Thứ Tư, 11 tháng 3, 2015

Tư liệu quý: Video lễ lên ngôi Hoàng thái tử cuối cùng của Việt Nam



"Những nhân chứng lịch sử” là loạt bài nhiều kỳ do chuyên mục Văn Hóa thời báo Đại Kỷ Nguyên tiếng Việt biên soạn, nhằm khôi phục lại những dấu ấn của văn hóa Việt Nam và thế giới qua các thời kỳ lịch sử.
Thái tử Nguyễn Phúc Bảo Long (1936 – 2007) là hoàng thái tử cuối cùng của Việt Nam. Ông sinh tại điện Kiến Trung trong Đại nội Huế, là con trai của Hoàng đế Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương. Ngày 7 tháng 3 năm 1939, Bảo Long được phong hoàng thái tử khi mới 3 tuổi.
Sau ngày vua cha Bảo Đại thoái vị đánh dấu việc kết thúc nhà Nguyễn, ông cùng các em theo hoàng hậu Nam Phương về cung An Định sống và học tại trường Đồng Khánh cùng với các gia đình bình dân.
Năm 1947, chiến tranh Pháp-Việt nổ ra, hoàng hậu Nam Phương đem Bảo Long và các anh chị em đến Thorenz tại Cannes, thuộc vùng biển Địa Trung Hải Côte d’Azur Pháp sinh sống.
Ông sống một cuộc đời lặng lẽ tại Pháp, sau khi rời khỏi quân ngũ ông theo học ngành Luật và Khoa học Chính trị tại Paris và rồi đi làm cho một ngân hàng của gia đình bên ngoại, rồi ông sống lặng lẽ, không dính đến việc chính trị.
Ông đã từng cộng tác với Hoàng Tử Bảo Vàng (con của vua Duy Tân) trong nhiều dự án về từ thiện, giáo dục và văn hóa cho người Việt Nam.
Buổi lễ tấn phong năm 1939 của vị hoàng thái tử cuối cùng nhà Nguyễn được người Pháp quay lại, đó là đoạn phim màu giúp thế hệ sau biết nhiều hơn về cung điện, quan lại, trang phục…thời Nguyễn.


Thái tử Bảo Long
Thái tử Bảo Long

Thuyết minh video:
Lễ thụ phong Hoàng Thái Tử Bảo Long
Những người phụ nữ không được phép can dự vào các công việc của triều đình, nên trong lễ thụ phong Hoàng Thái Tử, Hoàng Hậu cũng không được phép tham dự. Vào ngày lễ thụ phong Hoàng Thái Tử Bảo Long, Hoàng Hậu rời cung điện để tới cung của Hoàng Thái Hậu.
Thượng thư Bộ Lễ, Tông nhân phủ phụ trách các công việc Hoàng gia và đoàn tùy tùng đưa thái tử tới cung điện ngai vàng, nơi sẽ diễn ra lễ thụ phong.
Tới lượt, đoàn tùy tùng hoàng gia tiến về nơi diễn ra buổi lễ.
Sau đó là sự xuất hiện của Toàn Quyền Đông Dương, theo sau là các thành viên các quốc gia thuộc liên minh Pháp.
Trong khi hai chính phủ ký tên vào Cuốn Sổ vàng công nhận Hoàng Tử chính thức là người kế vị ngai vàng, quan lại triều đình cũng cử hành nghi lễ biểu đạt sự chấp thuận. Buổi lễ lớn kết thúc, đoàn tùy tùng hoàng gia quay trở lại cung cấm trong âm thanh của nhã nhạc truyền thống./.

https://www.youtube.com/watch?v=BHRUvRWIg-U
Source: https://hahien.wordpress.com/2015/03/11/tu-lieu-quy-video-le-len-ngoi-hoang-thai-tu-cuoi-cung-cua-viet-nam/

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2015

TIÊN DƯỢC CỨU BỆNH TIỀN LIỆT TUYẾN




Thăm hỏi các cụ già, thỉnh thoảng có cụ đi tiểu khó khăn, đi tiểu lắc nhắc nhiều lần, có khi bị bí đái luôn. Phải đi bác sĩ chuyên về Niệu khoa để xoi cho thông, đặt ống, hay giải phẩu tuyến tiền liệt (prostate) bị sưng lớn cản trở đường dẫn nước tiểu từ bàng quang ra. Bí tiểu cũng là chuyện rất khẩn cấp.
Nếu không kịp gặp bác sĩ thông cho cũng có thể tử vong. Để ý tìm hiểu về việc nầy, tôi có đọc được một bài viết của cư sĩ Thái Huệ Sơn, thấy hấp dẫn và biết đâu một ngày nào chính mình hay ai đó có thể cần đến, nên tôi trích đăng vào đặc san nầy để các cụ khi cần thì dở ra tham khảo và áp dụng. Trích đăng chứ không thêm bớt, khi nào dùng thì nghĩ cũng nên tham khảo với các thầy thuốc Bắc chân chính.
BBT.
 

Sau đây là bài viết của tác giả Thái Huệ Sơn: 
 
Tôi xin thuật lại cho bạn đạo nghe một chuyện khó tin mà có thật: Đầu năm 1990, tôi còn ở Saigon, được chính quyền CS cấp hộ chiếu (passport) cho cả gia đình sang định cư bên Mỹ theo diện HO. Lúc xong mọi thủ tục đợi ngày đăng ký chuyến bay lên đường, thình lình tôi bị cảm sốt. Tôi uống thuốc cảm hai ngày, cơn sốt không thuyên giảm mà lại biến chứng sang bí đái. Thế rồi bọng đái lói tức và sưng to lên như quả dừa. Tôi vội vàng đi khám bác sĩ chuyên môn về thận và đường tiểu. Bác sĩ Nam lên án bệnh tôi là u xơ tiền liệt tuyến (ulcère de la prostate), nên trị cho tôi bằng nhiều thứ thuốc trụ sinh. Qua nhiều ngày trị liệu, bệnh không thuyên giảm mà lại còn hành thêm.
Đường tiểu bế tắc hoàn toàn, cơn sốt không giảm. Tôi đi rọi quang tuyến X và siêu âm, kết quả vẫn là chứng u xơ tiền liệt tuyến.
Tôi đến bác sĩ chuyên khoa về thận và đường tiểu khác, bác sĩ Hùng, ông khuyên tôi nên đi vào bệnh viện giải phẩu gấp, nếu không thì sẽ nguy đến tính mạng. Tôi yêu cầu bác sĩ Hùng đút ống thông (sonde) lấy nước tiểu ở bọng đái ra. Nước tiểu lấy ra 2 lít rất hôi tanh. Làm sondage rồi tôi thấy dễ chịu, bớt sốt, nhưng vẫn còn bí đái và đau thốn bàng quang. Ngoài Âu dược uống vào liên tiếp, tôi còn áp dụng ngoại khoa châm cứu và đủ thứ thuốc Nam do thân nhân, bạn bè bày biểu, nhưng đường tiểu vẫn bế tắc. Hằng ngày tôi phải đến Bác sĩ Hùng làm sonde một lần để lấy nước tiểu ra. Bác sĩ Hùng đặt cho tôi một dụng cụ mang luôn vào mình để mỗi lần mắc tiểu mở nắp ra, khỏi phải làm thông thường xuyên, sợ trầy trụa trong ống dẫn nước tiểu và nhiểm trùng bàng quang. Dụng cụ đó gây cho tôi sự bực bội khó chịu, nên tôi gỡ ra. Hơn nửa tháng trời mà bịnh vẫn trầm trọng, tôi đành phải tính việc đi vào giải phẩu bệnh “u xơ tiền liệt tuyến”, để xin giúp đở nhập viện.
Bác sĩ Trí thấy tôi sắp gần ngày đi Mỹ, nên khuyên tôi rằng: “Bác nên đợi sang Mỹ rồi sẽ mổ, ở Việt Nam chẳng những thiếu thuốc men, mà hậu quả không bảo đảm cho bằng khoa giải phẩu tối tân ở nước ngoài. Vậy cháu cho bác một loại ống thông để bác về nhà mỗi ngày tự làm sonde lấy 2 lần hầu cầm cự đợi ngày đi Mỹ. Ngoài ra bác cứ uống thuốc liên tiếp may ra bệnh sẽ thuyên giảm. Tôi áp dụng theo lời chỉ dẫn của bác sĩ Trí, tự làm thông lấy 2 lần để cầm cự. Bịnh không hành hung nhưng đường tiểu vẫn bế tắc. Cùng đường tuyệt vọng, tôi van vái Trời Phật. Bỗng nhiên một đêm nọ tôi hồi nhớ lại thầy tôi đã dạy khi xưa như sau:
-Tao cho mầy toa thuốc chủ trị bịnh “thận hư khí suy” để sau khi có bịnh lấy ra mà dùng,đừng lạm dụng thuốc tây mà nguy đến tính mạng. Ngày biên toa thuốc và còn có ký tên vào đó. Việc đó xảy ra năm 1942, gần 50 năm sau tôi mới nhớ. Tôi bèn lấy toa thuốc dể trên bàn thờ van vái.
Sáng hôm sau tôi bảo vợ ra tiệm thuốc bổ luôn 3 thang đem về sắc cho tôi uống. Uống liên tiếp trong 3 đêm. Bỗng nhiên đêm nọ, khi mắc tiểu tức lói ở bọng đái, tôi đi tiểu tiện, thì tự nhiên đường tiểu thông trở lại. Tôi mừng quá, chẳng khác nào một cơ sở đóng cửa nghỉ việc lâu ngày, nay mở cửa hoạt động trở lại. Tôi mừng quá nhưng chưa dám vội tuyên bố. Hôm sau tôi bảo vợ hốt luôn 4 thang nữa về sắc cho tôi uống. Uống đủ 7 thang thì lành bịnh, sức khỏe phục hồi gần như bình thường. Tôi tuyên bố cho vợ tôi biết: Tôi được thuốc tiên mà qua khỏi cơn tử bịnh. Cả nhà tôi đều vui mừng hơn được vàng.
Tiếng đồn vang ra, bà con lối xóm tới thăm hỏi. Tôi thuật lại tự sự. Ai cũng lấy làm lạ và xin tôi sao ra cho toa thuốc dể dành hộ thân, nhưng phải phóng ảnh để lấy được chữ ký của thầy tôi.
Tôi đến các bác sĩ chữa trị để báo tin bịnh tôi đã khỏi, không cần phải giải phẩu.
Họ đều ngạc nhiên. Có người lại nói: 
“C’est incroyable”. (Thiệt không thể tin được) 
Thật là khó tin mà là sự thật. 
Khi tôi sang Mỹ rồi, vợ tôi gởi thư qua cho biết, có nhiều bạn đạo bị bịnh sạn thận, bí đái, bịnh viêm mũi, bịnh suy nhược, đến xin toa về uống, linh nghiệm phi thường. Hầu như toa thuốc trị bá bịnh, ai cũng cho là thuốc tiên.
Tôi nghĩ lại, người tu hành mà bị giải phẫu thì về sau khó tu lắm là vì cơ thể đã bị thương tổn rồi. Tôi nghĩ thương cho thân tôi, tôi nghĩ đến các bạn già như tôi, nếu gặp phải chứng bịnh như tôi mà phó thác cho Tây Y, lên bàn mỗ thì khổ biết bao, cho nên tôi viết ra bài nầy, và đăng lên bài thuốc tiên đã cứu bịnh cho tôi, để quí bạn đạo tùy nghi sữ dụng khi cần. Toa thuốc nầy chuyên trị về bệnh « suy thận, hư khí »

Và các biến chứng của nó. Kính mong giúp ích được phần nào cho quí bạn. 


Toa thuốc bổ khí bổ thận:
-1. Thục địa 3 chỉ
-2. Hoài Sơn 3 chỉ
-3. Trạch tả 3
-4. Đơn bì 2
-5. Táo Ngọc 2
-6. Phục linh 2
-7. Hắc Đổ trọng 3
-8. Ngưu tất 3
-9. Bạch truật 2
-10. Ngọc thung dung 3
-11. Táo nhơn 4
-12. Viễn chí 2
-13 Quảng bì 3
-14. Ngươn nhục 3
-15 Đản sâm 3
-16. Phấn thảo 2
-17. Câu kỷ 3
-18. Xích kỳ 2 chỉ.

http://chuaphaptang.com/vn/news/details/293 

Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2015


Ba câu chuyện về tái sinh luân hồi


Chúng ta lúc sinh tiền tạo nhân gì, thì khi chết rồi, nghiệp lực dẫn dắt tinh thần đến chỗ nó thọ báo không sai. Nếu tạo nhân tốt, thì luân hồi đến cảnh giới giàu sang, thân người tốt đẹp. Còn tạo nhân ác, thì luân hồi đến cảnh giới nghèo hèn, thân hình xấu xa, tàn tật.

Từ xưa đến nay người ta thường thắc mắc về vấn đề mất còn, sống chết. Có hai thuyết làm cho người ta chú ý đến nhiều nhất. Một thuyết cho rằng loài người cũng như loài vật, một lần chết là mất hẳn, không còn gì tồn tại sau đó nữa. Một thuyết cho rằng loài người chết đi, nhưng linh hồn vẫn vĩnh viễn còn lại, được lên thiên đàng hay bị xuống địa ngục.

Cả hai thuyết trên đều không đúng với sự thật. Chết rồi, không thể là hoàn toàn mất hẳn được, vì ở đời này, không có vật gì là mất hẳn. Cho đến một hạt cát, một mảy lông cũng không thể mất hẳn, huống là cái thân con người. Nhưng bảo rằng linh hồn thường còn, ở mãi trên thiên đàng hay dưới địa ngục cũng không đúng. Trong vũ trụ không có một cái gì có thể vĩnh viễn ở yên một chỗ, mà trái lại, luôn luôn biến đổi và xê dịch. Vả lại, có gì bất công hơn là chỉ vì những cái nhân đã gieo trong một đời hiện tại ngắn ngủi, mà phải chịu cái quả vĩnh viễn tốt hay xấu trong tương lai? Hai thuyết trên này đều bị đạo Phật bác bỏ.

Theo giáo lý đạo Phật thì chúng sinh không phải đoạn diệt, cũng không phải thường còn, mà quay lộn trong cảnh sinh tử “luân hồi”. Luân hồi theo chữ Hán thì “luân” là bánh xe, “hồi” là trở lại. Hình ảnh bánh xe quay tròn trở lại dùng để hình dung sự xoay chuyển của mỗi chúng sinh trong sáu cõi. Khi đầu thai ở cõi này, khi ở cõi khác. Tử sinh, sinh tử tiếp nối không ngừng, như bánh xe quay lăn. Khi đã công nhận luật nhân quả, thì chúng ta cũng không thể phủ nhận sự luân hồi, vì luân hồi chẳng qua là nhân quả liên tục. Bánh xe luân hồi quay tròn. Trên vòng tròn ấy, không có điểm khởi đầu cũng không có điểm kết thúc. Bánh xe ấy cứ quay mãi trong vòng trầm luân của sinh tử khổ đau cho đến khi nào con người tu tập và đạt đến sự giải thoát tối thượng.



Câu chuyện tái sinh của JENNY:
Năm 1993, một bà mẹ người Anh 40 tuổi đang sinh sống với chồng và hai con ở nước Anh đã đoàn tụ với năm người con của bà ở kiếp sống trước. Năm người con này hiện sống tại một thị trấn nhỏ ở miền bắc nước Aí Nhĩ Lan. Đây là câu chuyện tái sinh có thực đã xảy ra đầy thương tâm. Một câu chuyện đi tìm con vượt biên cương và trải dài qua nhiều kiếp người của một bà mẹ

Bà tên là Jenny và lúc nào cũng biết và nhớ là mình đã có một đời sống ở kiếp trước trong một ngôi làng nhỏ bên bờ biển xứ Ái Nhĩ Lan với tên là Mary. Mary đã từ trần 21 năm trước khi Jenny được sinh ra ở Anh Cát Lợi.

Một trong những giấc mơ luôn hiển hiện trong trí nhớ của Jenny là giây phút lìa đời của Mary trong nỗi đơn độc đau khổ và lo âu về tương lai của các con Mary mà đứa lớn nhất mới 13 tuổi. Mary nghĩ rằng mình đã có lỗi khi phải từ bỏ các con và nàng quyết định phải đi tìm con cho bằng được.

Ngay từ lúc còn nhỏ, khi mới bắt đầu cầm được viết, Jenny đã vẽ bản đồ một làng cùng những con đường dẫn đến một căn nhà mái tranh với từng căn phòng, góc bếp nơi Mary ở, đường đến nhà thờ, ga xe lửa, các cửa hàng bách hóa… Sau này so sánh với bản đồ Ái Nhĩ Lan ở trường học, Jenny đã khám phá ra rằng bản đồ mà Jenny đã vẽ từ trong trí nhớ, và trong những giấc mơ tiền kiếp thật giống với bản đồ một làng nhỏ nằm ở phía bắc thành phố Dublin Ái Nhĩ Lan, có tên gọi là Malahide.

Jenny lớn dần lên cùng với các hình ảnh nói trên. Trong tâm tưởng, Jenny vẫn cảm thấy có lỗi với các con (của kiếp trước) khi bỏ chúng lại bơ vơ nên Jenny quyết định đi tìm con. Jenny sắp đặt kế hoạch nhưng lại không đủ khả năng tài chánh cho chuyến đi nên đành hoãn lại và tình nguyện làm cho một nhà thôi miên. Ông này đã giúp Jenny nhớ lại thật nhiều hình ảnh chi tiết về cá nhân Mary và ngôi làng của Mary ở vào năm 1919.  Tuy nhiên Jenny vẫn chưa nhớ ra được “họ” tức “last name” của Mary là gì, điều này đã gây ra rất nhiều trở ngại.

Cuối cùng Jenny để dành đủ tiền để thực hiện một chuyến du hành qua Ái Nhĩ Lan. Đến đó, Jenny đã đứng chết lặng trước một căn nhà vì thấy hình ảnh này sao quen thuộc quá, giống như trong trí tưởng, giống như bản đồ Jenny đã vẽ.

Sau chuyến đi, Jenny trở về Anh quốc và bắt đầu thực hiện kế hoạch tìm con (của kiếp trước). Nàng viết thư cho tất cả các báo ở Ái Nhĩ Lan, các tổ chức sử học, các văn phòng hộ tịch, các chủ phố và dân làng Malahide để yêu cầu giúp đỡ về tin tức của một người đàn bà tên Mary chết vào năm 1930 cùng với những người con của bà này.

Một thời gian lâu sau đó, Jenny nhận được thư của một người cho biết ở Malahide có một gia đình mà người mẹ tên là Mary đã chết sau một thời gian ngắn khi sanh đẻ, để lại sáu đứa con còn nhỏ. Last name của bà đó là Sutton và sau khi bà qua đời, các con đã được gửi vào cô nhi viện.

Jenny bèn biên thư cho tất cả các viện mồ côi ở Ái Nhĩ Lan để dò hỏi tin tức. Jenny được một vị giáo sĩ ở một nhà thờ thành phố Dublin cho biết tên của tất cả sáu người con này và nói rằng sáu đứa trẻ này đã trở thành Ki Tô hữu tại một nhà thờ Thiên Chúa Giáo ở Malahide. Sau đó, qua niên giám điện thoại Jenny đã gửi thư đến tất cả những ai mang họ Sutton tại Aí Nhĩ Lan. Nàng cũng nhận được một bản sao giấy khai tử của Mary và hai bản sao giấy khai sinh của hai người con, nhưng vẫn không tìm ra tung tích. Một lần nữa Jenny lại gửi thư cho tất cả các báo ở Dublin và thư cho giáo sư Tiến sĩ Stevenson một chuyên gia nghiên cứu về các hiện tượng ở đời sống quá khứ để nhờ giúp đỡ. Ông này giới thiệu Jenny với một nhà nghiên cứu thuộc cơ quan truyền thông Anh quốc BBC.

Một thời gian khá lâu sau đó, Jenny nhận được điện thoại từ người con thứ hai ở Ái Nhĩ Lan. Cuộc nói chuyện hết sức khó khăn với nhiều tình cảm lẫn lộn nhưng nói chung có những dấu hiệu tốt đẹp. Jenny hứa sẽ gửi toàn bộ hồ sơ đã từng lưu trữ từ nhiều năm qua. Mặc dầu biết là các con của Mary bây giờ đều đã ở vào lứa tuổi 50 và 60 nhưng Jenny vẫn có cảm giác mạnh mẽ về tình mẫu tử, cảm giác là mẹ của họ. Tâm tư Jenny bây giờ thật xáo trộn giữa đời sống hiện tại và đời sống quá khứ từ kiếp trước.

Jenny thông báo đầy đủ diễn tiến mới cho đài BBC. Chờ mãi không thấy sự hồi âm của đứa con thứ hai mà Jenny đã nói chuyện qua điện thoại. Jenny quyết định liên lạc với Sonny, hiện đang ở thành phố Leeds Anh quốc. Sonny là người con đầu của Mary Sutton, khi Mary qua đời cậu mới 13 tuổi và bây giờ, vào năm 1990, Sonny đã 71 tuổi. Qua cuộc điện đàm Jenny mô tả cho Sonny biết về quá khứ của cậu, về hình ảnh căn nhà mái tranh, về tính nết của cậu, về những lời nói hay câu mắng của Mary với cậu hồi đó. Rất ngạc nhiên và khó có thể ngờ được người đầu dây bên kia lại chính là mẹ mình. Sonny ngỏ ý muốn được gặp Jenny.

Như đã thỏa hiệp với đài BBC, Jenny thông báo những biến chuyển mới. Đài BBC muốn phỏng vấn Sonny trước và trong thời gian này hai người không được liên lạc với nhau. Cũng trong thời gian này họ đã phỏng vấn thêm Jenny về những điểm chưa sáng tỏ. Cuộc điều tra của đài BBC kéo dài 4 tháng. Cuối cùng Jenny đã đích thân lái xe đưa cả gia đình của Jenny đến thành phố Leeds hội ngộ cùng Sonny. Cuộc đoàn tụ đã diễn ra thật cảm động. Giấc mơ đi tìm con của Jenny đã trở thành sự thực. Hai mẹ con, mẹ trẻ, con già đã ôm nhau với những giòng nước mắt tuôn trào.

Các chuyên gia đài BBC đều không thể ngờ được một khái niệm về trí tưởng lại có thể đúng một cách chính xác với thực tế như vậy. Họ cũng không ngờ rằng có một đời sống sau khi chết đang hiển hiện rõ ràng.

Với sự giúp đỡ của Sonny, cuối cùng vào năm 1993 Jenny đã hội ngộ đoàn tụ với tất cả 5 người con còn sống. Hơn 60 năm từ khi mẹ qua đời 6 anh em mới được đoàn tụ với nhau và đặc biệt hơn cả là đoàn tụ với người mẹ trẻ (là Mary) đã tái sinh ra trong kiếp này (là Jenny).

Năm 1994 Jenny đã được cậu con cả, nay đã 75 tuổi, dẫn đến thăm mộ phần của Jenny kiếp trước. Jenny đã nói trước phần mộ này rằng: “Mộ phần này không có gì cả, không có ai ở đây bây giờ. Có thể chỉ còn những nắm xương khô. Phần năng lực tinh thần hiện đang ở trong tôi”.

Câu chuyện tái sinh của BLANCHE BATTISTA:

Ðại úy Battista và vợ, đều là người Ý có sinh một con gái tại La Mã và đặt tên là Blanche. Ông mướn một người vú em Thụy Sĩ nói tiếng Pháp tên là Marie để trông nom bé. Marie thỉnh thoảng dạy bé bài hát ru con bằng tiếng Pháp. Bé rất thích bài hát này và thường hát đi hát lại mãi nên thuộc lòng. Chẳng may bé bị chết nên Marie phải trở về Thụy Sĩ.

Bé Blanche chết được 3 năm thì bà mẹ lại mang thai. Lúc thai được 4 tháng, bà đã có một giấc mơ lạ lùng trong lúc nửa tỉnh nửa mê. Bà cả quyết thấy rõ ràng bé Blanche hiện ra và nói với bà bằng giọng quen thuộc như hồi nào: “Mẹ ơi con sẽ trở về với mẹ”. Rồi bé biến mất. Ông đại úy hoài nghi, nhưng đến tháng 2 năm 1906, vợ ông sinh một bé gái. Ông cũng đặt tên là Blanche. Ðứa con gái mới sinh giống hệt như đứa con trước.

Đứa con gái đầu chết được 9 năm, khi đứa thứ hai được 6 tuổi thì một việc bất ngờ đã xảy đến. Ðây là lời của ông: “Trong khi vợ chồng tôi đang ở trong phòng đọc sách thì cả hai chúng tôi đều nghe thấy giọng hát ru con bằng tiếng Pháp vẳng ra từ phòng ngủ kế cận của đứa con gái. Lấy làm lạ chúng tôi liền vào xem thì thấy nó đang ngồi trên giường và hát bài ru con với một giọng Pháp rất tự nhiên. Nào có ai trong chúng tôi dạy cho nó đâu. Vợ tôi hỏi con đang hát bài gì đó thì nó trả lời đang hát bài ca bằng tiếng Pháp. Tôi liền hỏi ai dạy con bài hát này thì nó đã trả lời: Không ai dạy con cả, bài hát này có sẵn trong đầu con”.

Blanche, người con gái nước Ý, khi luân hồi đã báo cho mẹ biết là sẽ trở lại và em hãy còn nhớ bài hát bằng tiếng Pháp đã được người vú trông nom em dạy em ở tiền kiếp.

Chuyện tái sinh của ANNE:

Người kể chuyện này là một thiếu phụ tại Minneapolis, một chuyện có thực rất đơn giản nhưng rất giá trị.

Bà ta kể lại như sau: “Anne, cô em gái cùng mẹ khác cha của tôi nhỏ hơn tôi 15 tuổi là một đứa trẻ kỳ quặc ngay từ tấm bé. Nó không giống một ai trong gia đình. Da nó ngăm ngăm trong khi mọi người đều trắng trẻo vì thừa hưởng dòng dõi Tô Cách Lan – Ái Nhĩ Lan của cha ông.

Ngay khi biết nói rành rẽ, nó thường kể ra những câu chuyện hoang đường về nó. Vì thấy khá lạ lùng, tôi đã ghi lại trong cuốn nhật ký của tôi. Tôi có bổn phận phải trông nom nó vì mẹ tôi rất bận rộn. Với một đứa trẻ với cái trí óc non nớt làm sao nó có thể hiểu được những việc đại loại trong những câu chuyện hoang đường nó kể.

Ðiều đáng nói nữa là tất cả mọi việc nó làm đều như một thói quen. Nhìn cách nó cầm ly sữa lên và uống một hơi cạn ly thì bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên và vì nó mới có 3 tuổi. Khi bị quở trách nó cố gắng vâng lời, nhưng rồi sau lại đâu vào đó. “Mẹ à! từ trước đến nay con vẫn làm như vậy mà”. Nó nói với mẹ tôi bằng giọng trẻ thơ nghẹn ngào. Quá nhiều việc xảy ra do thói quen về cách ăn nói, cách suy nghĩ và cách hành động của nó nên cuối cùng chúng tôi không để ý đến nữa.

Năm nó lên 4 tuổi một hôm cha tôi làm nó bực bội điều gì đó, nó tức mình ngồi ngay xuống dưới đất trước mặt chúng tôi và bảo rằng nó có ý định đi xa. Cha tôi bật cười làm nó tức giận thêm. Nó không thích bị giễu cợt.

Loanh quanh một hồi nó bỗng nói “Con đã đến Gia Nã Ðại một lần, lúc đó con là đàn ông, ngay cả tên con lúc đó con cũng còn nhớ!” Cha tôi chế nhạo: “Vậy sao? Một đứa con gái nhỏ tại Hoa Kỳ lại là một người đàn ông Gia Nã Ðại. Thế con còn nhớ tên là gì không?” Nó suy nghĩ một chút rồi trả lời: “Lishus Faber”. Nó nhắc lại và cả quyết đúng là tên Lishus Faber. Cha tôi vẫn hỏi nó với điệu bộ giễu cợt. Nó nói thêm “Con là quân nhân và con đã chiếm được cửa thành” (and I took the gates!). Nó trả lời cha tôi một cách cao ngạo của một người thắng trận.

Tất cả đều đã được tôi ghi vào nhật ký. Ðã rất nhiều lần, chúng tôi cố gắng hỏi nó giải nghĩa thêm các câu nói của nó nhưng nó một mực chỉ nhắc lại câu trên và tỏ vẻ tức giận vì chúng tôi đã không hiểu. Khi nói đến việc giải nghĩa thì trí tưởng tượng của nó ngừng lại.

Tôi đã bỏ ra một năm để nghiên cứu về lịch sử Gia Nã Ðại với hy vọng tìm thấy một trận chiến nào đó có người “chiếm được cửa thành”. Tất cả đều vô vọng. Cuối cùng tôi được một quản thủ thư viện giới thiệu một cuốn tài liệu cổ xưa. Cuốn sách này sống động vì có nhiều hình vẽ với nhiều truyện ngắn. Bất ngờ tôi tìm thấy một câu truyện nói về thành tích chiến đấu của một đội quân nhỏ, chiếm đánh một thành phố cũng không có gì quan trọng. Truyện về một chàng trung úy trẻ với toán quân của chàng. Có giòng chữ hiện ra trước mắt tôi “Chiếm Cửa Thành” (‘took the gates’). Chàng trung úy này tên là “Aloysius le Febre”. Truyện trùng hợp với tên và câu nói của đứa em nhỏ ngây thơ của tôi đã nói trước đây với cha tôi!

Con người nào hay ngoài nỗi cơ cực của kiếp người, còn có đời sống siêu thoát, đời sống an lành. Ðó là đời sống của người hiểu “chân diệu pháp”. Không hiểu “chân diệu pháp” con người sẽ khổ đau mãi mãi trong kiếp luân hồi. Chân diệu pháp chính là Phật pháp. Trong Kinh Pháp Cú Ðức Phật dạy rằng đối với người không biết giáo pháp, vòng luân hồi mới quả thật là xa xôi diệu vợi:

(Pháp Cú 60)
Người mất ngủ thấy đêm dài
Bộ hành mỏi mệt than hoài đường xa
Luân hồi cũng vậy thôi mà
Chập chùng tiếp nối thật là tái tê
Với người ngu dại, u mê
Biết gì chánh pháp, hiểu chi đạo mầu.

Có thể nói một cách chắc chắn rằng, chúng ta lúc sinh tiền tạo nhân gì, thì khi chết rồi, nghiệp lực dẫn dắt tinh thần đến chỗ nó thọ báo không sai. Nếu tạo nhân tốt, thì luân hồi đến cảnh giới giàu sang, thân người tốt đẹp. Còn tạo nhân ác, thì luân hồi đến cảnh giới nghèo hèn, thân hình xấu xa, tàn tật./.

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

HẾT THUỐC CHỮA:Phát tiền để dân đi họp!


Dân hết sợ rồi, ngày tàn của chế độ đã tới !
Hồi xưa thì dân sợ, biểu đi họp là phải đi họp, không dám cãi, không dám chống đối, nhưng giờ đây dân chúng chẳng còn sợ nhà cầm quyền nữa nên từ đe dọa chuyển qua dụ dẫm, giờ bị dân chúng tẩy chay nên phải dùng tiền để dụ dân chúng đi họp để nghe chúng nó nói xạo, nhiều người dân rảnh rổi và thất nghiệp chấp nhận mất ít thì giờ nghe chúng nói xạo để có ít tiền mà đâu biết rằng tiền chúng phát cho mình cũng từ tiền thuế do dân đóng góp mà ra, thật là khốn nạn cho cái nhà nước chó đẻ này !!!


(Kiến Thức) - Quanh việc phát quà hoặc tiền để người dân đi họp được báo chí nêu trong thời gian qua, tòa soạn đã nhận được ý kiến phản hồi của bạn đọc.

Phat tien de dan di hop: Tien le xau
 Ảnh minh họa.
Ông Đỗ Văn Nhân (Sở Tư pháp Kon Tum) cho rằng, để triển khai chủ trương, chính sách của Nhà nước xuống đến thôn, tổ dân phố, thông thường chính quyền địa phương thường tổ chức họp dân để triển khai. Việc tập hợp dân phải thông qua trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố đi vận động từng hộ gia đình để dự họp. Tuy nhiên, việc người dân tham gia đầy đủ các cuộc họp của thôn, tổ dân phố là rất hiếm, nếu cuộc họp nào mà tham gia khoảng 40 - 50% người dân trong thôn, tổ dân phố thì coi như cuộc họp ngày hôm đó là thành công. 
Việc phát quà cho người dân ở góc độ nào đó là việc làm ý nghĩa, tạo điều kiện cải thiện một chút cuộc sống của người dân, đặc biệt là người nghèo, người dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Tuy nhiên, xét về tổng thể chung, việc phát quà, tiền cho người dân để người dân tham gia đầy đủ cuộc họp của thôn, tổ dân phố cũng mang đến nhiều hệ lụy nhất định, vì không phải cuộc họp nào cũng có kinh phí để tặng cho người dân, nếu tập hợp dân để triển khai các chủ trương, chính sách khác mà không được phát quà hoặc nhận tiền thì người dân sẽ không còn hào hứng tham gia các cuộc họp, dẫn đến việc triển khai các chủ trương, chính sách của nhà nước không được đầy đủ và kịp thời.
Hiện nay, một số địa phương, vì muốn tập hợp đông đủ người dân để lấy ý kiến về một chương trình, dự án hoặc triển khai các chủ trương, chính sách của nhà nước phải chuẩn bị quà hoặc tiền để phát cho người dân đến tham gia cuộc họp, theo tôi đây là việc làm không tốt, ảnh hưởng đến việc triển khai các chủ trương, chính sách của Nhà nước đến cơ sở. Chính vì vậy, cần hạn chế thậm chí không nên có tình trạng nêu trên, để các chủ trương, chính sách của nhà nước được triển khai đến cơ sở một cách kịp thời, đầy đủ, công bằng và nhận được sự hưởng ứng tích cực từ phía người dân mà không phải vì quà hay được nhận tiền mới tham gia cuộc họp, ông Nhân cho biết thêm./.

Tạo trầm trong tầm tay


Khi trầm kỳ tự nhiên cạn kiệt, người dân chuyển dần sang làm trầm hương nhân tạo, từ đó hồi sinh các làng xoi trầm ở Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa

Sau nhiều năm đi địu, vật vã với những cơn sốt rét rừng, ông Nguyễn Duy Toàn (44 tuổi, ngụ thôn Phú Hội 1, xã Vạn Thắng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa) quyết định giải nghệ về làm nghề xoi trầm thuê (gọt vỏ cây dó bầu để lấy trầm) rồi trở thành ông chủ của gần 20 lao động, thu lãi hàng trăm triệu đồng/năm.
Thu nhập ổn định
Dọc con đường liên xã Vạn Thắng, Vạn Bình, ở đâu phảng phất mùi thơm ngát, dìu dịu là y như rằng quanh đó có xưởng chế tác trầm hương. Tại cơ sở của ông Toàn, hàng chục công nhân đang chăm chỉ gọt, dũa từng thớ vỏ cây dó để lấy lớp lõi trầm hương.
Ông Toàn nhớ lại: “Lúc 16 tuổi, tôi đã tập tành theo cha đi lên các núi Hòn Dù, Sông Gốc, Thầy Nhứt, Thầy Nhì ở phía Nam đèo Cả kiếm trầm kỳ. Trầm hương mỗi lúc một khan hiếm nên nhiều người bỏ nghề đi địu. Mười mấy năm trở lại đây, người ta xoay qua trồng cây dó bầu, tạo trầm nhân tạo và làng trầm dần tái sinh”.

Cây dó bầu 12 tuổi được khai thác để lấy trầm
Cây dó bầu 12 tuổi được khai thác để lấy trầm

Nghề xoi trầm cũng lắm công phu. Khúc dó bầu được đẽo lớp vỏ gỗ bên ngoài đến khi lộ mạch trầm. Người thợ dùng dủm (dụng cụ gọt gỗ) xoi, xỉa những phần gỗ trắng, lần theo mạch trầm đen phía trong. Mạnh trầm muôn hình vạn trạng, đòi hỏi người thợ phải hết sức khéo léo để không phạm vào áo trầm. Với những mạch trầm uốn lượn như trôn ốc, họ phải tỉ mẩn dùng cây móc nhỏ nạo từng chút gỗ, như lấy ráy tai.
Ông Tấn Ba (thôn Phú Hội 3, xã Vạn Thắng) cho biết: “Gỗ dó chứa trầm được các thương lái bán với giá 1,7 triệu đồng/tạ. Vợ chồng tôi làm liên tục trong 3 ngày sẽ thu được hơn 1 kg trầm hương và bán lại với giá 2,5-3 triệu đồng/kg. Những mạch trầm lớn, phức tạp, hình dáng đẹp sẽ để lại để bán làm trầm cảnh, đồ mỹ nghệ với giá cao hơn. Còn những loại dăm (xác gỗ sau khi xoi) dùng để làm nhang rất thơm, giá khoảng 200.000 đồng/kg”.
Với nhiều người có tay nghề và kinh nghiệm về trầm hương bậc nhất cả nước, danh tiếng “Khánh Hòa là xứ trầm hương/ Non cao bể rộng người thương đi về” ngày càng vang xa. Hiện nay, xã Vạn Thắng có đến 50 lò chuyên làm các sản phẩm từ trầm nhân tạo.
Các xã khác ở huyện Vạn Ninh cũng có nhiều lò trầm tập trung, như xã Vạn Bình có khoảng 30 lò, xã Vạn Long khoảng 30 lò, xã Vạn Khánh 20 lò… Bạn hàng chủ yếu ở TP HCM, Hồng Kông, Đài Loan… Những lò lớn như lò ông Toàn mỗi tháng đưa ra thị trường gần 1 tạ trầm, mang lại thu nhập ổn định cho thợ xoi trầm từ 3-5 triệu đồng/người/tháng; còn tiền lãi ròng của các chủ lò lên đến cả chục triệu đồng/tháng.
Còn nhiều triển vọng
Ông Nguyễn Phúc, một chủ cơ sở bán thuốc tạo trầm cho cây dó ở xã Vạn Thắng, cho biết: “Dó bầu được trồng nhiều tại Khánh Hòa ở các huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh, thị xã Ninh Hòa. Ngoài ra, nhiều nơi cũng phát triển mạnh loại cây dó này như Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh, Phú Quốc, Bình Định…”.

Cây dó bầu mang trầm trị giá hàng chục triệu đồng của ông Nguyễn Phúc
Cây dó bầu mang trầm trị giá hàng chục triệu đồng của ông Nguyễn Phúc

Theo ông Phúc, dó bầu phải trồng 10 năm mới bắt đầu tạo trầm. Tỉ lệ cây ra trầm khoảng 70%-80%. Cây chưa đủ tuổi, tỉ lệ đạt trầm rất thấp, chừng 40%-50%. Có hai cách tạo trầm: Lột vỏ cây, sau đó quét thuốc tạo trầm lên và khoan vào trong thân cây dó rồi đổ thuốc vào. Sau khoảng 2 năm, cây dó sẽ tạo ra trầm. Phần vỏ gọi là trầm sánh bì, phần trong thân gọi là trầm khoan.
“Thuốc tạo trầm được làm từ gỉ sắt, nước mưa, muối và một số phụ gia, pha chế theo liều lượng. Thuốc tạo trầm rất quan trọng vì nó quyết định chất lượng trầm ra nhiều hay ít” - ông Phúc tiết lộ.
Theo ông Nguyễn Văn Tưởng, Giám đốc Công ty Trầm hương Khánh Hòa (trụ sở tại TP Nha Trang), trầm Khánh Hòa được thế giới đánh giá rất cao về chất lượng. Điều quan trọng là phải nâng cao chất lượng trầm hương nhân tạo trước việc cạn kiệt nguồn trầm tự nhiên. Công ty Trầm hương Khánh Hòa đang phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST), Viện Trần Nhân Tông (?)- Đại học Harvard (Mỹ), Viện Nghiên cứu công nghệ công nghiệp Đài Loan và một số tổ chức khác để hợp tác, ứng dụng, cung cấp kỹ thuật nuôi cấy trầm hương phù hợp, tạo ra những loại trầm có năng suất, chất lượng cao.
Theo VAST, hiện nay, việc phát triển vùng trồng cây dó bầu trên cả nước là khá lớn với diện tích ước tính khoảng 25.000-30.000 ha. Viện Công nghệ hóa học (thuộc VAST) cũng đã thực hiện thành công dự án sản xuất thử - thử nghiệm việc chiết xuất, ứng dụng tinh dầu trầm hương từ cây dó bầu, từ đó đem lại nhiều triển vọng kinh tế mới cho nghề này./.
Bài và ảnh: KỲ NAM  
http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/tao-tram-trong-tam-tay-20150306214947176.htm

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

Các nhà khoa học đã tạo ra ánh sáng mặt trời nhân tạo





Ánh sáng mặt trời nhân tạo này thật đến nỗi não của chúng ta thực sự nghĩ rằng chúng ta đang ở ngoài trời, chứ không phải ở dưới hầm.
Các nhà khoa học đã tạo ra ánh sáng mặt trời nhân tạo
Bạn đã bao giờ xem Ma trận và tự hỏi con người sẽ ra sao khi thực sự buộc phải sống dưới lòng đất do hậu quả của một cuộc chiến tranh nguyên tử, hay một cuộc xâm nhập của robot? Chúng ta sẽ phải sống cả cuộc đời không có ánh sáng mặt trời? Suy nghĩ trên có vẻ hoang tưởng và quá lo xa, nhưng thực tế, một trong những sáng tạo mới nhất của hãng Italia CoeLux có thể giúp chúng ta cảm nhận được ánh sáng mặt trời chiếu trên khuôn mặt mình, ngay cả khi xảy ra tình huống trên.
Các nhà khoa học Italia đã phát triển hệ thống ánh sáng mặt trời LED nhân tạo, rất giống với tia nắng mặt trời thực sự. Ánh sáng mặt trời LED sử dụng một lớp phủ các hạt nano mỏng để tái tạo lại hiệu ứng tán xạ Rayleigh, làm cho bầu trời có màu xanh da trời như thật. Điều này có nghĩa là ánh sáng mặt trời nhân tạo không chỉ chiếu sáng căn phòng, mà còn có kết cấu và cảm giác như ánh sáng mặt trời thật. Trong thực tế, nó thật đến nỗi có thể đánh lừa bộ não của chúng ta, khiến não chúng ta nghĩ rằng chúng ta đang ở ngoài trời – dù có đang ở dưới lòng đất sâu hàng km.
Ánh sáng mặt trời nhân tạo này sẽ có 3 loại, bắt chước ánh sáng thật ở những địa điểm khác nhau trên toàn cầu, bao gồm Bắc Âu, Địa Trung Hải và vùng nhiệt đới. Ánh sáng nhân tạo của CoeLux cũng có thể được dùng rộng rãi trong các phòng studio chụp ảnh để phát triển thành hiệu ứng ánh sáng tự nhiên. Hơn nữa, nó còn có thể dùng ở bất cứ đâu thiếu ánh sáng, từ những môi trường khắc nghiệt như gara đỗ xe ngầm, bệnh viện, phòng tập thể thao, các văn phòng hay thậm chí ở các suối khoáng ngầm.
Các nhà khoa học đã tạo ra ánh sáng mặt trời nhân tạo
Paolo Di Trapani, một trong các nhà khoa học đã nghiên cứu chủ đề này, tin rằng ánh sáng mặt trời sẽ cho phép các nhà phát triển tương lai xây dựng các công trình dưới mặt đất mà không hề gây cảm giác đó là nơi thiếu ánh sáng, ẩm thấp.
Các nhà khoa học đã tạo ra ánh sáng mặt trời nhân tạo
Nhưng trước hết, bạn hãy chuẩn bị hầu bao cho thật đầy, vì một bộ ánh sáng mặt trời nhân tạo này có giá khoảng 61.00 USD, và thêm khoảng 7.000 USD để lắp đặt hệ thống. Nhưng trong tương lai, các nhà phát triển hy vọng sẽ có cách giảm chi phí, đồng thời mong muốn sẽ tạo ra các loại "bầu trời" khác nhau, mang đến nhiệt độ, màu sắc, ánh sáng khác nhau./.

 https://www.youtube.com/watch?v=aJ4TJ4-kkDw

http://khoahoc.tv/khampha/kham-pha/60731_cac-nha-khoa-hoc-da-tao-ra-anh-sang-mat-troi-nhan-tao.aspx
 

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2015

Người Đàn Ông Ngồi Tù 103 Năm Vẫn Sống Sót Trở Về



Ông Golley ngày ra tù

Khi bị kết án tù 103 năm vào cuối thế kỷ 19, chắc ông Golley không bao giờ nghĩ mình sống đến ngày được thả. Nhưng điều kỳ lạ đó đã xảy ra.

Trong kỷ lục Guiness, người sống thọ nhất thế giới cũng chỉ bước qua tuổi 125 với những điều kiện sống được cho là khá hoàn hảo. Tuy nhiên gần đây, trong một cuốn sách mới được xuất bản tại Nga, người đàn ông có tên Golley đã khiến cả thế giới phải ngỡ ngàng khi sống thọ tới 120 tuổi, đặc biệt là trong 103 năm, ông này phải sống sau chấn song của nhà tù vì tội giết người. Cuốn hồi ký gây chấn động

Câu chuyện đặc biệt của ông Golley đã được nhiều người vùng Seberia của Nga biết tới vào năm 1998, khi người đàn ông này ra tù sau 103 năm thụ án. Tuy nhiên, cái tên Golley mãi mãi chỉ gói gọn trong một phạm vi hẹp nếu như vào tháng 9 vừa qua, cuốn sách tự thuật của người đàn ông này không được xuất bản tại Nga. “Đó là một câu chuyện kỳ khôi, một phép lạ mà tôi lần đầu tiên được nghe thấy trong đời”, giám đốc của nhà xuất bản, nơi phát hành cuốn sách của ông Golley, nhận xét.
Theo như những gì cuốn sách viết, vào năm 1895, cậu trai trẻ Golley 17 tuổi sống cùng gia đình tại vùng Seberia của nước Nga. “Gia đình tôi sống khá bình an với công việc chính là chăn nuôi gia súc trên các thảo nguyên rộng lớn. Ngay từ nhỏ, tôi đã giúp đỡ bố mẹ chăn bò, cừu. Cuộc sống sẽ tiếp tục diễn ra êm đẹp như vậy nếu như không có cái ngày khủng khiếp đó”, ông Golley kể lại.

Đó là một ngày tháng 8 năm 1895. Do con bò của gia đình đi lạc vào trang trại nhà hàng xóm nên chàng thanh niên 17 tuổi Golley đã bị người này mắng té tát. Không những thế, do có mâu thuẫn từ trước nên người hàng xóm đã không trả lại con bò cho gia đình Golley. Tức giận vì hành vi ngang ngược, Golley trong lúc nóng giận đã nổ súng giết chết người hàng xóm. “Bà vợ nhà hàng xóm nói rằng tôi phải trả giá cho tội ác của mình. Để tôi chết thì không đáng nên bà ta đã câu kết với các nhà chức trách địa phương để bắt tôi phải chết trong tù”, Golley kể lại trong cuốn sách. 

Thế là chàng thanh niên Golley bị tuyên án… 100 năm tù giam. “Người ta tuyên án thế là mong muốn tôi chết dần chết mòn trong tù. Có ai sống được đến 100 tuổi để ngồi tù như tôi đâu. Lúc đó tôi đã nghĩ cuộc đời mình kết thúc từ đây”, Golley bộc bạch. Sau một năm thụ án, Golley đã lên kế hoạch trốn tù, nhưng chỉ một tháng sau đã bị bắt lại, và "được" cộng thêm ba năm nữa, thành 103 năm.

Cuộc sống hai thế kỷ trong tù
Kể về cuộc sống 103 năm trong tù , Golley nói rằng ông đã sống trong một thế giới hoàn toàn biệt lập mà không hề biết những sự việc thay đổi xung quanh mình. Khi được ra khỏi nhà tù vào năm 1998, ông cứ ngỡ bản thân đang lạc vào một thế giới khác. “Tôi chưa bao giờ được nhìn thấy máy bay. Lần đầu tiên khi nhìn thấy nó, tôi cứ ngỡ đó là con chim khổng lồ bay lạc phía gần nhà mình. Tôi đã thốt lên rằng sao có một con chim to đến như vậy”.
Cũng theo Golley, tất cả những vật dụng của thế giới hiện đại như vô tuyến và máy tính ông cũng chưa bao giờ được nghe tới. Thậm chí, khi đất nước Nga trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới, ông cũng không hề hay biết. “Cuộc sống của tôi ở trong tù chỉ là sáng được mở cửa đưa đi lao động. Tối về bị nhốt sau chấn song của trại giam. 
Tôi không được đọc báo, không được ai thông tin về những diễn biến bên ngoài. Vì thế tôi cũng không biết rằng, bố mẹ mình đã chết trong một cuộc ném bom của phát xít Đức trong thế chiến thứ nhất”, người đàn ông này nghẹn ngào nói. Cuộc sống trong tù của Golley diễn ra vô cùng tẻ nhạt và vô vị.
Người đàn ông này đã phải sống một cuộc đời bị cô lập trong một thời gian dài dằng dặc. Golley cho biết rằng, hằng ngày ông chỉ làm bạn với chiếc giường và chiếc ghế duy nhất trong phòng giam mà ông được sở hữu. Trong hơn 100 năm sống trong tù, Golley luôn phải tắm nước lạnh và chưa bao giờ có được một mẩu xà phòng để làm cho cơ thể thơm tho hơn. 
“Một tuần một lần chúng tôi được dồn vào nhà tắm công cộng để kỳ cọ cơ thể. Đã có đôi lần tôi muốn có một chút xà phòng, nhưng những người lính gác đều quát vào mặt tôi rằng có ai nhìn hay ngửi ông nữa đâu, cần xà phòng làm gì. Những lúc như thế tôi đã nghĩ rằng, tôi sẽ phải chết mục xương trong nhà tù tăm tối này”.
Một điều đặc biệt nữa là ông Goolley cũng chưa bao giờ được nhìn thấy phụ nữ từ khi bước chân vào nhà tù năm 1895. Golley cho biết, nhà tù nơi ông trải qua 103 năm chỉ nhốt các tù nhân nam, tù nhân nữ được giam ở một khu khác. Hơn nữa, sự nghiêm khắc của những người quản giáo đã khiến cho chuỗi ngày dằng dặc phải sống trong tù của ông chưa một giây phút dù ngắn ngủi được ngắm một bóng hồng đi qua.
Cũng trong cuốn tự truyện, người đàn ông này viết: “Tôi đã chứng kiến sự ra đi của những người bạn tù cùng lứa tuổi từ cách đây vài chục năm. Có người chết vì bệnh tật, cũng có người chết vì tuổi cao sức yếu. Mặc dù mỗi người chết một cách khác nhau nhưng ai cũng có nguyện vọng trước khi chết được ra khỏi nhà tù một lần. Nhưng chẳng mấy ai thực hiện được điều đó. Được chứng kiến những cái chết cô đơn trong nhà tù như vậy, tôi luôn bảo mình rằng, phải sống đến khi ra khỏi nhà tù này, dù thời gian có dài thế nào đi chăng nữa”. 
“Bắt đầu lại cuộc đời chưa bao giờ là muộn” Tưởng chừng như nguyện vọng được ra khỏi nhà tù chỉ là chuyện viển vông, tuy nhiên những điều kỳ diệu của cuộc sống vẫn luôn xảy ra. Năm 1998, sau đúng 103 năm thụ án, ông Goolley đã chính thức được ra tù. Vào thời điểm đó ông tròn 120 tuổi. “Đó là một phép lạ mà chính bản thân tôi cũng chưa bao giờ dám nghĩ tới”, Goolley nói.
Ngày Goolley được trả tự do trở thành một ngày hội lớn của nhà tù nơi ông đã gắn bó phần lớn cuộc đời mình. Nhớ lại ngày đó, ông Goolley bồi hồi: “Trước khi ra tù, tôi đã được đưa đi cắt tóc gọn gàng. Những người quản trại đã góp tiền để mua cho tôi bộ quần áo mới và tặng tôi 50 rúp để bắt đầu cuộc sống mới. Họ nói với tôi rằng, cuộc đời bắt đầu lại chưa bao giờ là muộn và tôi thấy điều đó thật đúng”.

Khi được hỏi vì sao vẫn giữ được sức khỏe tốt mặc dù đã 120 tuổi, ông Goolley cho rằng bản thân ông đã phải làm việc chăm chỉ và đều đặn khi ở tù. “Đừng nói rằng cuộc sống trong tù không đem lại cho tôi điều gì tốt đẹp. Chúng tôi ở đây đều phải làm việc và ăn uống theo quy định, vì thế tôi nghĩ rằng tôi đã sống khỏe do được rèn luyện ở trong tù”. Cũng vì sức khỏe còn tốt, nên ngay sau khi ra tù, ông Goolley muốn tìm một công việc phù hợp để có thể tự kiếm tiền nuôi sống bản thân.
Trong bữa tiệc nhỏ do chính tay tù nhân làm để chia tay người tù cao tuổi nhất và là người phải sống trong tù lâu nhất, được hỏi có mong muốn gì khi được tự do, ông Goolley đã khiến mọi người phải bật cười vì thái độ thành thật của mình: “Việc đầu tiên tôi muốn làm là được tắm nước nóng, uống một ngụm Vodlka và sẽ cố gắng để lấy vợ”.
Theo ông Goolley, cuộc sống mới của ông được bắt đầu với những việc ông đã không thể làm hoặc chưa kịp làm trước khi bước chân vào tù. Ông không ngại nói mình sẽ tìm một người bạn đời ở lứa tuổi gần đất xa trời. Goolley luôn tự tin sẽ có những người phụ nữ thấu hiểu hoàn cảnh đặc biệt của ông và tìm đến ông để chia sẻ. 
“Tôi chưa từng hẹn hò hay cầm tay bất kỳ cô gái nào trong suốt 120 năm của cuộc đời. Vì thế khi được ra tù, tôi muốn có một người phụ nữ ở bên cạnh mình để bù đắp cho những tháng ngày tù tội của tôi. Tôi nghĩ rằng mình không quá già để có nguyện vọng như thế”, ông Goolley nói.
Những người trong gia đình của ông Goolley như bố mẹ và anh chị em đều đã chết trong chiến tranh thế giới thứ nhất, vì thế khi ra tù, người đàn ông này phải sống một mình. Biết được hoàn cảnh đặc biệt của ông, chính quyền địa phương nơi Goolley từng sinh sống có ý định đưa ông vào trại dưỡng lão, tuy nhiên ông từ chối. Giải thích lý do, Goolley cho biết ông muốn một cuộc sống tự do tự tại, không theo quy định hay khuôn khổ nào nữa. Ông Goolley cũng bày tỏ rằng, chỉ sống tự do thì ông mới có thể thực hiện được những ước muốn trên của mình.


Sưu tầm
http://nguoiphuongnam52.blogspot.com/2014/09/nguoi-ong-ngoi-tu-103-nam-van-song-tro.html