù bằng cách kéo quân đến tấn công Medina. Do đó, việc trước tiên ông phải làm là đối xử tốt với các tù binh.
Trước hết, ông đích thân đi điểm mặt 70 tù binh. Ông nhận ra hai người trước đây đã nhục mạ ông khi ông giảng đạo tại Mecca. Ông ra lệnh cho quân lính mang hai người đó ra chợ chém đầu. Sáu mươi tám người còn lại được cởi trói nhưng đều bị nhốt trong nhà giam. Tất cả đều được cho ăn uống tử tế.
Trong đêm hôm đó, Muhammad không ngủ được vì cảm thấy thương ông chú ruột là Abbas và hai người em họ đã sống với ông trên mười năm tại nhà ông chú Abu Talib, đó là Aquil và Nawfal. Sáng hôm sau Muhammad ra lệnh phóng thích ba người này. Mấy hôm sau, nhiều thân nhân của các tù binh mang tiền hoặc vàng bạc đến Medina để xin chuộc mạng cho các tù binh.
Sau khi nghe tin chồng là Abu-Alas bị bắt làm tù binh ở Medina, Zaynab (con gái của Muhammad) vội gom tiền bạc và nữ trang rồi đưa cho anh của chồng là Amir đến Medina nộp tiền chuộc (ransom) cho Muhammad để lãnh Abu-Alas về. Trong số nữ trang Amir giao nộp có cái vòng đeo tay của bà Khadija thường đeo lúc còn sống, trước khi chết bà đã trao lại cho Zaynab. Vừa nhìn thấy chiếc vòng đó, Muhammad nhận ra ngay đó là chiếc vòng đầy kỷ niệm của người vợ yêu quí nhất đời của ông. Ông xúc động bật khóc rồi trả lại hết mọi thứ cho Amir. Ông cho gọi Abu Alas đến để yêu cầu người con rễ phải đưa Zaynab và đứa cháu ngoại đến Medina sống với ông. Trong lúc này tại Medina chỉ còn lại cô gái út tên Fatimah, 20 tuổi, là người thân duy nhất sống gần ông mà thôi. Sau khi Abu Alas hứa thực hiện lời ông yêu cầu, y liền được thả tự do.
Chỉ vài tuần lễ sau trận đánh Badr, tại Medina diễn ra hai đám cưới linh đình:
- Đám cưới thứ nhất của Fatimah và Ali. Ali là con trai út của ông chú Abu Talib. Khi ông Talib qua đời thì Ali mới 5 tuổi, Muhammad đem về nuôi từ đó đến nay. Ali và Fatimah đã sống với nhau chung một nhà từ nhỏ đến lớn nên rất hiểu nhau.
- Đám cưới thứ hai là của chính Muhammad và cô Hafsah, 18 tuổi, con gái của bạn Muhammad là Umar.
Năm 625, Muhammad 55 tuổi, cô vợ bé bỏng mà Muhammad yêu quí nhất là Aisha – con gái út của Abu Bakr – năm nay vừa tròn 11 tuổi. Mặc dầu còn nhỏ xíu nhưng Aisha cũng biết ghen với các bà vợ khác của Muhammad. Tuy nhiên, trong đám cưới này, Aisha không ghen với Hafsah mặc dầu Hafsah rất đẹp. Cô bé Aisha tuy còn nhỏ nhưng rất thông minh. Cô bé hiểu rằng: Cha cô là Abu Bakr cũng như cha của Hafsah là Umar đều đã gã con gái để kết thân với Muhammad. Từ mấy năm nay, Abu Bakr và Umar đã là hai cộng sự viên quan trọng nhất của Muhammad. Vì cùng hiểu như vậy nên Aisha và Hafsah trở thành đôi bạn chí cốt cho đến chết. Quả nhiên về sau Abu Bakr và Umar đều trở thành những người kế vị Muhammad và đều là những người then chốt nắm vận mạng của Hồi Giáo trong thời sơ khai.
Sau những tổn thất nặng nề tại Badr, giới lãnh đạo Mecca quyết tâm tăng cường binh lực để tiêu diệt căn cứ địa Medina của Muhammad. Một mặt Mecca thu phục các bộ lạc Bedouin thiện chiến làm đồng minh. Mặt khác Mecca ngấm ngầm liên lạc với ba bộ lạc Do Thái ở Medina làm nội ứng.
Điểm yếu của Mecca là nhiều chiến sĩ tài giỏi đã chẳng may tử trận tại Badr, nay chỉ còn lại một người có khả năng chỉ huy quân sự là Abu Sufyan.
Abu Sufyan vô cùng căm thù Muhammad vì hai con trai của ông và cha vợ của ông đều bị tử trận ở Badr. Từ tháng 3 năm 625, Sufyan bắt đầu mở chiến dịch phục thù. Trong một đêm, Sufyan dẫn 200 quân đến bố trí bên ngoài thành Medina, sau đó ông một mình đột nhập vào thành liên lạc với bộ lạc Do Thái Bani Nadir. Ông được bộ lạc này cung cấp nhiều tin tức về quân số và hệ thống phòng thủ của Muhammad. Trước khi trời sáng, Sufyan bắt hai người Hồi Giáo đem ra ngoài thành chém đầu rồi nổi lửa đốt đồng lúa trước khi rút lui. Đến khi Muhammad hay tin, đem quân đuổi theo thì đoàn quân của Sufyan đã phi ngựa chạy xa.
Sau vụ này, Muhammad cho toán tình báo của ông đi điều tra. Kết quả tình báo cho biết bộ lạc Do Thái Bani Nadir đã thông đồng với Abu Sufyan. Bộ lạc này có khoảng một ngàn người chuyên nghề thợ rèn và thợ thủ công. Mấy hôm sau, nhân một vụ xích mích giữa một nhóm người Do Thái với một nhóm người Ả Rập Hồi Giáo, kết quả của vụ ẩu đả là một người Do Thái và một người Ả Rập bị tử thương.
Muhammad nhân cơ hội này đem quân bao vây khu vực của bộ lạc Bani Nadir. Sau hai tuần lễ bao vây, Muhammad không thấy các bộ lạc Do Thái khác có phản ứng gì và cũng không thấy quân Mecca tới cứu đồng minh của họ. Tù trưởng bộ lạc Do Thái Bani Nadir không hy vọng được tiếp cứu nên phải đầu hàng và xin Muhammad tha mạng. Muhammad ra lệnh toàn thể bộ lạc Bani Nadir phải rời khỏi Medina và chỉ được mang theo các động sản gọn nhẹ. Tất cả nhà cửa ruộng vườn đều bị tịch thu.
Sau khi bộ lạc Do Thái Bani Nadir bị đuổi ra khỏi Medina thì tại ốc đảo này vẫn còn lại hai bộ lạc Do Thái khác là bộ lạc Aws và bộ lạc Khasraj.
Ngày 11 tháng 3 năm 625, Mecca quyết định mở cuộc tấn công Medina. Tổng số quân huy động được lên tới 3000 người với 3000 lạc đà và 200 ngựa, tất cả được đặt dưới quyền chỉ huy của Abu Sufyan. Cuộc chuyển quân bằng lạc đà đi rất chậm nên mất mười ngày đoàn quân mới tới gần Medina.
Muhammad hay tin nên đem một ngàn quân đi nghênh chiến tại Uhud, cách Medina 20 dặm về phía nam. Ngày 23-3-625, quân hai bên đối diện nhau tại Uhud. Điều đặc biệt là đằng sau đoàn quân của Sufyan còn có một đoàn quân phụ nữ gồm toàn những người có chồng, con trai hoặc cha bị tử trận ở Badr. Họ dàn hàng ngang phía sau các đoàn quân vừa đánh trống tambourines vừa ca hát để khích lệ tinh thần của các binh sĩ Mecca. Đoàn phụ nữ này được đặt dưới sự chỉ huy của bà Hind là vợ của Sufyan. Bà Hind thề trước đoàn quân là sẽ mổ bụng ăn gan của Hamzah, một quân sĩ của Muhammad bị nhận diện là người đã giết cha của bà Hind tại trận Badr.
Trong trận này, Muhammad và quân sĩ chỉ mãi lo đối phó với đoàn quân của Sufyan ở phía trước mặt mà không đề phòng ở phia sau lưng. Bất thần đoàn cung thủ của Sufyan đã núp sẵn ở những đụn cát phía sau tiến lên bắn như mưa vào đoàn quân Hồi Giáo. Sáu mươi lăm quân Hồi chết liền tại chỗ và hàng trăm người khác bị thương, trong đó có Muhammad. Vì Muhammad bị bất tỉnh nên quân Hồi lo rút lui để bảo vệ chủ tướng. Rất may là quân Mecca tuy đông gấp ba lần quân Hồi nhưng đã không truy kích. Quân Hồi phải để xác đồng đội ở lại chiến trường. Đoàn quân Mecca trả thù bằng cách cắt xẻo những xác chết của quân Hồi. Riêng xác của Hamzah bị quân Mecca mổ bụng moi gan để đưa cho vợ của Sufyan là bà Hind. Mụ này cắn một miếng ăn sống để thực hiện đúng với lời thề trước hàng quân trước đó.
Sau vụ thất trận bi thảm tại Uhud, tinh thần của cả cộng đồng Hồi Giáo (Umma) xuống thấp chưa từng thấy. Nhiều tín đồ trước đây đã nghe Muhammad thuyết giảng là Thiên Chúa đứng về phe của Hồi Giáo: “Hai mươi người đánh thắng hai trăm – Đó là đặc quyền Chúa ban cho các tín đồ của Ngài – Koran 8:17″. Nay giáo chủ bị thương bất tỉnh, quân bị chết nhiều và đoàn quân Hồi chưa kịp đánh đã phải rút chạy. Nhiều tín đồ tỏ ý thất vọng và coi trận Uhud là một dấu hiệu cho thấy Thiên Chúa đã bỏ rơi tiên tri Muhammad.
Mấy hôm sau, Muhamamad phục hồi sức khỏe, ông viết vào kinh Koran mấy câu thơ nhắc nhở tín đồ: “Các tín đồ không nên coi thất bại ở trận Uhud là dấu hiệu của Thiên Chúa đã ruồng bỏ tiên tri của ngài, hãy coi đó là dịp để xem ai là tín đồ chân chính và ai không là chân chính – Koran 3:13, 3:152″.
2. Harem của tiên tri tại Medina.-
Trận đánh Uhud ngày 23 tháng 3 năm 625 đã để lại chiến trường 65 xác người Hồi Giáo và tại Medina 65 người phụ nữ góa chồng. Vài tháng sau lại có thêm 50 người nữa bị quân Mecca phục kích giết chết. Kết quả là tại Medina đã có trên một trăm góa phụ. Đứng trước thảm cảnh này, Muhammad đã viết những câu thơ trong kinh Koran nhằm khuyến khích đàn ông Hồi Giáo lấy thêm vợ:
“Nếu thấy điều đó là tốt cho anh
Hãy lấy thêm hai, ba, bốn vợ”.
(Marry such women as seem good to you
two, three or four – Koran 4:3)
“Hãy lấy những người đàn bà không có chồng
ở trong cộng đồng của các người”.
(Marry the spouseless among you – Koran 24:33).
Khi viết những câu thơ có tính cách cổ vũ chế độ đa thê, Muhammad không hề nghĩ đến chuyện thỏa mãn dục tình một cách ích kỷ mà chỉ nghĩ đến một nhiệm vụ xã hội. Trong hoàn cảnh xã hội Ả Rập lúc đó các bà góa khó có thể sống một mình vì những người góa bụa cô đơn thường hay bị các kẻ gian lạm dụng hoặc bắt nạt. Do đó, các góa phụ rất cần phải có người đàn ông giúp đỡ và che chở.
Kinh Koran đòi hỏi những người đàn ông có nhiều vợ phải dành cho mỗi người vợ một số lượng thời gian bằng nhau và phải đối xử công bình như nhau. Trước biến cố này, Muhammad chỉ có 3 người vợ là Saudah (29 tuổi) Aisha (11 tuổi) và Hafsah (18 tuổi). Để thực hiện điều ông vừa viết trong kinh Koran, Muhammad lấy bà vợ thứ tư là Zaynab Kuzaymah, vợ góa của một chiến sĩ mới tử trận trong tháng giêng năm 624 tại Badr. Vài tháng sau ông cưới bà vợ thứ năm là Salamah 29 tuổi, vợ góa của người em họ. Nàng rất thông minh và khá xinh đẹp, về sau nàng là một cố vấn đắc lực cho Muhammad về nhiều phương diện.
Đến lần cưới bà vợ thứ sáu, Muhammad gặp phải những điều tai tiếng dị nghị và một số chuyện phiền phức khác. Vào đầu năm 626, Muhammad đến thăm người con nuôi tên là Zayd mà ông đã nuôi từ lúc còn nhỏ ở Mecca. Vợ của Zayd từ trong nhà chạy ra mở cửa để đón khách. Vì thấy Muhammad đến thăm bất ngờ nên nàng vỗ tay reo mừng và tỏ ra rất hân hạnh được đón tiếp Muhammad.
Vợ của Zayd tên Zaynab Jahsh, 30 tuổi, có một nét đẹp đặc biệt là rất mặn mà duyên dáng. Hôm gặp nàng ra mở cửa đón chào, Muhammad bị choáng váng trước vẻ đẹp của nàng nên đã nói những lời khen ngợi khiến cho nàng cảm động. Sau đó Zaynab nói thẳng với chồng là nàng muốn ly dị để lấy Muhammad nếu Muhammad đồng ý cưới nàng. Zayd rất đau khổ về chuyện này nhưng vì sau đó bị vợ thúc ép nên Zayd đành phải đến gặp Muhammad để hỏi xem Muhammad có muốn lấy Zaynab làm vợ không. Muhammad trả lời đồng ý nên Zayd về làm thủ tục ly dị vợ.
Mấy bữa sau, một đám cưới linh đình được tổ chức, Zaynab Jahsh từ vị trí con dâu (nuôi) trở thành vợ của người cha nuôi chồng cũ.
Trong tiệc cưới có nhiều người đàn ông đến tham dự đã ở nán lại quá lâu để chiêm ngưỡng sắc đẹp mặn mà của cô dâu đặc biệt này. Muhammad muốn đuổi họ về nhưng lại không muốn làm mất lòng họ. Vì không thấy Muhammad nói gì nên những người đàn ông đó đã đến sát gần các bà vợ của Muhammad và nói chuyện một cách xàm sỡ. Muhammad thấy cần phải có biện pháp ngăn cách những người đàn ông đầy dục vọng này tách rời khỏi các bà vợ trẻ đẹp của ông. Muhammad đã viết những câu thơ để diễn đạt ý này như sau:
“Các tín đồ đừng nên vào nhà của Tiên Tri
để dùng bữa mà không để ý đến giờ giấc thích hợp
Trừ khi các người được Tiên Tri cho phép
Nếu các người được Tiên Tri mời thì cứ vào ăn
Nhưng khi ăn xong thì giải tán
Đừng nói chuyện quá nhiều làm phiền lòng Tiên Tri
Vì ngài rất ngượng phải đuổi các người đi
Nếu các người muốn hỏi những người vợ của Tiên Tri về bất cứ chuyện gì. Hãy nói chuyện với họ đằng sau tấm mạng che mặt. Điều này làm cho trái tim của các người và của các nàng được thanh khiết”.
(Believers! do not enter the house of the Prophet
For a meal without waiting for the proper time
Unless you are given leave.
But if you are invited, enter.
When you have eaten, disperse.
Do not engage in familiar talk
For this would annoy the Prophet
And he would be ashamed to bid you go
If you ask his wives for anything, speak to them from behind a curtain (hijab) .This is more chaste for your hearts and their hearts – Koran 33: 53)
Mấy câu thơ trên đây rất nổi tiếng trong thế giới Hồi Giáo. Người ta gọi là “Những câu thơ của bức màn che” (The Verses of the curtain). Bức màn che đó chính là tấm mạng che mặt (veil) của phụ nữ Hồi Giáo, tiếng Ả Rập gọi là HIJAB. Thông thường thì tấm vải này có màu đen và đủ rộng để che kín đầu, tóc, phủ đến vai và che kín cả mặt, chỉ chừa khoảng trống nhỏ ở đôi mắt để người phụ nữ có thể nhìn đường. Cũng từ khi có mấy câu thơ đó xuất hiện, các bà vợ của Muhammad đều phải che mạng mỗi khi bước chân ra khỏi nhà hoặc khi tiếp chuyện với mọi người ngoài gia đình. Đó cũng là khuôn vàng thước ngọc về việc đeo mạng của phụ nữ trong thế giới Hồi Giáo sau này!
Đầu năm 627, Aisha 13 tuổi, nàng bắt đầu đến tuổi dậy thì nên bỗng nhiên trổ mã lớn vượt lên và đẹp hẳn ra. Muhammad yêu thích Aisha hơn tất cả các cô vợ khác nên đi đâu ông cũng mang theo Aisha. Thậm chí có một hôm Muhammad mang quân đi phục kích để chận đánh bộ lạc Do Thái Bani trên bờ biển Hồng Hải, ông cũng dẫn Aisha đi theo bên mình.
Sau trận tấn công vũ bão của Muhammad, bộ lạc Do Thái Bani bỏ chạy tán loạn, Lịch sử không nói tới số thương vong của họ là bao nhiêu, chỉ nói họ đã để lại chiến trường 2000 lạc đà, 5000 con cừu và 200 phụ nữ. Muhammad tuyển chọn một cô đẹp nhất tên là Juwayriah để lấy làm vợ. Số phụ nữ còn lại sẽ được trả tự do sau khi thân nhân của họ mang tiền đến chuộc.
Trên đường từ mặt trận trở về Medina, tại một nơi nghỉ chân, Aisha lẻn xuống khỏi kiệu trên lưng lạc đà để đi vệ sinh. Lúc trở lại chỗ cũ thì đoàn quân đã đi khỏi. Trong lúc nàng đang lo sợ thì có một thanh niên tên Safwan là lính hậu vệ của đoàn quân từ phía sau đi tới, Aisha vội lật cái mạng của nàng ra để Safwan nhận diện. Safwan không còn cách nào khác hơn là bế nàng lên lưng lạc đà của chàng để cả hai người cùng cưỡi về Medina.
Khi thấy Safwan và Aisha cùng ngồi trên lưng lạc đà về Medina một lúc sau khi cả đoàn quân đã trở về hết, mọi người ở Medina bắt đầu bàn tán về đức hạnh của Aisha. Muhammad tức giận nổi ghen và không muốn nhìn mặt Aisha nữa. Aisha quá đau khổ vì bị hiểu lầm nên sinh bệnh. Trong lúc đang đau khổ mà không thể giải bày thì Aisha nghe thấy Ali nói với Muhammad rằng: “Trên đời này thiếu gì đàn bà, cha có thể lấy người vợ khác tốt hơn”. Câu nói của Ali như nhát dao đâm thấu tim của Aisha và sau này Aisha sẽ không tha thứ cho Ali.
(Ba mươi năm sau, khi Ali lên làm vua (Caliph) của Hồi Giáo thì Aisha lãnh đạo một cuộc cách mạng chống Ali).
Mấy hôm sau, Muhammad suy nghĩ lại và chợt hiểu ra rằng Aisha chỉ là một cô bé ngây thơ vô tội nên ông đã làm hòa với Aisha. Cha mẹ Aisha thấy vậy rất vui mừng nên khuyên Aisha cám ơn Muhammad. Aisha thẳng thắn trả lời: “Con không cám ơn ai hết, kể cả tiên tri Muhammad. Con chỉ cám ơn một người duy nhất là Thiên Chúa”. Muhammad nghe vậy rất cảm phục Aisha vì nàng tuy nhỏ nhưng đã tỏ ra là có bản lãnh vững vàng, có đức tin mạnh và không hề sợ hãi. Từ đó cho đến lúc chết, Muhammad không yêu ai hơn yêu Aisha.
Vì tình cảm thiên vị của Muhammad dành cho Aisha quá lộ liễu nên các cô vợ khác của Muhammad ghen tuông và khiếu nại, viện cớ kinh Koran dạy người chồng phải đối xử công bằng với các bà vợ. Từ đó ông phải theo thứ tự ngủ đêm tại mỗi phòng với một cô. Mỗi khi đi đâu, ông phải rút thăm để biết ai là người sẽ cùng đi với ông trong cuộc hành trình. Tuy nhiên, mỗi khi Muhammad đến đền thờ để giảng đạo thì chỉ có một người duy nhất luôn luôn ở bên cạnh ông là Aisha. Ông nói với mọi người rằng Aisha cũng có ơn mặc khải của Thiên Chúa giống như ông. Một hôm cô con gái cưng của Muhammad là Fatimah khuyên cha không nên quá gần gũi với Aisha. Muhammad hỏi lại: “Chẳng lẽ con không yêu người cha yêu quí nhất hay sao?”.
Sau khi Muhammad qua đời, Aisha trở thành người quan trọng nhất về giáo lý và luật pháp của Hồi Giáo.
3. Vụ thảm sát 700 người Do Thái tại Medina.-
Tháng 3 năm 627, Mecca huy động 10.000 quân với dự tính phá tan căn cứ địa Medina của Muhammad. Trong khi đó, Muhammad cũng đã chuẩn bị đối phó bằng cách mua chuộc một số quân thiện chiến của bộ lạc Bedouin. Nhờ đó quân số chiến đấu của Muhammad đã lên tới 3000 người. Điểm lợi nhất cho Muhammad là căn cứ địa Medina được thiên nhiên bảo vệ ba phía bằng những sườn núi nham thạch rất dốc. Chỉ còn một phía duy nhất trống trải là phia bắc của ốc đảo mà thôi.
Vì biết trước việc Mecca sắp tấn công nên Muhammad ra lệnh cho các tín đồ gặt lúa và tích trữ lương thực. Sau đó ông huy động toàn dân ở Medina đào một cái hào thật sâu suốt dọc phía bắc của ốc đảo. Số đất đào được đắp thành lũy cao. Đây là một phương cách phòng thủ chưa từng thấy ở Ả Rập. Sáng kiến này do một tín đồ Hồi Giáo gốc Ba Tư là Salman đưa ra. Hào sâu sẽ chận đứng bước tiến của các đoàn kỵ binh của địch vì ngựa không thể nhảy qua để tiến vào ốc đảo. Lũy cao sẽ là cái lá chắn hữu hiệu các loạt tên của địch, trái lại, quân Hồi Giáo có núp sau lũy để bất thần bắn ra những loạt tên để diệt địch.
Ngày 31-3 năm 627, mười ngàn quân Mecca kéo tới Medina. Khi đến trước cửa ngõ phia bắc của ốc đảo, các đoàn quân của Mecca đều phải khựng lại vì ngựa cũng như người đều không thể vượt qua hào sâu lũy cao. Trong khi đó, quân của Muhammad núp trên lũy cao bắn tên xuống như mưa gây nhiều thương vong cho quân Mecca. Quân Mecca không còn cách nào khác hơn là rút ra xa khỏi tầm tên bắn để đóng quân bao vây. Sau 3 tuần lễ bao vây, quân Mecca bị cạn hết lương thực và nước uống. Người, ngựa và lạc đà đều bị đói và khát nên không thể ở lại lâu hơn, cuối cùng cả đoàn quân 10.000 người đành phải âm thầm rút lui.
Trước khi có vụ tấn công của Mecca, tin tình báo đã cho Muhammad biết về những âm mưu của bộ lạc Do Thái Aws làm nội ứng cho Mecca để chống lại Hồi Giáo. Sau khi đoàn quân của Mecca đã rút hết, Muhammad quyết định phải tiêu diệt bộ lạc Aws để trừ hậu hoạn. Ông ra lệnh cho các tín đồ đào một cái hố lớn tại chợ Medina. Sau đó ông trực tiếp chỉ huy cuộc bao vây khu vực của bộ lạc Aws để bắt hết mọi người đàn ông của bộ lạc này. Chỉ có một số rất ít người Do Thái được các tín đồ Hồi Giáo xin với Muhammad cho tha mạng, số còn lại khoảng 700 người đàn ông Do Thái bị trói từng người và bị đưa ra cái hố lớn ở giữa chợ Medina để chém đầu. Sau đó, các xác chết được xô xuống hố lấp lại thành một nấm mồ tập thể.
Trong vụ thảm sát này có một người đàn bà duy nhất bị chém đầu. Đó là người đàn bà Do Thái bị người Hồi Giáo tố cáo là đã lợi dụng lúc quân Mecca bao vây Medina để ném đá vào người Hồi Giáo.
Về sau, Aisha đã kể chuyện về người đàn bà Do Thái này như sau: “Bà ta đến nói chuyện với tôi trong khi Muhammad đang tàn sát người Do Thái ở chợ Medina. Rồi đột nhiên người ta đến bắt bà ấy. Tôi ngạc nhiên hỏi: “Có chuyện gì xảy ra cho bà vậy?” Bà ta bình tĩnh trả lời: “Người ta đem tôi đi chém đầu”. Tôi liền hỏi: “Về tội gì?”. Bà ta đáp: “Về một việc mà tôi đã làm”. Liền sau đó bà ta bị chặt đầu tại chợ. Aisha kể tiếp: “Tôi sẽ không bao giờ quên được người đàn bà Do Thái can đảm phi thường – Bà ta vẫn cười trong lúc bị lôi đến pháp trường để chém đầu”. Vợ con của 700 người bị chém đầu đều bị trói đem đi bán ở các chợ nô lệ.
(Muhammad, a biography of the prophet, by Karen Amstrong – Chapter 8, 164-210).
GIAI ĐOẠN SAU (627-632) TẠI MEDINA
Sau năm năm đầu chiếm cứ Medina (622-627), Muhammad và cộng đồng Hồi Giáo đã gây ra nhiều cuộc đột kích đẫm máu để tấn công các đoàn thương buôn của Mecca nhằm mục đích cướp ngựa, lạc đà, vũ khí, tiền bạc và đủ loại hàng hóa vừa để sống còn tại ốc đảo Medina vừa để tăng cường lực lượng quân sự. Sau vụ trục xuất bộ lạc Do Thái Bani và vụ tàn sát bộ lạc Do Thái Aws, danh tiếng của Muhammad được loan đi khắp vùng và ai cũng phải nể sợ. Các bộ lạc Bedouin trước đây là đồng minh với Mecca, nay sợ sẽ bị Muhammad trả thù nên tuyên bố không liên kết với Mecca nữa.
Trong tình hình thuận lợi hiện tại, Muhammad quyết định: Trước hết thống nhất tất cả các bộ lạc Ả Rập thành một quốc gia. Bộ lạc nào tách rời sẽ bị trừng phạt. Sau đó sẽ chiếm thành phố Becca làm thủ đô phát triển đạo Hồi.
Tuy chưa phải là một quốc vương nhưng Muhammad đã viết thư và sửa soạn những món quà quí giá rồi cử nhiều phái đoàn đến yết kiến các hoàng đế của đế quốc Byzantine và đế quốc Ba Tư, các vua Ai Cập và Ethiopia.
Sau đó ông gửi thư đến các bộ lạc Ả Rập, không phân biệt họ theo tôn giáo nào. Trong thư ông nhấn mạnh: “Đạo Do Thái là đạo của con cháu Jacob, đạo Hồi là đạo của con cháu Ismael. Kinh Thánh Cựu Ước bằng tiếng Hebrew của Do Thái, Tân Ước bằng tiếng Hy Lạp của Ki Tô Giáo, Kinh Koran bằng tiếng Arabic là Kinh Thánh của người Ả Rập”. Ông không yêu cầu mọi người theo đạo Hồi nhưng yêu cầu tất cả các bộ lạc Ả Rập gia nhập “Cộng Đồng Ả Rập”, tương tự như “umma” ở Medina. Sau thư mời nói trên, nhiều bộ lạc Ả Rập xin gia nhập “umma”, đặc biệt là các bộ lạc Bedouine. Chỉ còn lại 3 bộ lạc không chiu gia nhập là các bộ lạc Asad, Thalabah và Sad. Từ cuối năm 627 đến cuối năm 628, Muhammad mang quân đi tấn công để trừng phạt 3 bộ lạc nói trên.
Cũng trong thời gian này, Muhammad mở những cuộc tấn công các đoàn thương mại Mecca với chủ đích phá vỡ hoàn toàn thế độc quyền thương mại của thành phố này với các xứ phương Bắc. Để chính thức cạnh tranh với Mecca, Muhammad lập các đoàn lữ hành tải hàng từ Medina đi bán ở Syria và Ba Tư, sau đó mua các hàng quí hiếm của ngoại quốc đem về Medina để biến ốc đảo này trở nên một thành phố sầm uất.
Trong một vụ phục kích cướp hàng của Mecca, không ngờ chuyến hàng đó là của Abu Alas, con rễ của Muhammad. Trước đây, Abu Alas không chiu theo đạo Hồi nên vẫn ở lại Mecca và không theo vợ con đến Medina. Sau vụ bị cướp hết hàng này, Abu Alas buộc lòng phải đến Medina gặp vợ là Zaynab nhờ can thiệp. Zaynab đến gặp cha để xin lại số hàng cho chồng. Muhammad đồng ý với điều kiện Abu Alas phải về ở hẳn tại Medina đoàn tụ với vợ con. Sau đó Abu Alas được trả toàn bộ số hàng hóa đưa về Mecca bán rồi trở lại Medina theo đạo Hồi để được sống yên ổn với vợ con.
Đầu năm 628, nhân dịp tháng ba là tháng hành hương đền thờ Kaaba tại Mecca theo tục lệ cổ truyền của các dân tộc Ả Rập. Muhammad báo trước cho Mecca biết ông sẽ hướng dẫn 1000 tín đồ đến hành hương tại đền thờ Kaaba và không mang theo vũ khí, chỉ đem theo 70 con lạc đà để làm lễ hy sinh (animal sacrifice) mà thôi. Mặc dầu tuyên bố không mang theo vũ khí nhưng tất cả mọi tín đồ của Muhammad đều dấu trong áo choàng những đoản kiếm và dao găm đề phòng bất trắc.
Khi đoàn người của Muhammad đến gần Mecca thì bị viên chức cao cấp của thành phố là Khalid dẫn 200 kỵ binh ra ngăn chặn không cho vào thành phố. Muhammad cảnh cáo Khalid không nên tấn công đoàn người của ông, nếu tấn công sẽ bị đánh trả đích đáng. Khalid đành nhượng bộ và để cho đoàn người của Muhammad tự do đến đền thờ Kaaba.
Đầu năm 629, một số bộ lạc Do Thái ở những ốc đảo phía Bắc Medina tỏ ra thù ghét Muhammad. Muhammad quyết định mang 600 quân đến bao vây thị trấn ở gần nhất là Khaybar. Thị trấn này được bảo vệ bởi một hệ thống thành lũy và 7 pháo đài. Trước hết, Muhammad để quân bao vây thị trấn này trong một tháng. Sau đó quân Hồi bất thần tấn công và triệt hạ từng pháo đài một. Cuối cùng mọi bộ lạc Do Thái ở đây xin đầu hàng, nộp một nửa các huê lợi chà là ngũ cốc và xin được làm chư hầu của Medina.
Những bộ lạc Do Thái ở kế cận Khaybar đều xin ký hòa ước thần phục Muhammad. Một tù trưởng Do Thái ở thị trấn Fadak tên là Huyay muốn cầu thân với Muhammad nên đã gả cho Muhammad cô con gái út 17 tuổi rất đẹp tên là Safyah.
Cũng trong thời gian này, người anh họ của Muhammad qua đời, Muhammad lấy vợ của anh ta tên là Ramlah. Do những cuộc hôn nhân xảy ra dồn dập sau này nên harem của Muhammad đã trở nên khá đông. Các bà vợ của Muhammad chia thành hai phe. Phe trẻ gồm có Aisha 15 tuổi, Hafsah 17 tuổi và Safyah 17 tuổi tạo thành bộ ba (The Trio) tách rời và chống lại các “bà già” của Muhammad!
Tháng 3 năm 629, Muhammad tổ chức cuộc hành hương đền thờ Kaaba với 2600 người tham dự. Lần này đến Mecca, đoàn người của Muhammad không gặp một sự cản trở nào cả. Nhân dịp này, Muhammad tình cờ gặp lại người chú họ tên là Abbas cùng đi hành hương với cô em gái rất đẹp tên là Maymunah. Muhammad xin cưới người cô họ này và tổ chức đám cưới ngay tại Mecca. Lợi dụng tiệc cưới làm cơ hội giải hòa, Muhammad mời tất cả các kẻ thù của ông tại Mecca đến dự tiệc cưới. Không ngờ người chỉ huy quân sự cao cấp nhất ở Mecca là Khalid nhận lời mời đến dự tiệc cưới của Muhammad. Sau tiệc cưới, Khalid tự nguyện xin theo đạo Hồi. Đây là thành công bất ngờ và hết sức lớn lao của Muhammad.
Khi phái đoàn 2600 người vào làm lễ tại đền thờ Kaaba, Bilal là người da đen đầu tiên theo đạo Hồi đã leo lên nóc đền thờ Kaaba kêu gọi mọi người cầu nguyện ba lần một ngày. Đến đêm cuối cùng của chương trình hành hương, toàn thể 2600 người lặng lẽ rút êm ra khỏi thành phố mà không ai hay biết. Muhammad cố ý thực hiện điều này để cho dân Mecca biết rằng Cộng Đồng Hồi Giáo là một tập thể gắn bó với nhau bằng đức tin, có tổ chức chu đáo với tinh thần kỷ luật rất cao.
Khalid đi theo Muhammad về Medina. Trước đây Khalid là vị tướng chỉ huy quân Mecca đối đầu với Muhammad tại các trận Uhud và trận Trench (hào lũy). Muhammad hết sức vui mừng đón nhận Khalid. Từ đó Khalid trở thành một trong những dũng tướng của Muhammad tại Medina.
Cuối năm 629, Muhammad làm một cuộc mạo hiểm đầy tham vọng là đánh chiếm xứ Syria. Ông sai Khalid, Zayd và Jafar dẫn 3000 quân tinh nhuệ và vũ trang hùng hậu đi thử thời vận. Khi tới biên giới Syria, quân thám báo của Khalid cho biết đế quốc Byzantine có 10.000 quân tại đây. Khalid không dám đối đầu nên đành rút quân về Jordan dừng chân. Đế quốc Byzantine cho rằng quân Hồi đã dám vô cớ kéo đến khiêu khích nên cho quân truy kích đến tận Jordan. Sau một trận đánh không cân sức, quân Hồi bị giết rất nhiều, trong số đó có Zayd (con nuôi của Muhammad) và Jafar. Khalid dẫn đám tàn quân trở lại Medina. Muhammad rất đau buồn vì đã tính sai nước cờ. Trong thời gian đó có một chuyện vui cho riêng Muhammad. Vua Muquaquis của Ai Cập gửi tặng cho Muhammad một cô gái nô lệ gốc Ai Cập rất đẹp tên là Myriam. Cô này theo đạo Ki Tô Chính Thống (Coptic Christian) Muhammad say mê sắc đẹp của Myriam đến nỗi ông bỏ bê tất cả các cô khác. Do vậy mà cơn sóng gió trong harem nổi lên. Ít lâu sau, Myriam mang bầu và sinh ra một đứa bé trai kháu khỉnh. Muhammad đặt tên là Ibrahim (tức Abraham). Ngoài Myriam ra không có một cô nào trong harem sinh con cho Muhammad nên ông càng say mê Myriam hơn nữa.
Aisha, Hafsa và Safyah tổ chức một cuộc nổi loạn trong harem. Mũi dùi tấn công chĩa vào Myriam. Cuộc chiến tranh giữa những người vợ khiến cho Muhammad chịu không nổi nên ông đành phải ngủ đêm tại sàn nhà của đền thờ. Sau đó ông cất một căn gác nhỏ gần nơi đền thờ để mỗi đêm leo lên đó nằm chèo queo một mình. Ông cảm thấy có nhiều vợ cũng chẳng vui sướng gì và ông muốn xa rời tất cả các bà vợ trẻ đẹp của mình. Tuy nhiên, ông cũng không muốn các bà vợ của ông rơi vào tay kẻ khác sau khi ông qua đời. Do đó, ông viết vào kinh Koran mấy vần thơ để qui định hai điều sau đây:
1. Hãy gọi các bà vợ của tiên tri là “các bà mẹ của các tín đồ” (Mothers of the faithful).
2. Sau khi tiên tri qua đời, các bà vợ của Ngài không được lấy chồng khác.
(The Prophet has a greater claim on the faithful than they have on themselves and his wives are their mothers – Koran 33: 6 / Nor that you should marry his wives after him ever, surely this is grievous in the sight of Allah – Koran 33: 53).
Nhân dịp mùa chay Ramadan trong tháng giêng năm 630, Muhammad tổ chức một cuộc hành hương vĩ đại tại Mecca với sự tham dự của 10.000 tín đồ có võ trang.
Muhammad báo trước cho Mecca biết điều đó. Lãnh đạo tối cao của Mecca lúc đó là Abu Sufyan tự xét không đủ sức chống lại Muhammad nên khuyên mọi người không chống cự. Chỉ có ba tù trưởng của ba bộ lạc Ả Rập thù ghét Muhammad quyết tâm chống lại. Khi đoàn quân hành hương của Muhammad đến cổng thành Mecca thì ba tù trưởng Ikrimah, Swafan và Suhayl mang quân ra nghênh chiến. Nhưng chỉ trong khoảnh khắc, đoàn quân Hồi Giáo dưới sự chỉ huy của Khalib đã dẹp tan đoàn quân của các bộ lạc thù địch. Các tù trưởng Ikrimah và Safwan bỏ trốn. Tù trưởng Suhayl đầu hàng. Đoàn quân 10.000 người của Muhammad tràn vào chiếm thành phố Mecca không tốn một giọt máu.
Muhammad căng lều sát cạnh đền thờ Kaaba để làm chỗ trú ngụ cho ông cùng với hai người vợ. Ngoài ra còn có Fatimah là con gái út của ông và chồng là Ali.
Sau khi tất cả mọi người đều tắm rửa sạch sẽ, Muhammad cùng với 10.000 chiến sĩ đi vòng quanh đền thờ Kaaba 7 vòng. Bảy vòng này tượng trưng cho 7 tầng của Thiên Đàng. Trong đền thờ có Tảng Đá Đen linh thiêng, cứ đi một vòng thì Muhammad chạm tay vào hòn đá đen một lần. Mỗi lần chạm tay vào hòn đá đen như vậy, Muhammad kêu to lên: “Al-lah Akbar” (Vinh Danh Thiên Chúa). Mười ngàn tín đồ hô theo vang dội như lời reo mừng chào đón chiến thắng cuối cùng của đạo Hồi trên thành phố Mecca.
Sau khi đi hết 7 vòng quanh đền thờ Kaaba, Muhammad và tùy tùng leo lên nóc đền thờ đập nát 360 tượng thần. Bên trong đền thờ có một số tranh vẽ trên tường cũng bị phá hủy, ngoại trừ những bức tranh vẽ hình Chúa Jesus được giữ lại mà thôi. Những bức hình Chúa Jesus có thể đã được những người Ki Tô Giáo vẽ trong đền thờ dưới thời vương quốc Abyssinia cai trị bán đảo Ả Rập từ 525 đến 570.
Sau khi chiếm Mecca bằng một phương cách hòa bình, Muhammad ban hành lệnh ân xá cho tất cả mọi người đã chống Hồi Giáo, ngoại trừ 10 người có nợ máu quá nặng, trong số đó có mụ Hind (vợ của Sufyan) đã từng mổ bụng ăn gan Hamzah (một chiến sĩ Hồi Giáo bị tử thương ở Uhud).
Khi mụ Hind bị bắt đưa đến trình diện Muhammad, mụ đã khôn khéo thưa rằng: “Kính thưa tiên tri, ngài là sứ giả của Thiên Chúa, bây giờ ngài không thể lên án phạt tôi vì tôi đã tuyên xưng đức tin Hồi Giáo”. Muhammad tươi cười trả lời: “Tất nhiên là mụ đã được trả tự do”.
Muhammad đã tha tội chết cho mụ Hind một phần vì mụ đã nhận theo Hồi, nhưng phần quan trọng hơn là vì chồng của mụ (Abu Sufyan) đã có công lớn trong việc thuyết phục thành phố Mecca không chống cự Muhammad nên ông mới có thể chiếm Mecca một cách dễ dàng như vậy. Muhammad đã thưởng công rất lớn cho kẻ thù cũ là Abu Sufyan bằng cách giao cho y và gia đình nắm giữ các chức vụ quan trọng của thành phố Mecca. Sau này con cháu của Sufyan đã lập nên triều đại Ummayad, đóng đô tại Damacus (Syria) và truyền ngôi qua 14 đời vua.
Một nhân vật khác bị Muhammad thù ghét và lên án tử hình là Abdallah, anh nuôi của Uthman. Khi biết mình có tên trong sổ đen của Muhammad, Abdallah đã đến nhờ Uthman can thiệp xin tha mạng. Uthman là người thân tín của Muhammad đã dẫn Abdallah đến gặp chủ tướng. Muhammad chẳng những tha mạng mà còn tin dùng Abdallah. Về sau, Abdallah trở thành một nhân vật quan trọng trong Hồi Giáo.
Sau khi chiếm thành phố Mecca vào tháng giêng năm 630, Muhammad sáp nhập quân của thành phố này với quân của Medina để thành lập một đạo quân Hồi Giáo lên tới 30.000 ngưòi. Tháng 10 năm 630, Muhammad cùng Abu Sufyan dẫn đoàn quân này đến thành phố Tabuk, cách Medina 250 dặm về phía bắc. Muhammad cho quân nghỉ dưỡng sức 10 ngày tại thành phố này. Sau đó, Muhammad và Sufyan xua quân tấn công một tiểu quốc của đế quốc Byzantine. Vua của tiểu quốc này là Yuhunna xin đầu hàng và xin thần phục Muhammad. Các cộng đồng Ả Rập và Do Thái tại Jarba và Adruh (tức xứ Jordan ngày nay), đều xin làm chư hầu của Muhammad.
Tháng giêng năm 631, tất cả các bộ lạc trên bán đảo Ả Rập bao la (gấp 8 lần diện tích Việt Nam) đều được đặt dưới sự cai trị của Muhammad.
Đến đầu năm 632, nhiều chiến sĩ Hồi Giáo cảm thấy mỏi mệt vì những cuộc chinh chiến liên miên trong nhiều năm qua. Muhammad cổ võ tinh thần mọi người với lý luận cho rằng những cuộc chinh chiến đó cốt để thực hiện Ý Chúa (God’s Will). Việc thực hiện ý Chúa trong lịch sử loài người không bao giờ ngừng nên người Hồi Giáo phải luôn luôn tiếp tục chiến đấu.
Cuộc chiến đấu để truyền đạo lúc đầu luôn luôn bằng phương tiện quân sự và chính trị để dẫn đến sự phục tòng tôn giáo. Hồi Giáo có nghĩa là phục tòng (Islam means submission). Khi Hồi Giáo toàn trị trên một xã hội phục tòng tôn giáo thì đó là một xã hội hòa bình, nói đúng hơn là Hòa Bình Hồi Giáo (Pax Islamica). Muhammad chú ý thực hiện cuộc chiến đấu trên cả hai mặt: quân sự và tôn giáo.
Về quân sự, Muhammad trông cậy vào Abu Sufyan và Khalid. Về tôn giáo, Muhammad chú trọng thuyết giảng cho bốn người chủ yếu là Abu Bakr, Umar, Uthman và Ali. Trong bốn người này, Muhammad yêu thương nhất Ali vì Ali là con út của ông chú Abu Talib đã nuôi Muhammad từ nhỏ đến lớn. Cũng vì yêu thương Ali nên ông đã gả con gái út là Fatimah cho Ali. Vợ chồng Ali có hai đứa con trai tên là Hassan và Husayn. Muhammad cũng rất yêu thương hai đứa cháu ngoại này. Ông thường làm ngựa cho hai đứa cháu cưỡi trên lưng chạy khắp nhà. Sau này, hai đứa cháu ngoại của Muhammad bị phe Hồi Giáo Sunni giết chết và trở thành hai vị đại thánh tử đạo của giáo phái Shiite. Người Chàm ở Việt Nam theo đạo Hồi có nơi thờ Ali và đọc kinh cầu nguyện xưng tụng Ali là con của Thiên Chúa (Son of God).
Đầu năm 632, đứa con trai út của Muhammad với cô gái Ai Cập Myriam bị bệnh chết. Muhammad khóc lóc thảm thiết. Ông cũng linh cảm sắp chết nên nói với mọi người: “Tôi sắp đoàn tụ với đứa con trai yêu quí của tôi”. Cuối tháng 2 năm 632, Muhammad yêu cầu mọi người cùng các bà vợ đưa ông đến viếng đền thờ Kaaba ở Mecca lần cuối cùng.
Sau khi viếng Kaaba, ông yêu cầu mọi người đưa ông lên núi Arafat. Tại đây ông giảng bài giảng giã từ (Farewell Sermon) nhấn mạnh: Mọi tín đồ Hồi Giáo là anh em (Muslims are brethen).
Sau đó, Muhammad được đưa trở về Medina. Từ đó ông bị chứng đau đầu liên miên. Chứng đau đầu có thể do hậu quả của lần ông bị thương nơi đầu trong trận Uhud trước đây. Các bà vợ đều lo lắng chăm sóc Muhammad nhưng ông yêu cầu đưa ông về phòng của Aisha. Lúc này Aisha vừa tròn 18 tuổi. Nàng đặt ông gối đầu lên đùi của nàng và nàng yêu cầu cha ruột là Abu Bakr đọc kinh cầu nguyện cho tiên tri.
Ngày 18 tháng 6 năm 632, Muhammad trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay của Aisha.
Khi hay tin Muhammad qua đời, nhiều phụ nữ tại Medina than khóc thảm thiết, nhiều người khác hướng mặt về đền thờ cầu nguyện.
Trước khi Muhammad qua đời, ông không hề dự liệu cắt cử người kế nhiệm. Nay sự việc ông mất xảy ra quá đột ngột đã khiến cho cả cộng đồng lúng túng không biết phải bầu chọn ai. Ali là người thân của Muhammad nhưng vì quá trẻ nên không được bầu. Abu Badr lớn tuổi và có uy tín nhất đã được cộng đồng bầu lên làm người đầu tiên kế vị Muhammad. Abu Badr được coi như là vị giáo chủ giáo phái Sunni (Đa Số) của Hồi Giáo./.

http://nghiencuulichsu.com/2014/07/16/than-the-su-nghiep-cua-muhammad/

Thứ Sáu, 11 tháng 7, 2014

Liệu có thành quy luật: Mỗi đại án nướng một vài tướng Công an?




Vụ Dũng “tổng” nướng tướng Oánh, tướng Quắc. Vụ Năm Cam nướng tướng Huy, tướng Nhất. Hiện, nhiều đồng chí vẫn rình rập đòi nướng nốt tướng Việt Thành. Vụ Dũng “chàm” Vinalines nướng tướng Ngọ. Vào những phút cho đá bù giờ, đồng chí Dũng còn tố thêm một tiểu tướng và một đại tướng nữa. Số phận các cụ này vẫn còn là ẩn số và phụ thuộc vào những dàn xếp trên sân khấu chính trị Đại hội tới. Vụ bầu Kiên, cũng vẫn phút 92 bù giờ, đồng chí này đi bóng ngoạn mục rồi co chân sút thẳng vào khung thành tướng Thịnh Bộ Công an (Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ CA, Cục trưởng C46).
Nói về vụ bầu Kiên lại phải lần giở về Nghị quyết Trung ương 4 phòng, chống tham nhũng, lãng phí, những hiện tượng cục bộ, lợi ích nhóm, hư hỏng, suy thoái biến chất trong cán bộ đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, rồi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, rồi quyết định đưa 10 vụ án vào diện Ban theo dõi, đôn đốc, chỉ đạo (trong đó có vụ bầu Kiên), rồi Quyết định 17-QĐ/BCĐTW thành lập 07 Đoàn công tác kiểm tra, giám sát việc thanh tra, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ việc, vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm.
Đoàn công tác số 3 (được giao địa bàn phức tạp nhứt) do cụ Thanh, Phó Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương làm Trưởng đoàn, làm việc tại Bộ Công an, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, Tòa án Nhân dân tối cao.
Trong đấu tranh chống tham nhũng (trong đó có các vụ việc nghiêm trọng dư luận xã hội quan tâm), cơ quan chỉ đạo là Ban Chỉ đạo PCTN mà cụ Trọng là Trưởng Ban, cụ Thanh là Phó Ban thường trực. Các cụ khác như cụ Chủ Tịch nước, cụ Thủ Tướng, cụ Công An, cụ Kiểm Sát, cụ Tòa Án chỉ là ủy viên thường. Nhiều vấn đề được quyết rốt ráo ngay tại Ban Chỉ đạo nhằm tránh đưa ra Bộ Chính trị, Trung ương, nơi mà cụ Bá Thanh cụ Trọng không có tiếng nói quyết định. Có vấn đề rất phức tạp, buộc phải đưa ra Bộ Chính trị cho ý kiến tập thể.
Ngay từ đầu, vụ bầu Kiên đã đi theo lối dích dắc: khi báo cáo trước các cụ để xin ý kiến bắt đồng chí Kiên thì chỉ tập trung vào món vàng (cụ nào từng chơi vàng ở sàn ACB, tường tận các ngón võ mới biết nó phức tạp thế nào). Được tin này, đồng chí Lý Xuân Hải ở Sài Gòn mới yên tâm và vẫn thoải mái đi đánh gôn, uống bia, sau đùng cái làm quả khởi tố, tạm giam đồng chí Hải bị xộ khám mới vỡ tiếp ra cái vụ tín dụng ngân hàng to đùng, rồi lại liên tục gọi hỏi, vân vê các đồng chí Xuân Giá, Trung Cang, Trầm Bê, Thành, Hồng Anh … mới ngã ngửa ra nhiều điều khủng khiếp liên quan các cụ X, Y, Z … Rồi đồng chí Trung Cang bị khởi tố, cho tại ngoại, cấm xuất cảnh, cho xuất cảnh, dụ về nước, bắt tạm giam … Hòa Phát ban đầu bảo bị lừa, sau lại lúng ba lúng búng trước tòa rằng không bị lừa …
.
K0
.

Dường như qua mỗi lần dích dắc, các đồng chí đại gia đều ít nhiều thoát tội hoặc giảm nhẹ. Điều đó không hoàn toàn đúng vì như vậy thì Nghị quyết 4 phá sản à? Chít. Chuyện bi chừ hóa to, liên quan đến uy tín lãnh tụ, đến uy tín của Đảng chứ không phải chơi đâu, nhất là vụ giàn khoan vừa qua khiến một số cụ uy tín xuống thấp, một số cụ lại tăng chỉ số tín nhiệm Index vốn trước đây đã tụt xuống mức dưới đũng quần. Sắp xếp ghế Đại hội 12 đến nơi rồi, chỗ nào cũng nói về mức tín nhiệm cán bộ. Bữa trước, qua 1 tháng bặt tiếng sau vụ giàn khoan, cụ Tổng đột ngột xuất hiện trở lại trước công chúng, chúm chím tuyên bố: anh nào tín nhiệm thấp thì cho nghỉ. Cái này nằm ở dích dắc trên sân khấu chỗ các cụ X, Y, Z. Thế nên người ta thấy một bên cứ kéo dây thít thật mạnh, một bên thì cố chống, gỡ rồi phản thùng khi có cơ. Giống y như trò kéo co hay đá bóng ý các cụ ạ. Kịch tính của cuộc chơi rõ nhất là màn chém gió phút bù giờ của đồng chí Kiên trước tòa, và ở giây cuối đồng chí này công khai tố cáo tướng Thịnh (cái này, người ít biết thì thấy thú vị, người biết nhiều thì bảo nó hài hước).
Giở lại cái quy luật nghiệt ngã mỗi đại án nướng một vài tướng Công an. Tướng Thịnh (được đeo lon tướng nhờ thành tích phá vụ đồng chí Kiên) luôn phân trần là khi bắt tớ có báo cáo, xin chỉ đạo của cụ X, Y, Z chứ không phải không. Đương nhiên các cụ không chối, nhưng chỉ đạo kiểu “đảm bảo đúng người, đúng tội, không làm oan sai, đồng thời tránh bỏ lọt tội phạm” thì vụ nào chẳng giống vụ nào, phải không các cụ. Một số nguồn tin cho hay, việc mở rộng điều tra vụ án sau này có nhiều nội dung nằm ngoài báo cáo xin ý kiến chỉ đạo ban đầu. Hơn nữa, đồng chí trực tiếp báo cáo xin ý kiến chỉ đạo vừa khuất núi ( Phạm Qúy Ngọ: chết rồi), điều này khiến thế của tướng Thịnh yếu hơn lúc mới nổ súng. Cuộc chơi với một rừng luật nhưng lại chơi theo luật rừng thì số phận các cầu thủ trên chiếu thật mong manh phải không các cụ. Có một điều chắc chắn, ngày mai (9/6), tòa có tuyên án thế nào thì cuộc chơi này vẫn chưa thể kết thúc./.
http://caunhattan.wordpress.com/2014/06/07/lieu-co-thanh-quy-luat-moi-dai-an-nuong-mot-vai-tuong-cong-an/

Vụ cướp trực thăng tại sân bay Bạch Mai trốn đi Trung Quốc




Trong khi chiến sự vẫn rất căng thẳng trên toàn tuyến biên giới Việt – Trung, dịp Quốc khánh Trung Quốc 1/10/1981, Việt Nam bàng hoàng bởi vụ cướp máy bay trực thăng chiến đấu biên chế ngay tại Sở chỉ huy của quân chủng Không quân ở sân bay Bạch Mai. Rạng sáng 30/9/1981, 2 chiến sỹ gác sân bay Bạch Mai (Trụ sở Bộ tư lệnh quân chủng Không quân) tại Hà Nội bị hạ sát bằng lưỡi lê đâm vào cổ họng. Chiếc máy bay trực thăng UH-1H với đầy đủ vũ khí và cơ số xăng dầu đã bị cướp mất. Ít ngày sau, qua Nhân Dân Nhật Báo, cơ quan ngôn luận của ĐCS Trung Quốc, Việt Nam mới hay tin những người trên máy bay đã được Trung Quốc biệt đãi, được gặp “lãnh tụ” Hoàng Văn Hoan, được Triệu Tử Dương tiếp đón.
Sáng sớm ngày 30/9/1981, lực lượng bảo vệ sân bay Bạch Mai phát hiện 2 bộ đội gác sân bay bị hạ sát, ngay sau đó họ đã không thấy chiếc máy bay trực thăng UH-1H số hiệu 576. Táo tợn hơn, sau khi cất cánh khỏi sân bay Bạch Mai, chiếc máy bay này còn đàng hoàng hạ cánh xuống phường Phúc Xá thuộc địa bàn quận Ba Đình đón thêm người rồi mới bay thẳng đi Trung Quốc trước sự bất lực hoàn toàn của lưới lửa phòng không dày đặc thời chiến.
Chiếc UH-1H 576 và phi hành đoàn tại Đại Tân (TQ) sáng sớm 30/9/1981 . UH1_81 . Tác giả chính của vụ cướp máy bay này là Thiếu úy Kiều Thanh Lục, ngoài ra còn có sự trợ giúp của một số sỹ quan, cán bộ quân chủng Không quân (cùng trốn theo sang Trung Quốc) trong đó đáng chú ý có một người là cựu sỹ quan không lực Việt Nam cộng hòa được thu dung phục vụ tạm thời trong quân chủng. Dựa vào chi tiết này, phán đoán ban đầu là chiếc máy bay đã bay ra hạm đội 7 của Hoa Kỳ (lúc đó Việt Nam vẫn coi Hoa Kỳ là kẻ thù nguy hiểm nhất). Ngay lập tức, toàn bộ các đồng chí diện “thu dung” bị đặt dưới chế độ giám sát đặc biệt, kể cả đồng chí từng lái máy bay ném bom dinh Độc Lập.
Chỉ sau khi Nhân Dân Nhật Báo đăng chi tiết về vụ cướp máy bay và Bắc Kinh tổ chức họp báo quốc tế rầm rộ với Kiều Thanh Lục, Dương Văn Lợi, Hoàng Xuân Đoàn và Lê Ngọc Sơn (phi hành đoàn) thì Việt Nam mới ngã ngửa ra rằng chiếc máy bay đang ở trong tay Trung Quốc. Sau thất bại quân sự năm 79, Trung Quốc cố thổi phồng vụ này lên, nâng tầm quan trọng ngang vụ “lão thành cách mạng Đảng Cộng sản VN” Hoàng Văn Hoan bỏ trốn, đặc biệt lại đúng dịp 32 năm Quốc khánh Trung Quốc (1/10/1981). Bắc Kinh gọi đây là máy bay đặc dụng biên chế riêng phục vụ Bộ Chính trị của “tập đoàn Lê Duẩn”. Những ngày sau, không những “lãnh tụ” Hoàng Văn Hoan mà ngay cả Triệu Tử Dương (Chủ tịch TQ) cũng đích thân tiếp 10 người đi trên máy bay. Thậm chí còn có tin, nếu Trung Quốc thành lập “chính phủ” Hoàng Văn Hoan lưu vong thì những người trên sẽ được Bắc Kinh cơ cấu vào các chức vụ quan trọng như bộ trưởng Quốc phòng, Tư lệnh Không quân …
Vụ giết bộ đội, cướp máy bay ngay tại sân của quân chủng Không quân đã trôi qua 33 năm nhưng nhiều câu hỏi lớn vẫn chưa tìm được câu trả lời thấu đáo. Có hay không bàn tay của tình báo Hoa Nam đạo diễn vụ này? Ai đã cố tình nạp sẵn nhiên liệu vào máy bay và chuẩn bị các điều kiện cất cánh khác trong khi quy trình để máy bay cất cánh phải qua nhiều khâu, nhiều người? Tại sao chiếc máy bay bị cướp có thể lọt qua hàng loạt các trận địa phòng không bảo vệ Thủ đô và nhiều căn cứ không quân, quân sự trọng yếu trên đường đi trong khi từ lúc cất cánh đến lúc bị phát hiện chỉ vẻn vẹn chưa đầy 5 phút, đặc biệt trong bối cảnh lực lượng phòng không VN đã được huấn luyện kỹ chiến thuật chống trực thăng tầm thấp sau vụ Sơn Tây 1970. Nếu không có mật lệnh từ trước, hẳn chiếc máy bay đã bị chính lưới lửa phòng không của Trung Quốc bắn hạ chứ không thể bay sâu vào nội địa TQ để hạ cánh xuống huyện Đại Tân (lúc đó Bắc Kinh vẫn duy trì một lực lượng quân sự khổng lồ trên biên giới Trung – Việt nhằm xâm lược Việt Nam). Ngoài ra, không thể không nhắc tới việc một vị lãnh đạo quân chủng Không quân VN năm ấy, không những không bị kỷ luật mà qua hơn 10 năm, sau khi thăng lên nhiều cấp của Bộ Quốc phòng, thì bị “biếm” bởi một quyết định phê duyệt được cho là có “yếu tố Trung Quốc”./.
http://caunhattan.wordpress.com/2014/07/11/vu-cuop-truc-thang-tai-san-bay-bach-mai-tron-di-trung-quoc/

Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014

Tham luận của nhà văn Vũ Thư Hiên tại cuộc hội thảo "Sự kháng cự của ngôn ngữ"



Nhân Hội nhà báo độc lập ra mắt bà con, tôi chuyển vào đây một bài viết đã lâu về cách nhà nước độc tài tạo ra cách tự kiểm duyệt ở VN.(trích facebook nhà văn Vũ Thư Hiên)

Tự kiểm duyệt - cách kiểm duyệt
chặt chẽ nhất, tinh vi nhất, tồi tệ nhất.

Tham luận của nhà văn Vũ Thư Hiên tại cuộc hội thảo "Sự kháng cự của ngôn ngữ" (14-18 tháng 6 năm 1999) do Nghị hội Quốc tế các Nhà văn và Trung tâm văn hoá vùng Normandie-Thấp (Pháp) phối hợp tổ chức.

Ở nước chúng tôi, trong cả hai bản Hiến Pháp - Hiến Pháp 1946 (Việt Nam Dân chủ Cộng hoà) và Hiến Pháp năm 1980 (Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) - đều có ghi rõ rành rành: công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận.
Nhưng cũng ở nước chúng tôi, trong hơn một nửa thế kỷ cầm quyền của đảng cộng sản, tự do ngôn luận chỉ có ở trên giấy.
Trong lịch sử báo chí Việt Nam, trong suốt thời kỳ này những tờ báo tư và nhà xuất bản tư nhân chỉ tồn tại trong hai thời điểm: những năm 1945-1946 và 1955-1956.
Nói gì tới báo chí, mọi quyền tự do của công dân được ghi trong Hiến Pháp Việt Nam đều bị nhà cầm quyền hiện tại tước đoạt, hoặc trắng trợn cắt xén. Công dân Việt Nam không có quyền tự do đi lại, tự do cư trú, tự do hội họp, tự do biểu tình, tự do lập hội..., tức là không có mọi quyền công dân cơ bản. Thậm chí cả quyền phát biểu ý kiến bằng miệng những gì công dân không hài lòng với chính quyền cũng không có nốt. Ngược lại, những người mắc lỗi này, dù cố ý, dù vô tình, đều bị chính quyền trừng trị không thương xót. Nhiều người đã nằm xuống trong các nghĩa trang nhà tù chỉ vì những lời nói ở quán nước, tiệm cà-phê, thậm chí trong cơn say rượu. Phần lớn họ không được xét xử. Tôi đã từng gặp họ, những người còn sống; tôi cũng từng thắp hương cho họ, những người không trở về.
Trong thời thuộc Pháp, tự do báo chí, theo nghĩa đen, không hề có, tất nhiên. Nhà nước thuộc địa đặt lên trên tất cả các tờ báo, các nhà xuất bản - của người Pháp cũng như người bản xứ - một sở kiểm duyệt có quyền năng rất lớn. Nhưng, dù sao mặc lòng, trong tình hình ấy dân bản xứ cũng vẫn còn có quyền ra báo. Khi sở kiểm duyệt cắt bỏ đoạn nào thì báo để trống đoạn ấy và điền vào đó "Kiểm duyệt bỏ". Người ta có thể thấy được trong những khoảng trắng ấy những ý bị cấm nói ra. Về chuyện công dân phải có quyền được ra báo, một nhà cách mạng lão thành, ông Nguyễn Văn Trấn, đã viết trong cuốn hồi ký "Gửi cho Mẹ và Quốc Hội", trong đó ông nói rằng ông mong mỏi được thấy một nền báo chí xã hội chủ nghĩa tự do bằng thời thuộc Pháp.
Sự tự do báo chí kiểu thuộc địa, sự tự do báo chí bị cắt xén theo ý muốn các ông chủ thực dân, tồn tại cho tới Cách mạng Tháng Tám 1945.
Nhà nước cách mạng lâm thời tuyên bố mọi thứ tự do cho các công dân vừa thoát khỏi gông xiềng nô lệ. Ai muốn ra báo thì ra, ai muốn đi biểu tình thì đi, ai muốn lập hội, lập đảng thì lập...
Nhưng về sau hoá ra không phải thế.
Hai năm 1945-1946, được đánh dấu bởi thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945, và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, là thời điểm nhiễu nhương nhất trong lịch sử Việt Nam cận đại.
Vào thời điểm này Đảng cộng sản Việt Nam (Đảng cộng sản Đông Dương hồi đó), lực lượng lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa, còn chưa đủ mạnh để chiếm giữ địa vị độc tôn cai trị đất nước. Việt Nam Quốc dân đảng, đảng cách mạng lớn thứ hai, sau cuộc khởi nghĩa bất thành năm 1930, hầu như tan rã hoàn toàn. Bộ phận lưu vong của Quốc Dân Đảng, gồm những đảng viên chạy thoát sang Trung Quốc, nay theo chân quân tiếp phòng Trung Hoa về nước. Quân đội Trung Hoa tiến vào Việt Nam để giải giáp quân đội Nhật theo tinh thần các hiệp định Postdam và Teheran ủng hộ họ trong cuộc tranh giành quyền lực với những người cộng sản.
Trong tình thế phức tạp nói trên, đảng cộng sản - đảng nắm chính quyền - mặc nhiên phải thừa nhận sự hiện diện của các đảng và nhóm đối lập. Trong không khí nóng bỏng của cuộc tranh chấp quyền lực, các tờ báo của các đảng phái, các phe nhóm, của tư nhân, đã tồn tại trong thời gian ngắn ngủi từ Cách mạng Tháng Tám cho tới ngày bùng nổ cuộc chiến tranh Việt-Pháp 19.12.1946.
Sự tự do ngôn luận trong thời kỳ này là có, nhưng đó là một sự tự do đáng xấu hổ bởi những tin tức xuyên tạc, những lời lẽ hạ đẳng của những bên tranh giành.
Vào thời điểm khởi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, Việt Nam Quốc dân đảng và vài đảng phái đối lập khác đã bị đảng cộng sản xoá sổ. Cùng với chúng, những tờ báo không phải của đảng cộng sản cũng trút hơi cuối cùng.
Trong suốt cuộc kháng chiến chỉ có những tờ báo của Việt Minh (đảng cộng sản), của quân đội, và vài tờ báo địa phương chết yểu. Trong vùng Pháp chiếm đóng báo chí thuộc quyền kiểm soát của những phe nhóm thân Pháp do những kẻ chiếm đóng nuôi dưỡng, tất nhiên cũng không có tự do ngôn luận theo đúng nghĩa đen của cụm từ này.
Cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp của toàn dân đã thắng lợi với trận Điện Biên Phủ lừng lẫy tưởng chừng sẽ mang lại cho nhân dân những quyền tự do dân chủ mà người ta đã tự nguyện hy sinh cho mục đích cuối cùng.
Nhưng một lần nữa, tình hình lại không diễn ra như vậy.
Khi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trở về Hà Nội (tháng 10.1954), cả thủ đô vừa thoát khỏi cuộc chiếm đóng của người Pháp chỉ còn lại một tờ nhật báo Thời Mới, là báo tư nhân.
Có lẽ men rượu chiến thắng đã gây ra sự lơ là phần nào ở những người cộng sản đối với báo chí và xuất bản tư nhân trong những ngày đầu tiên của cuộc tiếp quản vùng Pháp chiếm đóng trước đó. Người ta đã tỏ ra bao dung trong sự đối xử với người Hà Nội, mặc dầu cuộc Cải cách Ruộng đất vừa được phát động tại căn cứ địa Việt Bắc và một phần Bắc Trung Việt lúc ấy đã cho thấy tính chất khốc liệt của nó.
Tờ Thời Mới tất nhiên phải đổi giọng, từ nay nó bập bẹ học nói theo giọng tờ Nhân dân, cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản.
Khi cuộc kháng chiến kết thúc, những người kháng chiến tưởng đâu đã đến lúc họ có thể sử dụng những quyền tự do dân chủ của mình, hiển nhiên là của mình. Nhưng những nhà lãnh đạođã quen với quyền ban phát hoặc không ban phát mọi thứ, không chịu được cảnh những kẻ dưới quyền mình có tự do. Thế là nổ ra xung đột giữa những nhà lãnh đạo toàn năng và toàn quyền với số đông đi theo họ từ năm 1945 có tên là quần chúng.
Bị tình yêu tự do thúc đẩy, một số văn nghệ sĩ bị đảng cộng sản chụp mũ là những phần tử bất mãn hợp lực với ông Minh Đức, một người say mê cuồng nhiệt nghề xuất bản, cho ra một tạp chí không thường kỳ mang tên Giai Phẩm (số đầu ra vào tháng 3.1956). Giai Phẩm là tạp chí bướng bỉnh. Nó được lòng người đọc của thành phố, vốn xa lạ với lối sống kháng chiến và những lề luật khe khắt của nó. Nó được lòng những người kháng chiến bởi nó dám nói thẳng nói thật những điều trong thời kỳ kháng chiến là cấm kỵ. Giai Phẩm ra được mấy số, bán rất chạy. Nó cổ võ cho sự ra đời của tờ Nhân Văn, cũng với các văn nghệ sĩ kháng chiến có tên tuổi như Trần Dần, Trần Duy, Lê Đạt, Phùng Quán, Phan Khôi... đã tham gia tạp chí Giai Phẩm. Nhân Văn ra đời là để đáp ứng nhu cầu tăng vọt đối với báo chí phi nhà nước. Sinh viên cũng hăng hái nhập cuộc, cho ra tờ Đất Mới. Một tờ báo tư nhân khác, tờ Trăm Hoa, vốn ôn hoà hơn trong sự chỉ trích đường lối chính sách của đảng cộng sản, nay cũng đi cùng đường với Nhân Văn. Lần đầu tiên, tại nước Việt Nam do đảng cộng sản cầm quyền, vang lên những lời chỉ trích những mặt xấu của xã hội, gây ra bởi những chính sách độc đoán, cứng đờ, thay vì những lời ngợi ca một chiều: "Nhờ ơn Đảng, Chính phủ..."
Tình hình nói trên diễn ra trong bối cảnh sôi động của sự kiện Đại hội XX Đảng cộng sản Liên Xô với sự lên án tệ sùng bái cá nhân Staline của tân bí thư thứ nhất Nikita Khrushev, và những biến cố tiếp theo ở Poznan (Ba Lan), Budapest (Hungaria), cùng trong một năm 1956. Một cơn động đất trí tuệ với cường độ mạnh chưa từng thấy làm rung chuyển thế giới xã hội chủ nghĩa. Ảnh hưởng của cơn động đất ấy tới Việt Nam cũng rất mạnh.
Những nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam bừng tỉnh, sực hiểu rằng trong khi quá say sưa với chiến thắng họ đã để mất "cảnh giác cách mạng". Người ta vội vã đi tìm những lời dạy bảo của Marx và Lenine về chuyên chính vô sản trong lĩnh vực tư tưởng, chúng rất sẵn trong những sách kinh điển mác-xít, để sơn phết cây gậy trừng phạt sẽ được dùng đến.
Những tờ báo bị coi là chống Đảng bị đóng cửa ngay lập tức, nhân danh đòi hỏi của những phong trào quần chúng do đảng cộng sản đạo diễn. Các văn nghệ sĩ tác giả những bài viết chỉ trích Đảng bị tập trung lại để kiểm thảo, phê phán, để rồi bị đưa đi hầm mỏ, công trường, và các vùng nông thôn để cải tạo tư tưởng. Cũng cũng từ thời điểm ấy những con người khốn khổ nọ bị vĩnh viễn tước quyền sáng tác bởi một chỉ thị ngầm. Tình hình này không mau chóng kết thúc, mà kéo dài trong nhiều thập niên, cho tới khi đảng cộng sản phải "đổ mới", không phải tự ý, mà do sự bó buộc của tình thế. Một số văn nghệ sĩ bị xử án tù, như nhà thơ Phùng Cung, nhà báo Thuỵ An, Nguyễn Hữu Đang, đạo diễn Phan Tại... Từ đó, không bao giờ có một tờ báo tư nhân được xuất bản nữa. Không khí khủng bố đè nặng lên xã hội nói chung và giới văn nghệ nói riêng
Cần nhấn mạnh thêm một lần rằng trong Hiến Pháp cũng như trong bộ luật Hình Sự của nước Công hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, không tìm đâu ra bóng dáng của một sự kiểm duyệt chính thức đối với báo chí và xuất bản. Những nhà báo bàn giấy ở nhiều nước văn minh vốn quen tìm sự thật trong các thư khố bị đánh lừa, họ tưởng đâu ở Việt Nam có tự do ngôn luận. Điều này giải thích vì sao cho tới nay còn có không ít nhà báo vẫn bênh vực chế độ quản trị xã hội theo cách chuyên chế của các đảng cộng sản. Người ta suy diễn từ sự nới lỏng đối với kinh tế như một thời kỳ mới đã tới với tự do tư tưởng. Họ không hiểu rằng sự không có một sở kiểm duyệt nào lại có thể là một chế độ kiểm duyệt ngặt nghèo nhất.
Những cuộc điều tra gần đây tại các quốc gia Đông Nam Á cho thấy: về mặt tự do báo chí Philippine đứng đầu bảng với 2,29 điểm (thang độ kiểm duyệt từ 0 đến 10), Việt Nam đứng cuối bảng, với mức độ kiểm duyệt gắt gao nhất, với 9,50 điểm.
Nhìn lại lịch sử sự hạn chế tự do ngôn luận tại Việt Nam, những nhà nghiên cứu ghi nhận rằng từ sau vụ các văn nghệ sĩ lên tiếng chống lại đường lối văn nghệ của đảng cộng sản (văn nghệ phục vụ công nông binh, văn nghệ phản ánh hiện thực theo cách nhìn của Đảng, văn nghệ phục vụ chính sách của Đảng), ở nửa sau của thập niên 50, đảng cộng sản Việt Nam đặc biệt quan tâm tới việc kiểm soát báo chí và xuất bản.
Sự quan tâm ấy được thể hiện như thế này:
Những người lãnh đạo các cơ quan báo chí và xuất bản, được đảng cộng sản nố trí, cắt đặt, nhất thiết phải là đảng viên, mà là đảng viên trung thành, đã được qua thử thách. Những bài viết, những cuốn sách nhất thiết phải được những người này, thay mặt đảng của họ, xét duyệt, thông qua, trong sự phân nhiều cấp quản lý, trước khi chúng tới tay người đọc
Trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương đảng cộng sản không phải chỉ có một ban chuyên trách về tư tưởng mà vài cơ quan - Ban tổ chức Trung ương, Ban tuyên giáo trung ương, Vụ báo chí và xuất bản, Ban Văn hoá Văn nghệ trung ương, Ban bảo vệ chính trị nội bộ. Những cơ quan nói trên, được trao trách nhiệm "quản lý tư tưởng" đảng viên và quần chúng ngoài đảng, theo dõi chăm chú và cần mẫn động thái tư tưởng của xã hội, trước hết là các bài viết trên báo, các cuốn sách xuất bản, nhằm tìm ra những sơ hở, những lỗi lầm Sự bủa vây các văn nghệ sĩ và các phần tử "bất mãn, chống chế độ" bởi các cơ quan đảng, còn được tăng cường bằng những cơ quan mật thám với chức năng song song, cũng chuyên theo dõi "tình hình tư tưởng" các công dân, với những mật danh mà khi nói đến chúng người ta phải hạ giọng, thì thào. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện bị bắt, bị cầm tù cả thẩy 27 năm, chỉ vì những bài thơ bất bình chống chế độ, tuy những bài thơ của ông chưa một lần được xuất hiện trên mặt báo. Người ta đã tước đoạt của ông cả tuổi trẻ, cả tuổi trung niên, không một chút ân hận, tự cho rằng họ có quyền làm như thế.
Mặc dầu đã cẩn thận như vậy, đảng cộng sản vẫn còn để lọt một số truyện ngắn và phóng sự "ngược với đường lối của Đảng" của cả những cây bút từng có mặt trong những tờ Giai Phẩm và Nhân Văn, như chuyện xảy ra với tờ Văn của Hội Nhà văn Việt Nam, được khai trương năm 1957, và cũng "phạm sai lầm" ngay trong năm đó.
Sự rình rập, bủa vây tư tưởng không phải không có tác dụng. Nó là thanh gươm Damocles treo lủng lẳng trên đầu mỗi con người muốn suy nghĩ độc lập, bằng bộ óc của mình.
Từ đó sinh ra cái sự kiểm duyệt hết sức kinh khủng, hết sức tồi tệ, kể từ khi loài người phát minh ra chữ viết - do sợ hãi, con người bắt đầu kiểm duyệt chính mình.
Hệ quả đầu tiên và hệ quả chính của cơ chế tự kiểm duyệt là sự ra đời của thứ ngôn ngữ đặc thù - ngôn ngữ "lưỡi gỗ".
Ngôn ngữ "lưỡi gỗ" tránh xa mọi "vùng cấm" (tabu), không dám đụng tới những huý kỵ. Mỗi ngày nó một trở thành tinh xảo hơn trong nghệ thuật xưng tụng bề trên. Mỗi khi nói về đảng cộng sản người ta không bao giờ quên thêm vào những tính từ "vĩ đại", "anh hùng", "tài tình", "duy nhất đúng đắn và vô cùng sáng suốt"... Cũng như vậy, những từ "anh minh", "tài ba", "kiệt xuất", "vô song" được gắn liền với tên các lãnh tụ.
Từ ngữ sáo rỗng tràn ngập các mặt báo, các trang sách. Chỉ có nấp đàng sau những từ ngữ ấy người cầm bút mới cảm thấy yên tâm. Sự tự kiểm duyệt được bắt đầu ở cấp thấp nhất trong nghề báo. Phóng viên phải rà soát rất kỹ sản phẩm của mình trước khi trình cấp trên xem xét nó. Các biên tập viên sẽ còn phải rà soát sản phẩm ấy một lần nữa trước khi đưa lên tổng biên tập, chủ nhiệm...
Người ta cảnh giác với chính mình, chỉ sợ vấp phải điều gì đó vượt ra ngoài khuôn phép đã được nhà nước quy định. Tuỳ theo lỗi lầm, họ có thể bị hạ tầng công tác (tức là hạ lương), bị chuyển nghề, bị đưa đi lao động ở địa phương...
Nặng hơn, họ sẽ bị Công an đến nhà vào ban đêm, và đưa họ tới thẳng trại cải tạo theo Nghị quyết số 49NQ/TVQH của Ban thường vụ Quốc Hội do nguyên tổng bí thư Trường Chinh ký giữa năm 1961. Theo sự giải thích của đảng cộng sản, cái Nghị quyết mang tính pháp luật này được đặt ra nhằm dạy dỗ, huấn luyện những công dân hư hỏng thành những công dân tốt. Thời gian cải tạo một công dân hư hỏng là 3 năm, được gọi là một "lệnh", nhưng nếu cải tạo chưa tốt thì người cải tạo sẽ được hưởng thêm một "lệnh" tiếp, cứ thế kéo dài mãi. Những người tù không án xử có thâm niên trung bình trên 10 năm nhan nhản ở các trại giam. Những người bị giam lâu từ 20-30 năm không phải là hiện tượng cá biệt.
Chính quyền chuyên chế Việt Nam, kể từ cuối thập niên 50, đã xây dựng thành công cơ chế tự kiểm duyệt. Nó hoàn toàn có quyền tự hào vì sự sáng tạo ấy. Nền chuyên chế đã đạt được mục đích của nó mà không cần một sở kiểm duyệt, như bọn thực dân phải làm tại các thuộc địa. Ngôn ngữ "lưỡi gỗ" còn để lại dấu ấn của nó trong cả thời kỳ sau khi phe xã hội chủ nghĩa tan rã, và những chế độ cộng sản còn lại phải tìm cách tự thích ứng bằng sự nới lỏng những xiềng xích trói buộc các quyền tự do cơ bản của công dân.
Khi gò ép các phương tiện truyền thông vào những khuôn phép do nhà cầm quyền chế tạo, họ cố tình quên lời thầy của họ là Karl Marx: "Báo chí nói chung là sự thực hiện tự do của con người. Do đó, ở đâu có báo chí ở đấy phải có tự do báo chí".
Người ta bịt miệng quần chúng nhân danh mục đích cuối cùng của cách mạng vô sản: xây dựng một xã hội không có người bóc lột người, để cho những thành viên của xã hội ấy được sống trong tự do và hạnh phúc. Ở đây họ cũng quên lời thầy nốt: "Mục đích đòi hỏi những phương tiện không đúng thì nó không phải là mục đích đúng".
Trong suốt mấy thập niên tiếp theo vụ án văn chương "Nhân Văn - Giai Phẩm", những tác phẩm bị nhà cầm quyền cộng sản coi là "xấu" có thể đếm trên đầu ngón tay. Người ta đã gây ra những trận bão trong ly nước, khi những cơ quan "quản lý tư tưởng" phát hiện chúng và la lối. Trong thực tế, những tác phẩm này không phải là những tác phẩm đối kháng chế độ. Chúng chỉ mới đụng chạm nhè nhẹ tới những mặt xấu (thường được gọi là mặt "tiêu cực") của xã hội, có khi chỉ là những mưu toan thoát khỏi đường mòn trong phong cách thể hiện đề tài.
Để thể hiện nỗi bất bình đối với mặt này hay mặt khác của chế độ, hoặc đối với cả chế độ trong toàn cục, các nhà văn sau này được đặt tên là phản kháng, không chịu sử dụng "lưỡi gỗ", và cũng không thể sử dụng nó được. Họ thường dùng cách ẩn dụ, một thời được gọi là "biểu tượng hai mặt" (symbole équivoque). Nhưng cách này không phải hữu hiệu, bởi vì không phải người đọc nào cũng hiểu được nhà văn muốn gửi gắm nỗi niềm gì trong tác phẩm. Năm 1961, Nguyên Ngọc viết truyện ngắn "Mạch Nước Ngầm", miêu tả một nhà máy được xây dựng trên một mạch nước, mặc dầu nền móng có vẻ vững chắc, nó đã bị mạch nước bị đè nén làm cho sụp đổ. Truyện ngắn này, cùng với hai truyện ngắn khác - "Đêm Mất Ngủ" (Vũ Thư Hiên) và "Chị Cả Phây" (Ngô Ngọc Bội) đã bị nhà thơ lãnh tụ văn nghệ Tố Hữu đập cho tơi bời trong một bài báo "Nâng cao lập trường tính Đảng, chống chủ nghĩa xét lại hiện đại trong văn nghệ", vạch ra tính bóng gió, xỏ xiên, chống chế độ của chúng. Đáng buồn là chỉ sau khi có bài phê phán của Tố Hữu, người đọc mới hiểu được ẩn ý của các tác giả nói trên. Cùng một kết quả như vậy đã xảy ra với những tác phẩm bị gọi là "biểu tượng hai mặt" khác.
Có lẽ cái lợi duy nhất mà những nhà văn ngang ngạnh kiếm được trong khi luồn lách để thoát khỏi sự kìm kẹp tư tưởng là sự rèn luyện về văn phong. Họ trở thành những bậc thầy trong cách sử dụng ngôn ngữ. Ngôn ngữ phi "lưỡi gỗ" trở thành phong phú. Nó làm cho tiếng Việt giàu có thêm phương tiện biểu đạt.
Gần đây, trong xu hướng chống lại sự bóp nghẹt tự do tư tưởng ở Việt Nam đã có một vài tờ báo "chui" như tờ "Người Sài Gòn", "Thao Thức", "Nối Kết"... Chúng có số lượng xuất bản nhỏ nhoi, sống được nhờ phương tiện photocopy của kỹ thuật mới, do chính người đọc tham gia vào việc phát hành. Nhưng những tờ báo như vậy không thể gọi là báo, theo hình dung thông thường của mọi người về tờ báo. Gọi chúng là những truyền đơn thì đúng hơn.
Thật đáng tiếc, những người cầm bút Việt Nam chúng tôi không có kinh nghiệm rút ra từ những thắng lợi trong cuộc đấu tranh cho tự do ngôn luận.
Bù lại, chúng tôi có những kinh nghiệm quý báu rút ra từ những thất bại.
Kinh nghiệm ấy là: "Không có và không thể có tự do ngôn luận trong chế độ toàn trị có tên gọi là xã hội chủ nghĩa".
Khái niệm "tự do trong khuôn phép, tự do có lãnh đạo" là một khái niệm tự do đã bị đánh tráo.
Cả khái niệm dân chủ tập trung, trong đó nguyên tắc cơ bản của nó là thiểu số phục tùng đa số cũng đã bị đánh tráo.
Bằng khái niệm dân chủ xã hội chủ nghĩa, trong đó đa số là một dân tộc 80 triệu người phải phục tùng thiểu số là một nhóm người cầm quyền bất tài, vô học.

Vũ Thư Hiên