

Toán OHIO FOB2 KONTUM 1966-1967
Hàng đứng (từ trái sang phài)
Văn
Minh Huy, Wong A Cầu, MSG Richard J. "Dick" Meadows, 1st Lt. Lê Minh,
SFC James A Simpsons, SFC N. "Chuck" Kerns, Trần Can và Trương Dậu
Hàng quỳ (từ trái sang phài)
Liêu A Sáng, Nguyễn Kim Trạch, Trương A Nhục và Lý A Dưỡng
Để tưởng nhớ đến:
• Trung Úy Phan Nhựt Văn (Sở Liên Lạc)
• Đại Úy Dick Meadows (MACVSOG)
• Trung Tá Nguyễn Văn Nghĩa (Phi Đoàn 219 KingBee)
• cùng các Chiến Hữu Nha Kỹ Thuật đã phục vụ và hy sinh trong cuộc chiến tại Việt Nam.
Lê Minh
Đối
với người Âu Châu, con số 13 là số xui xẻo, con số tối kỵ. Nếu con số
này lại rơi vào ngày thứ Sáu thì càng tối kỵ hơn nữa. Riêng về phần tôi,
dạo còn đi học hay thời gian trong quân ngũ, tôi cũng chẳng kiêng cữ gì
với số 13 này cả… Thứ Sáu ngày 13 nếu là ngày không tốt, nếu là ngày
xui thì chỉ dành riêng cho người Âu Châu mà thôi… Nhưng đối với Đoàn
Khánh Hòa 13 này, con số 13 là con số mạt rệp, con số xui xẻo tận mạng,
con số đau thương tang tóc.
Tháng 6 năm 1966, buổi sáng thời tiết ở
Kontum thật là mát mẻ. Bầu trời trong xanh và cao thăm thẳm. Tôi có thói
quen ngày nào cũng phải nhìn trời để rồi liên tưởng đến thời tiết mỗi
ngày. Buổi sáng trời trong xanh, trần mây cao như thế này thật là lý
tưởng cho những chuyến hành quân xâm nhập hay triệt xuất. Thật ra các
chuyến công tác xâm nhập thường vào buổi chiều, mà buổi chiều ở vùng Tam
Biên thay đổi thất thường. Trời đang cao thăm thẳm không một tàn mây,
rồi mây đen ở đâu bỗng ùn ùn kéo tới thật thấp, tưởng chừng như là đà
ngọn cây. Tầm nhìn cao và xa không qúa 100 thước, do đó thường gây trở
ngại cho các chuyến hành quân nhưng lại là yếu tố thuận lợi cho các đoàn
quân Cộng Sản Bắc Việt trên hành lang Trường Sơn vùng 3 biên giới.
Tôi
vừa nhận được lệnh hành quân chiều hôm qua. Sáng nay khoảng 10 giờ thì
bay không thám. Bây giờ mới 7 giờ rưỡi sáng, còn sớm qúa! Tôi muốn trở
vào giường nằm nán thêm ít phút để suy nghĩ về những ngày phép sắp tới,
khi chuyến hành quân này chấm dứt. Niềm vui của những ngày về phép
Sàigòn, những ngày được sống cạnh Liên khiến tôi bỏ ý nghĩ vào giường
nằm lại. Tôi quay về phòng lấy gói thuốc lá và bước qua Câu Lạc Bộ uống
cà phê. Đang ngắm những giọt cà phê từ từ rơi xuống đáy cốc và nghĩ đến
bức thư của Liên vừa nhận được hôm qua, cho biết là đã mang thai được 2
tháng và hỏi tôi muốn đặt tên con là gì? Tôi thì thích con trai, Liên
thì muốn con đầu lòng là con gái… Đang mải suy tư bỗng giật mình vì
tiếng của Trung Sĩ Phát HSQ Ban 3:
-o- Trung Úy, 10 giờ sáng nay
Trung Úy bay không thám. Xe Jeep Ban 3 đã chuẩn bị sẵn sàng chở Trung Úy
ra phi trường đang đậu ở TOC. Trung Tá nhắc Trung Úy ra phi trường đúng
giờ, đừng để tụi Mỹ nó chờ!
-o- ”Con c…” – Tôi muốn chửi thề tiếp
theo nhưng vội tốp lại. Tại sao ông xếp nào cũng có tính lo xa? Các ông
ấy đâu có biết những điều thiếu tế nhị đó thường làm bọn Sĩ Quan trẻ
chúng tôi tổn thương tự ái. Rồi tôi tự nhủ ”Quân Đội là vậy đó. Buổi
sáng trời đẹp như thế này xì nẹt làm gì?”. Nghĩ thế tôi bèn cười và nói
với Trung Sĩ Phát:
-o- Ngồi xuống đây, còn sớm mà… Cà phê sữa nhé?
Qua phút ngượng vì tôi xì nẹt bất tử, Trung Sĩ Phát ngồi xuống nói:
-o- Bản đồ đã làm xong. Em đã khoanh tọa độ các bãi đáp theo như không ảnh dự trù. Có điều các bãi đáp đều qúa xa mục tiêu!
-o- Tao biết… Ban 2 và Ban 3 đã thuyết trình hôm qua rồi. Mày sợ ở vùng mục tiêu không có bãi đáp triệt xuất phải không?
Vì
bảo mật, các mục tiêu hành quân chỉ giới hạn cho một số người biết. Hạ
Sĩ Quan Ban 3 như Trung Sĩ Phát thì chỉ biết làm bản đồ hành quân, còn
nhiệm vụ hành quân và tin tức tình báo thì biết một cách hạn chế. Nhưng
vì phục vụ ở Ban 3 Chiến Đoàn từ lâu, phụ trách đánh máy giải trình các
cuộc hành quân, do đó Phát cũng đoán được tính chất của mục tiêu và
nhiệm vụ cuộc hành quân này. Thật ra nhiệm vụ chính của cuộc hành quân
này vẫn là thám sát, báo cáo và hướng dẫn phi cơ oanh kích. Nhiệm vụ phụ
là ”bắt tù binh”. Có điều tôi thấy hơi khác lạ là trước nay thường có
lệnh chuẩn bị hành quân từ trước. Sau đó, toán được đưa vào Khu Cấm, nội
bất xuất – ngoại bất nhập. Xong đâu đó, Toán Trưởng mới nhận được lệnh
hành quân; tham dự thuyết trình với các Sĩ Quan Ban 2 và Ban 3 với các
không ảnh mới nhất; sau đó đi bay không thám để chọn bãi đáp. Ở nhà Toán
Phó tùy theo tính chất mục tiêu và nhiệm vụ hành quân, liên lạc với Ban
4 để trang bị đầy đủ theo nhu cầu.
Toán
ở trong Khu Cấm thường thì 2 hay 3 ngày. Trong thời gian này, chỉ có
Toán Phó và Toán Trưởng bận rộn thôi. Toán viên chỉ lo lau chùi vũ khí,
chuẩn bị các quân dụng cần thiết mang theo cho phù hợp với nhiệm vụ
chuyến công tác. Trước khi đi hành quân, cả toán được xe chở ra sân bắn
để thử súng. Ngoài ra, cả ngày toán chỉ ở trong Khu Cấm, nằm nghe nhạc,
thục bi-da và xem báo PlayBoy. Báo PlayBoy thì các HSQ cố vấn toán cung
cấp không thiếu.
Lần hành quân này, nếu hôm nay tôi bay không thám,
chọn được bãi đáp rồi thì chiều nay là ”go” ngay. Mấy thằng em tôi trưa
nay mới phải vào Khu Cấm, trang bị và thử súng cũng nội trong buổi
chiều. Gấp qúa nhưng tụi nhỏ nó khoái. Làm sớm nghỉ sớm! Tôi lại nghĩ
đến buổi thuyết trình chiều qua. Nhìn vẻ mặt thật quan trọng của Trung
Tá Cold Cố Vấn Trưởng và Trung Tá Chiến Đoàn Trưởng sau khi được SQ Ban 2
và Ban 3 cho biết là mức độ xâm nhập của địch vào vùng Benhet rất cao.
Hình ảnh do vệ tinh chụp được cho thấyxe vận tải và bộ binh của địch di
chuyển rất rõ. Tin tức tình báo như thế này thì xếp vào loại A rồi!
Nhiệm vụ chuyến hành quân này là: quan sát, chỉ điểm cho khu trục oanh
kích các đoàn quân xa và các đơn vị địch. Ngoài ra còn tìm các kho tiếp
liệu quanh vùng này.
Tin tình báo cho biết địch sẽ chuẩn bị tấn công
vào quận Tân Cảnh hoặc thị trấn Dakto. Tôi cũng khoái nhiệm vụ của cuộc
hành quân này, vì không phải trang bị nặng cho các mục tiêu cần chất nổ
hay mìn đặt trên đường. Có điều làm gấp như thế này sợ mấy thằng em của
tôi thiếu chuẩn bị. Tôi quay qua Tr/Sĩ Phát:
-o- Anh chạy xuống
toán gọi Thương Sĩ Sơn giùm tôi. Tôi chờ anh về uống cà phê và ăn sáng
luôn. Phải dặn Th/Sĩ Sơn vài điều mới được…
Tôi đi bay sớm nhất
cũng 1-2 giờ trưa mới về. Buổi chiều còn biết bao nhiêu việc phải làm và
tôi lại nghĩ đến Thượng Sĩ Cố Vấn toán mới vừa đổi về hơn 3 tuần. Chúng
tôi đã đi hành quân 5 ngày thực tập tuần trước. Tên này rất có kinh
nghiệm trong ngành Lực Lượng Đặc Biệt. Nghe nói hắn là HSQ xuất sắc nhất
của Liên Đoàn 5 LLĐB Hoa Kỳ. Toán tôi có 3 tên Mỹ, tên nào cũng có từ
10 đến 15 năm kinh nghiệm trong LLĐB. Cố Vấn Trưởng Thượng Sĩ Richard J.
Dick Meadows. Hai Trung Sĩ kia là James A. Simpson và Trung Sĩ Charles
N. Chuck Kerns. Hai Trung Sĩ này, một người là chuyên viên mìn bẫy và
phá hoại, còn người kia là chuyên viên truyền tin kiêm cứu thương. Các
Cố Vấn đối với toán rất thân mật, vui vẻ và cởi mở. Không biết đây là
tiêu lệnh trên chỉ thị, hay là vì vào sanh ra tử chung với chúng tôi nên
họ sống rất hòa mình với anh em toán.
Thượng Sĩ Sơn bước vào Câu Lạc
Bộ cùng lúc với mấy Sĩ Quan trực thăng H-34. Tôi đẩy ghế và vẫy tay gọi
họ lại ngồi chung, cùng lúc Trung Úy Huệ hỏi:
-o- Ê Minh Đen, cà phê sớm qúa vậy? Mày chuẩn bị hành quân phải không?
Tôi không trả lời vội, gọi mấy cô Câu Lạc Bộ xếp thêm ghế cho họ ngồi vây chung quanh bàn tròn rồi trả lời:
-o- Ừ có lẽ chiều nay, nếu thời tiết tốt.
Tôi quay qua Trung Úy Nghĩa, Trưởng Biệt Đội:
-o- Tụi mày xắp đổi Crew chưa? Sau lần hành quân này tao đi phép về Sàigòn, tụi mình rủ thằng Tuấn-con đi chơi.
Các
Sĩ Quan trực thăng trong Phi Đoàn Long Mã 219 này nhìn vào chẳng giống
các Sĩ Quan Không Quân khác một chút nào cả. Mặc đồ Biệt Kích, đồ Beo!
Súng Colt 9 ly đeo xệ xệ, chẳng có lon lá gì cả. Nếu trong tay không cầm
nón bay thì chẳng ai biết đây là những Sĩ Quan Không Quân hào hoa phong
nhã. Nếu các binh chủng có sự đoàn kết sống chết với nhau thì phải kể
đến các Phi Hành Đoàn này với các đơn vị hành quân của chúng tôi, như
câu châm ngôn truyền tụng: ”Không bỏ anh em, không bỏ bạn bè”. Trong các
chuyến hành quân ”Ra Đi Không Hẹn Ngày Về” của các toán Lôi Hổ, qua
chiến công của các toán Biệt Kích mang về, một phần lớn cũng nhờ vào
những phi vụ cảm tử của các phi công trẻ này. Với những nick-name mà các
toán thường nhắc nhở như: Hùng Râu Kẽm, Nghĩa Lùn, Hiếu Chết, An
Cào-Cào, v.v… Bất chấp hỏa lực phòng không của địch, bất chấp các toán
Biệt Kích đang bị địch truy kích và sắp sửa bị tiêu diệt, những chàng
trai này vẫn liều mạng đáp xuống.
Không
những các toán Lôi Hổ coi các phi hành đoàn này như anh em, mà các phi
công Hoa Kỳ yểm trợ hành quân chung cũng phải giở nón cúi đầu trước các
phi vụ ”uống thuốc liều” của các chàng trai trẻ này. Chúng tôi thường
nói đùa: Họ là những chàng trai hành quân mang dép… Lạnh cẳng, cần mang
giầy, mang vớ thì đi chỗ khác chơi! Do đó, tuổi thọ của những chàng trai
này thường ”gẫy cánh” ở luới tuổi dưới 30! Hôm nay, không có toán nào
trong vùng hành quân nên bọn họ còn nhởn nhơ ở đây. Mỗi ngày, nếu có
toán hành quân trong vùng thì 6 giờ sáng phải bay lên căn cứ yểm trợ
Dakto ứng chiến rồi.
Tôi dặn Thượng Sĩ Sơn vài điều cần thiết rồi quay sang hỏi tiếp Nghĩa:
-o- Hôm nay mày được bao nhiêu ”chỉ” rồi? Tao nghĩ vài bữa nữa tụi mày đếm chỉ lia lịa đó.
Nếu
người ngoài nghe câu này chắc chẳng hiểu gì cả. Không biết danh từ này
do ai đặt ra, đến nỗi các bà lái phi công ở nhà cũng biết và xài danh từ
này! Vì đảm trách các cuộc hành quân mà phi vụ nào cũng rất hiểm nghèo,
do đó các Phi Đoàn H-34 và các Phi Đoàn O2 to BTL/KQ biệt phái sang,
mỗi lần bay vượt biên giới đều được thưởng 3000 đồng. Số tiền này so với
thời giá thì cũng khá lớn. Tuy nhiên, rất xứng đáng với nhiệm vụ nguy
hiểm mà họ phải đảm trách.
-o- Nghĩa cười: ”Nướng hết rồi”.
Tên
này coi chậm chạp và ít nói như con gái, nhưng bay bổng, mạt chược và
binh xập xám thì một cây! Tôi xem đồng hồ và đứng lên nói: ”Thôi, tao đi
trước!”, rồi quay sang bà Chủ Câu Lạc Bộ hô: ”Ghi sổ hết cho tôi”.
Sau
hơn 2 giờ bay không thám trở về, vừa xuống xe đã thấy Thượng Sĩ Sơn
đứng chờ sẵn. Tôi đưa ngón cái lên, ngầm cho Sơn biết là việc lựa chọn
bãi đáp đã OK. Cầm lon Coke lạnh Thượng Sĩ Sơn đưa tới, tôi vừa đi vừa
uống rảo bước xuống TOC. Trung Tá Chiến Đoàn Trưởng, Trung Tá Cố Vấn
Trưởng, các Sĩ Quan Ban 2, Ban 3, các phi công O2, trực thăng võ trang,
các trưởng phi cơ Việt, Mỹ đã có mặt ở dưới này rồi. Teo nheo mắt và bắt
tay Thượng Sĩ Meadows. Cả hai cùng nói: ”Good afternoon!”.
Buổi
thuyết trình này chỉ chú trọng về phần yểm trợ của Không Quân. Ý niệm
hành quân cũng như lộ trình di chuyển của toán do Toán Trưởng dự trù.
Thường thì Sĩ Quan Không Trợ Mỹ cho biết các lực lượng Không Quân yểm
trợ cuộc hành quân cũng như các quy định thường lệ. Sĩ Quan FAC thuyết
trình, chỉ định điểm hẹn 1, cho biết tần số liên lạc với khu trục A1-E
đang trong vùng ở địa điểm 2. Lần này, toán chúng tôi hành quân đủ cấp
số 12 người. Do đó, xâm nhập phải cần tới 2 trực thăng.
Vào tới địa
điểm 1 – Biệt Đội 6. Chiếc trực thăng H-34 chỉ có Lead 1 và 2 theo hướng
dẫn của FAC vào mục tiêu. Số 4 chiếc còn lại chờ ở điểm hẹn 1. Trường
hợp gặp hỏa lực phi cơ bị rớt thì thứ tự các Rescue 1 rồi 2 vào tiếp
cứu. Sau đó, trực thăng võ trang sẽ bắn rocket chung quanh bãi để H-34
xuống tiếp cứu. Trong trường hợp tình hình qúa nặng thì FAC sẽ điều động
phi cơ khu trục A1-E ở điểm hẹn 2 vào tiếp. Nếu toán xâm nhập an toàn
thì biệt đội trực thăng H-34 bay về Dakto ứng chiến. Trực thăng võ trang
sẽ ở lại điểm hẹn 1 thêm 45 phút nữa. Sau đó, nếu mọi việc an toàn thì
cũng bay về Dakto ứng chiến. Cuối cùng, khu trục A1-E sẽ giải tỏa bom
đạn ở target G.
FAC
luôn luôn có mặt trên vùng khoảng 30 dậm cách mục tiêu. Ngoài trường
hợp khẩn cấp, toán sẽ báo cáo với FAC vào mỗi đầu giờ. 4 giờ 30 chiều
thì báo cáo công điện trong ngày và vị trí dự trù đóng quân đêm. Thường
thì công tác tuần tự như thế. Nhưng vì buổi sáng nay khi bay không thám,
nhìn thấy bên dưới đường mòn chi chít như màng nhện. Hình ảnh không
thám chụp từ mấy ngày trước bây giờ thấy xuất hiện thêm rất nhiều con
đường mới. Nơi có ghi những con suối, bọn Công Binh của địch đã đổ đá và
kè cây liền nhau cho xe vượt qua, dấu vết rất mới mẻ. Viên phi công
FAC, người đã bay rất quen thuộc với vùng này cũng xác nhận các đường
mòn này chỉ mới xuất hiện nội trong 1-2 ngày nay thôi. Ngoài ra khi bay
không thám, tôi thấy các ngọn núi cao trong vùng đều có đặt tổ báo động.
Tôi nghe súng trường ba tiếng một vang từ chỏm núi này sang chỏm núi
khác.
Để có yếu tố bất ngờ, tôi đề nghị: ”Từ điểm hẹn 1, FAC hướng
dẫn 2 trực thăng chở toán xâm nhập bay thật thấp, vào tới mục tiêu thì
đáp luôn.”. Thiếu Tá Hoa Kỳ bay FAC nhìn các Sĩ Quan H-34 như hỏi ý kiến
rồi ông nói: ”Từ điểm hẹn 1 vào mục tiêu khá xa, tôi đề nghị khi đi
được khoảng 2/3 đường thì trực thăng mới bắt đầu hạ thấp cao độ. Như vậy
cũng đủ yếu tố bất ngờ rồi. Vì bãi đáp khá lớn nên khi tôi lắc cánh ra
dấu hiệu Bingo-Bingo-Bingo thì trực thăng 1 đáp xuống; khi chiếc này bốc
lên thì trực thăng 2 đáp xuống.”. Đề nghị này rất khó cho phi hành đoàn
vì FAC bay thật cao, hướng dẫn cho trực thăng lúc này đang bay rất thấp
nên có thể sẽ không thấy được bãi đáp. FAC hướng dẫn Lead 1: Hướng 12
giờ 1000 thước, 800 thước, 600 thước, 400, 200, 100… Sau đó, FAC từ trên
cao chúi xuống lắc cánh và gọi ám hiệu của máy bay ”Bingo-Bingo-Bingo”.
Khi FAC lấy cao độ bay lên cũng là lúc Lead 1 đáp xuống. Khi Lead 1 bốc
lên thì Lead 2 cũng vừa bay tới và đáp xuống luôn.
Như đã nói ở
trên, trường hợp này bãi đáp phải lớn. Nếu bãi đáp nhỏ thì Lead 2 phải
bay vòng lại để đáp cho đúng chiều, và nếu như vậy thì sẽ không còn yếu
tố bí mật nữa. Nếu trong vùng bãi đáp không có các tổ báo động của địch
thì chúng tôi giữ yếu tố bí mật được khoảng 80-90% rồi.
Sau đó, tôi
lên bục thuyết trình, cho biết ý định hành quân của tôi mà tôi đã có ý
niệm từ lúc ngồi trên chiếc O2 trên đường bay không thám về. Tốc độ di
chuyển mỗi ngày, dự trù các điểm đóng quân đêm từ ngày N đến ngày N+4
trên đoạn đường từ bãi đáp đến mục tiêu. Ngày N+5 sẽ thám sát các tọa độ
tại mục tiêu mà không ảnh đã cung cấp. Dự trù sẽ triệt xuất ngày N+6.
Bãi đáp triệt xuất được dự trù ở tọa độ 200(th) hướng Đông-Nam, điểm
đóng quân ngày N+4. Trường hợp chạm địch hoặc phải triệt xuất khẩn cấp
thì bãi đáp sẽ tùy theo địa thế. Dấu hiệu cho phi cơ nhận toán là pano
mầu cam trên chỏm nón. Dấu hiệu an toàn là pano mầu đỏ hình chữ T, mũi
quay về hướng Bắc. Khói vàng là bãi đáp an toàn. Tôi hỏi: ”Ai có ý kiến
gì nữa không?”. Tất cả đều chúc toán ”good luck”.
Bốn chiếc trực
thăng võ trang vừa bay vượt qua dẫy núi hướng Tây-Bắc Dakto. Trực thăng
chở toán 6 chiếc cũng bay theo. Trước đó vài phút, 4 chiếc khu trục A1-E
bay đảo một vòng quanh bãi đáp trực thăng như ngầm cho biết ”Chúng tôi
đã sẵn sàng chờ các bạn”, xong cũng bay khuất vào những mỏm núi cao
hướng Tây-Bắc. Thời tiết chiều nay thật lý tưởng. Mặt trời đã gần sụp
xuống ở chân trời nhưng hướng Tây trời vẫn còn sáng. Dự trù trực thăng
bay khoảng 40 đến 45 phút, như vậy chúng tôi sẽ đến bãi đáp khoảng gần 6
giờ chiều. Xâm nhập mục tiêu trong thời gian này, xuống đất chúng tôi
chỉ cần di chuyển khỏi bãi đáp chừng 300 đến 400 thước là có thể đóng
quân. Địch dù đoán được có Biệt Kích xâm nhập nhưng tối rồi cũng khó mà
theo dấu của chúng tôi.
Ngồi bên cửa trực thăng bỏ chân ra ngoài, tôi
ngắm nhìn những cánh rừng cây cao xanh ngút ngàn điểm đầy những hố đỏ
thẫm, dấu vết của những trân mưa bom B-52. Phi cơ tôi chở 6 người, gồm 2
tiền sát viên, tôi, Thượng Sĩ Meadows, 1 toán viên y tá và Trung Sĩ
Charles mang máy truyền tin. Trực thăng thứ hai chở Toán Phó, Trung Sĩ
James, 2 nhân viên phá hoại và 2 hậu vệ. Trời mới đó mà xụp tối rất
nhanh. Gió tạt vào người tôi mát lạnh đến tê da. Trực thăng đến điểm hẹn
1, đảo vòng lấy hướng về bãi đáp và bay với cao độ thấp dần rồi giữ cao
độ là đà trên ngọn cây cho đến bãi đáp. Cả đám xuống bãi đáp an toàn.
Trời cũng vừa tối hẳn. Sau khi làm thủ lệnh kiểm soát tất cả đã an toàn,
tiền sát viên bắt đầu di chuyển theo hướng đã định.
Đêm đó, chúng
tôi đóng quân an toàn cách bãi đáp khoảng 500 thước. Tất cả toán chúng
tôi tìm một địa thế cao, có cây không qúa to rồi đứng thành vòng tròn,
mỗi người cách nhau một cánh tay dang ngang, đầu quay vào trong, xong
đâu đó quay 180 độ ngược ra ngoài. Chúng tôi đóng quân quay thành hình
tròn. Mỗi khi có báo động, chúng tôi đã có đội hình phòng thủ 360 độ.
Ba-lô kê đầu, lưng lót poncho, dây đạn chỉ cởi khoen nhưng không tháo
khỏi lưng, nằm ngủ súng luôn để trên bụng. Những ngày hành quân chúng
tôi đều ngủ như thế.
Thay phiên nhau mỗi người gác một giờ. Đôi khi
cảnh giác, chúng tôi cũng chăng giây báo động; một loại giây rất nhỏ
bằng bao thuốc lá, vận hành bằng pin. Ban đêm chăng giây này cách mặt
đất khoảng 3-4 tấc. Giây đứt, micro sẽ kêu lên, to nhỏ tùy theo volume
đã được điều chỉnh từ trước. Tối ngủ, một người chỉ cần móc cái khoen
của hộp báo động vào quai vai áo. Hệ thống báo động này rất nhạy, tuy
nhiên cũng gây phiền phức không ít khi thú rừng đi vướng, hoặc cây khô
ban đêm rơi xuống làm đứt giây.
Tôi tuyệt đối không bao giờ cho căng
võng hoặc che lều. Trời có mưa thì trùm poncho chịu trận suốt đêm! Che
lều đêm sương xuống lều sẽ phản chiếu ánh sáng, ở xa trông rất rõ. Ngủ
võng đêm lúc trở mình sẽ khua động cành cây. Tôi cảnh giác cao như thế
nên sau 2 năm hành quân, toán tôi chỉ bị theo dõi mấy lần nhưng chưa lần
nào bị địch tấn công lúc đóng quân đêm cả. Địch thường theo dõi lúc
toán mới xuống bãi đáp hoặc trong khi di chuyển, chờ lúc toán đóng quân
là tấn công ngay. Buổi tối, chúng tôi không được phi cơ yểm trợ nên địch
sẽ được lợi thế hơn. Nhiều toán đã bị đi đứt trong khi đóng quân đêm vì
đồ đạc cởi bỏ lung tung, gây ồn ào hoặc hút thuốc lá, hay dùng C4 nấu
cà phê.
Chúng tôi thường có câu: ”Đường mòn là mồ chôn Biệt Kích”.
Hành quân cứ theo đường mòn mà đi hoài thì trước sau gì cũng lảnh thẹo.
Hành quân mà hút thuốc lá là vô tình để cho địch theo dõi. Hút thuốc
trong rừng ban ngày thôi, khói thuốc cũng bay từ 15 – 20 thước. Thuốc lá
thơm thì mùi sẽ còn dễ nhận ra hơn nữa. Cả toán anh nào cũng là dân
ghiền thuốc nên tôi cũng du-di, nhưng mỗi lần hút chỉ được hút phân nửa
điếu đã được cắt đôi. Trong khi hút thuốc phải che điếu thuốc bằng nón
vải. Nhả khói ra là lấy nón quạt khói tan ngay. Chỉ được hút 3 lần trong
một ngày, mỗi lần hít vài hơi cho đỡ ghiền. Hút xong xé tan phần còn
lại, bốc một nắm đất trộn đều xơ thuốc lại rồi rải xuống đất.
Không
được hút thuốc có đầu lọc vì đầu lọc khó xé nhỏ, dễ để lại dấu vết. Tôi ở
nhà hút mỗi ngày cũng gần một gói nhưng đi hành quân thì tôi nhịn. Chỉ
tội nghiệp Trung Sĩ Charles, suốt cuộc hành quân miệng không ngớt nhai
thuốc lá. Tôi cũng thuộc loại các Toán Trưởng chịu chơi, thường che chở
và bật đèn xanh cho tụi nhỏ muốn làm gì thì làm, nhưng đi hành quân thì
tuyệt đối phải giữ đúng tiêu lệnh chung. Tôi biết tụi nhỏ cũng than lắm,
nhưng chịu khó vài ngày mà được trở về an toàn bộ không sướng hơn sao?
Ngày N+1
Phi
cơ lên vùng rất sớm. Chúng tôi báo cáo trong đêm vô sự và bắt đầu di
chuyển theo lộ trình. Đường đi rất khó vì B-52 oanh tạc, cây cối đổ ngổn
ngang cùng hướng tiến của chúng tôi. Vì phải đi qua các hố bom đường
kính trên 15-20 thước nên di chuyển rất chậm vì phải định hướng lại
hoài. Buổi trưa trên con đường mòn nhỏ, trên đỉnh của một ngọn núi thấp
chạy theo hướng Tây-Bắc – Đông-Nam, chúng tôi phát giác gần 25 cái chòi
nhỏ, vuông, mỗi cạnh khoảng 3 thước. Sạp được lót bằng tre cách mặt đất
khoảng 5 tấc. Các chòi này được bọc quanh bằng phên tre phết đất, cao
khoảng 1 thước, bên trong chứa đầy lúa khoảng 8 tấc. Phần 2 tấc bên dưới
chứa trấu. Ngăn đôi giữa lúa và trấu là một lớp lá rừng. Các chòi có
nóc cao hơn 2 thước, lợp tranh, mái chòi chạm đất. Chòi đã thấp, lại
được làm dưới tầng cây cao nên phi cơ quan sát khó thấy được. Tôi báo
cáo lên FAC xin chỉ thị ở nhà và được lệnh cứ tiếp tục di chuyển. Hướng
dẫn cho FAC thấy mục tiêu xong, chúng tôi sẽ di chuyển để FAC hướng dẫn
khu trục đến oanh tạc bằng bom Napalm.
Tôi cho đốt một chòi để FAC
thấy. Sau đó, toán chúng tôi di chuyển nhanh xuống triền núi. Lúa gặp
tranh và phên tre nên bùng cháy rất nhanh. Lúa chỉ đổ tràn xuống thôi
chứ không cháy được. Không biết bom Napalm có làm cháy hết số chòi lúa
này không? Chung quanh không có rẫy trồng lúa. Di chuyển số lượng lúa
này từ xa đến đây chắc địch phải mất rất nhiều ngày và nhân lực. Khi đến
chân núi, chúng tôi thấy 2 chiếc F4-C Phantom từ trên cao bổ nhào
xuống, thụt bom Napalm rồi bay vụt qua đầu chúng tôi. Tôi mong cho những
đồi lúa bị cháy. Lúa đổ xuống đất chỉ cần có mưa hoặc sương đêm cũng đủ
làm cho lúa nẩy mầm là không dùng được rồi. Buổi tối hôm đó chúng tôi
đóng quân cạnh một con suối nhỏ. Trời vừa xụp tối đã nghe có tiếng xe di
chuyển ở hướng Tây. Tiếng xe hú to chứng tỏ là xe đang phải chở nặng,
hoặc cố vượt qua các dốc cao hay suối cạn. Tiếng bom B-52 nổ suốt đêm về
hướng Bắc khiến mặt đất và cây cỏ rung lên từng chập sau mỗi đợt tiếng
nổ. Tuy nhiên, sau đó đêm yên tĩnh…
Ngày N+2
Vừa
di chuyển theo suối khoảng 200 thước, chúng tôi cặp dọc theo 2 bên con
suối trong một khu rừng thấp và phát hiện một chỗ đóng quân cho khoảng
từ 150 đến 200 người trở lên. Mỗi chỗ đóng quân cá nhân gồm có 2 cây
thiên nhiên hoặc 2 cây trụ, đuợc chôn khoảng cách vừa tầm để buộc võng.
Phía trên 2 cây có buộc một cây ngang để máng lều cá nhân. Hai cây ngang
tôi đoán dùng để gác súng và một sạp nhỏ để ba-lô. Chung quanh thật
sạch sẽ, không một ngọn cỏ, không một chiếc lá, chứng tỏ là được dùng
đóng quân thường xuyên. Có lẽ đây là một binh trạm đóng quân của chúng
giữa 2 chặng đường. Chắc chắn gần đây phải có nhà hoặc có cơ sở của binh
trạm này. Tôi chụp hình và cho lệnh lục soát rất kỹ. Qủa nhiên trên một
ngọn đồi thấp, cạnh con đường mòn lớn không có dấu vết xe di chuyển,
chúng tôi phát giác 1 căn nhà sàn nhỏ và 4 căn nhà trệt nằm dưới cây cổ
thụ cao. Chúng tôi dè dặt tiến vào. Đúng là một binh trạm rồi! Đồ đạc
vất vương vãi, dép râu, điếu cày, mấy cái chén xanh và một cái tô mép
mó. Dưới đất có 2 bếp nhỏ và mấy đôi đũa… chứng tỏ là địch đã bỏ đi thật
gấp.
Một bàn viết làm bằng tre, ghế cũng bằng tre. Trên bàn có một
lọ mực tím. Trên phên vách treo mấy cái áo trận đã rách, một tấm lưới
bắt cá, lưỡi và dây câu. Chúng tôi lục soát thật kỹ và tìm thấy một tờ
giấy nhỏ như giấy học trò, viết bằng mực tím. Giấy bị ướt nên chữ nhòe
đi, không đọc được gì cả. Bốn căn nhà trệt có lẽ dùng để chứa lương thực
vì thấy có ít gạo và bắp rơi xuống đất. Chúng tôi đốt tất cả 5 căn nhà
này. Tiếng tre nứa cháy nổ ầm ầm như đụng trận. Chúng tôi di chuyển thật
nhanh và tìm chỗ đóng quân đêm. Tối hôm đó vẫn còn nghe tiếng xe di
chuyển mãi gần đến khuya mới dứt.
Ngày N+3
Buổi
sáng hôm đó, FAC bay lên và chuyển cho chúng tôi một công điện: Cứ giữ
hướng di chuyển cũ, chú ý lục soát kỹ, bung rộng trong trục tiến quân vì
hướng này là một nhánh hay một xương sườn của đường mòn Hồ Chí Minh
chạy vào Tam Biên. Công điện cũng cho biết thêm là trục tiến quân của
địc vào Benhet chỉ chung quanh đây thôi. Tôi bàn với Thượng Sĩ Meadows,
nếu lục soát rộng sẽ làm chậm sự di chuyển của toán. Meadows đề nghị
chia toán ra làm đôi; lục soát rộng 2 bên bờ suối, cặp theo con đường
mòn nhỏ mà chúng tôi đã gặp hôm qua. Tôi không đồng ý vì nếu chia đôi
toán ra thì khó liên lạc và yểm trợ cho nhau. Trước nay, chúng tôi
thường để một nửa toán nằm lại tại chỗ, còn một nửa toán kia đi lục soát
để biết có điểm hẹn mà trở về. Chia đôi thì không đúng nguyên tắc, mặc
dù có thể lục soát một chu vi rộng hơn.
Tôi vẫn giữ đội hình cũ và di
chuyển chếch về hướng Bắc vì 2 đêm liền đều nghe thấy có tiếng xe di
chuyền ở hướng này. Khoảng gần trưa, chúng tôi phát giác 2 căn nhà cất
thật thấp trên một diện tích 8 x 10 thước. Nền nhà được đào sâu xuống
khoảng gần một thước, đất được đắp chung quanh. Vì mái nhà cất chạm đất
và lại ở dưới tàn cây cao nên đến gần chúng tôi mới phát hiện. Một thang
gỗ khoảng 3 bậc dùng để lên xuống, hai bên là 2 dãy xạp tre. Đầu nhà
phía bên kia cũng có thang lên xuống. Một phía đầu nhà có một chái nhỏ
dùng làm bếp, có hai cái lò, một lò kẹp 2 con cá nướng còn đang nằm trên
bếp. Cá đã cháy khét. Tôi thò tay vào tro thếy còn hơi âm ấm. Có lẽ tụi
chúng đã bỏ đi chiều hôm qua. Căn nhà bên kia khoảng 4 x 8 thước, bên
trong có một bàn viết, sạp ngủ làm bằng tre. Một quyển sổ bìa xanh loại
giấy học trò ghi tên tuổi các bệnh binh. Có lẽ đây là một bệnh xá thuộc
binh trạm mà chúng tôi đã phát hiện ngày hôm qua. Sổ ghi bệnh nhân phần
nhiều là phù thủng, sốt rét và kiết lỵ. Tôi đếm và cộng lại sổ ghi mỗi
tháng thấy có từ 17 đến 25 tên có mặt ở trạm xá này. Tổng số chết cũng
gần chục tên. Bệnh xá có ghi tên một bác sĩ và hai hộ lý, đều là tên đàn
ông. Như vậy, hộ lý và y tá cũng còn có tên riêng là nữ cán bộ, dùng để
phục vụ sinh lý cho các cán bộ cao cấp địch. Chúng mày bỏ của chạy lấy
người thì chúng ông đốt nhà chúng mày vậy. Chiều nay lại được dịp nghe
tre nứa cháy nổ ầm ầm như pháo Tết! Đêm hôm đó nghe tiếng xe di chuyển
gần chúng tôi hơn…
Ngày N+4
Buổi
sáng sau khi báo cáo với FAC trong đêm an toàn, chúng tôi bàn với nhau:
Qua phát hiện trong 2 ngày nay, chắc chắn tuyến đường xâm nhập vào vùng
Tam Biên phải ở gần đây. Tuyến đường này gần như nằm song song với trục
tiến quân của chúng tôi. Có thể là hướng Bắc của con suối hay nằm ở
phía Nam con suối. Tôi quyết định đổi hướng và toán di chuyển về hướng
Bắc, không tiến vào mục tiêu như đã dự trù. Tôi liên lạc với FAC cho
biết ý định mới của toán và chiếu gương xin FAC xác nhận vị trí điểm
đứng của toán. FAC cho tọa độ hiện tại của toán, so với tọa độ chúng tôi
xác định thì chỉ cách nhau không qúa 100 thước. Chúng tôi tiến về hướng
bắc di chuyển khoãng 200 thước; toán phát giác một đường mòn nhỏ bề
ngang khoãng hơn một thước láng, sạch, không có một cọng cỏ. Theo kinh
nghiệm thì đường mòn như thế này phải được sử dụng hàng ngày rồi. Tôi
bước dọc theo lề đường khoảng 10 thước, nhìn về phía Tây khoảng 100
thước thì bị che khuất. Có lẽ đó là khúc quanh mà con đường chạy theo
đoạn cong của dòng suối.
Quan sát về phía Đông của đường mòn thấy xa
hơn khoảng 200 thước thì con đường đi xuống thấp dần, vì đường mòn chạy
theo triền đồi thoai thoải xuống. Vừa định lấy máy hình ra chụp, tôi
bỗng nghe có tiếng ồn ào về hướng Tây. Vội thụt lui vào phía trong thì
đã thấy một đoàn người vừa xuất hiện ở khúc quanh con đường. Dẫn đầu là
một tên quần xanh, áo trận vàng, đầu đội nón cối, tay cầm một cây gậy
dài, vai quàng một miếng vải dù bông, vừa chạy vừa hô: ”Khẩn trương –
Khẩn trương – Khẩn trương”. Phía sau là một đoàn người gần như chạy lúp
xúp mặc đồ trận xanh, nón cối, giầy vải, khiêng những khúc dài được bọc
bằng giấy mầu ô-liu, không biế là sơn pháo hay phòng không. Có tên gánh,
có khi cả 2 tên khiêng một thùng gỗ hoặc thùng sắt. Tôi đứng như trời
trồng vì chỉ cách chúng không đầy 5 thước! Bờ suối thì cũng cách tôi
khoảng chừng 5 thước.
Tôi nhích dần, nhích dần xuống suối. Nếu trời
xui khiến chỉ cần có tên nào dừng lại là thấy tôi ngay. Tôi nhìn Thượng
Sĩ Meadows và 2 tiền sát viên Lý A Dưỡng và Wòng A Cầu đang nằm bẹp bên
bờ suối, nước tới thắt lưng, mặt người nào cũng nghệt cả ra. Cuối cùng,
tôi cũng thụt lui tới mép suối. Tôi vừa ngồi thụt xuống bờ suối thì đoàn
quân của địch cũng vừa vượt qua. Tôi nhích dần về phía Thượng Sĩ
Meadows, đưa ngón tay ra dấu hiệu đúng là mục tiêu rồi. Tôi hỏi nhỏ:
”Mày đoán xem đoàn quân vừa đi qua độ chừng bao nhiêu?”. Nó đoán khoảng
hơn 150 người. Tụi thằng Dưỡng, thằng Cầu nói khoảng 300. Tôi đoán trên
dưới cũng khoảng 200 thôi. Tôi ra dấu cho Thượng Sĩ Meadows trở về phía
bên kia suối bảo Trung Sĩ Charles liên lạc với FAC báo cáo hiện tình. Để
thằng Dưỡng ở lại với tôi, tôi bảo thằng Cầu cho toán nhích sâu vào
trong thêm 15 thước trên một ngọn đồi nhỏ. Chờ khoảng không hơn 20 phút
sau cũng không thấy toán quân địch nào di chuyển qua. Thượng Sĩ Meadows
lội sang, tay cầm máy quay phim. Cùng lúc này, tôi nghe tiếng phản lực
cơ gầm thét cùng với tiếng ầm ầm ở hướng Đông mà đoàn quân xâm nhập của
địch vừa đi tới. Thượng Sĩ Meadows nói nhỏ vào tai tôi: ”Tôi đã liên lạc
với thằng FAC, nó điều động các phản lực cơ đang có mặt ở trong vùng ưu
tiên đánh cho bọn mình. FAC cũng cho biết đã xin các phi xuất từ Đà
Nẵng đang trên đường đi yểm trợ theo lời yêu cầu và hướng dẫn của
toán.”. Nó còn cho biết thêm là đã cẩn thận trải panô bên kia bờ suối
khoảng 10 thước và FAC đã thấy tọa độ của mình rồi. Tôi cũng khoái. Như
vậy là chắc ăn như bắp. FAC cũng khôn, nó chỉ bay ở xa xa chứ không ở
trên đầu chúng tôi.
Ở bờ suối bên này chỉ có tôi, Meadows và thằng
Dưỡng. Thằng Meadows gần như nằm hẳn xuống suối, từ thắt lưng trở xuống
ngâm hẳn dưới nước suối. Nó để máy quay phim ghếch ống kính lên chờ
quay. Tôi đứng rùn người, hơi nghiêng bên cạnh thân cây gỗ mục chờ chụp
hình. Khoảng 15 phút sau, ở khúc quanh hướng Tây xuất hiện một toán
khoảng chừng 15 tên, vượt qua chỗ chúng tôi đang núp với những bước chân
sải thật dài. Cũng quân phục xanh, nón cối, giầy vải và dép râu lẫn
lộn, lưng mang balô có vắt nhánh cây. Tên nào cũng chống một cây gậy
nhưng không thấy mang vũ khí hay khiêng vác vật gì cả, khác với toán vừa
vượt qua. Toán này tất cả đều sồn sồn khoảng 40-50 tuổi.
Mặc dù
tiếng suối chẩy rì rào nhưng tiếng máy chụp hình của tôi cũng nghe rõ
mồn một. Tôi quay sang Meadows, mặt nó đỏ ngừ, đang loay hoay với cái
máy quay phim bị trở ngại sao đó. Nó nhích dần về phía tôi nói nhỏ: ”Tôi
đem máy trở qua bên kia cho thằng Charles coi lại, không hiểu tại sao
máy lại tự nhiên không ”run” ?”. Tôi ra dấu cho nó ngầm bảo được rồi và
đưa máy chụp hình ra nói nhỏ: ”Đừng lo, còn có cái này.”. Khoảng 10 phút
trôi qua, chúng tôi lại thấy một toán nữa xuất hiện. Quân phục cũng
giống như toán vừa vượt qua lúc đầu. Cũng khá đông, gần 100 tên. Không
biết thuộc đoàn vừa qua rớt lại phía sau, hay chúng chia ra từng nhóm
nhỏ để tránh phi cơ quan sát thấy. Đặc biệt nhóm này không có tên dẫn
đường. Toán này vượt qua được gần 20 phút rồi mà vẫn không thấy thằng
Meadows quay trở qua. Tôi ra dấu cho thằng Dưỡng trở về bờ suối bên kia.
Thằng Meadows đang nhăn nhó lắc đầu cho biết máy quay phim của nó không
sử dụng được. Tôi nói: ”Tao chụp được nhiều hình lắm rồi”. Trong lúc đó
phản lực cơ đang thả bom ầm ầm ở hướng Đông. Tiếng bom nổ như sát bên
cạnh chúng tôi. Lúc này đã hơn 12 giờ trưa, mấy thằng nhỏ của tôi chắc
cũng có gì bỏ bụng rồi. Tôi ra dấu cho thằng Meadows kiếm gì ăn đi. Nó
lắc đầu và đưa bi-đông nước lên làm dấu. Tôi thấy thằng này đi hành quân
ăn rất ít, thường thường chỉ một hộp trái cây nhỏ cho cả ngày.
Tôi
liếc một vòng thấy mấy thằng nhỏ đang ẩn nấp thật kỹ sau những thân cây
to. Tôi, thằng Meadows và Charles bắt đầu hướng dẫn cho FAC đánh chính
xác hơn. Giờ phút này, ở con đường mòn phía bên kia bờ suối lại thấy
xuất hiện một toán quân khác. Đoàn này trang phục cũng quần áo trận
xanh, lưng đeo ba-lô vắt lá ngụy trang. Đặc biệt tất cả đều mang vũ khí
cá nhân, phần nhiều là AK-47, không thấy có súng lớn như đoàn đầu tiên.
Chúng gần như dồn cục vào nhau, vừa đi vừa chạy. Nhờ tấm pa-nô trải làm
dấu phía sau chúng tôi nên FAC thấy vị trí toán rất rõ. Do đó, lần này
khu trục đánh bom con đường mòn trước mặt chúng tôi không qúa 50 thước.
Nghe tiếng khu trục gầm thét, bọn chúng ngừng lại và đứng tạt ra hai bên
đường. Một tràng đại liên từ khu trục bắn cày dài theo mặt đường tới bờ
suối bên kia. Bị khu trục bắn thẳng vào đoàn quân nên chúng chạy náo
loạn và kêu la ầm ĩ. Vì rừng già nên bên dưới rất trống trải nên thấy có
rất nhiều xác chết nằm rải rác trên đường. Một số tạt về phía bờ suối
hướng toán chúng tôi đang đứng phục kích. Lần này, khu trục bắn nhiều
tràng đại liên dọc theo bờ suối. Lại nhiều tên nằm bên bờ suối bị ngã
gục.
Về hướng Bắc cây cối thưa hơn nên chúng tôi quan sát thấy có
thêm một toán địch mới xuất hiện. Chúng bị dồn cục lại và nằm phục 2 bên
con đường. Thằng Meadows vội giành lấy ống liên hợp trong tay thằng
Charles, hướng dẫn FAC đánh mục tiêu hướng Tây Bắc và hướng Bắc. Có lẽ
chúng thấy khu trục chỉ bắn con đường mòn và phía bờ suối nên đổ dồn về
phía này. 
Hết
khu trục A1-E rồi phản lực F4-C thay phiên nhau quần thảo phía Bắc con
suối, cách chỗ chúng tôi khoảng 50-60 thước. Tiếng bom, tiếng đạn và
tiếng la vang từng chập. Tiếng bom đạn vừa ngừng là bọn chúng lại chạy
về hướng Đông của đường mòn. Chưa bao giờ tôi thấy khu trục yểm trợ
ngoạn mục như vậy. Nhiều tràng đại liên cài dọc theo con suối chỉ cách
chúng tôi không qúa 50 thước. Tôi nghĩ chỉ cần một viên đạn ”bụi đời” bỏ
đi bậy bạ là toán chúng tôi có người bỏ mạng rồi. Phi cơ đánh từ Đông
sang Tây phía trước mặt chúng tôi. Hướng Bắc không nhìn thấy địch nhưng
về hướng Tây trên một ngọn đồi thấp có nhiều tảng đá to, tôi thấy địch
đang tập trung và ẩn nấp quanh mấy hòn đá lớn lố nhố.
Tôi ra dấu cho
Thượs Sĩ Meadows lại gần chỉ cho nó thấy và nói: ”Mày gọi FAC và xin 2
phi xuất Napalm đi”. Nó nói OK và bò lần về phía thằng Charles. Trong
lúc đó ở hướng Đông Bắc bỗng có đại liên phòng không 37 ly nổ ”chụp
chụp”. Từng cụm khói trắng bung lên mỗi lần phi cơ đảo xuống. Không biết
FAC có điều động không nhưng tôi thấy có một khu trục tách ra, lao về
hướng có phòng không vừa bắn lên. Sau mấy loạt đạn và 2 tiếng bom nổ,
súng phòng không này im luôn. Không biết bị tiêu diệt hay tụi nó sợ
không bắn nữa.
Thượng Sĩ Meadows bò lại cho biết sẽ có trực thăng võ
trang bay lên yểm trợ. Tôi nói ”Good!”. Vừa nói xong thì tiếng lạch bạch
của 4 trực thăng võ trang Cobra cũng vừa lao tới. Hai chiếc bay vòng
bên ngoài, hai chiếc kia lao vào phụt rocket và đại liên. Hỏa lực trực
thăng cũng mạnh lắm nhưng tụi địch không ngán trực thăng, vì chúng tôi
nghe thấy nhiều tràng AK bắn lên phi cơ. FAC có lẽ được trực thăng báo
cho biết có hỏa lực bên dưới bắn lên nên nó bay vào vùng mục tiêu và đảo
trên đầu chúng tôi. Mấy tên sống sót từ trưa đến giờ nhờ núp bên mấy
khe đá, thấy ngọn đồi bên phía chúng tôi đang đứng không bị oanh kích
cho nên tôi nghe tiếng la: ”Tất cả tiến sang bên phải”. Hai, ba tên lụp
xụp bám thành suối leo lên chạy về hướng ngọn đồi chúng tôi đang bố trí.
Hai thằng chạy đầu vừa lên khỏi bờ suối bên này thì ”rẹt rẹt”, thằng
Dưỡng nhả 2 loạt súng giảm thanh. Hai tên này gục xuống. Thằng thứ ba
vội tụt xuống, lui lại nấp vào hòn đá to giữa suối. Thằng Dưỡng khạc
thêm mấy loạt đạn nữa nhưng đạn chỉ chạm vào đá rồi rớt xuống suối nghe
bụp bụp. Bỗng tên này la to ”Có Biệt Kích gián điệp, Biệt Kích gián
điệp!”. Thằng Sáng lanh lẹ thẩy một trái mini sau lưng tên này. Tiếng nổ
của lựu đạn mini hất tung nó lên, phơi nửa người nằm trên phiến đá.
Sau
tiếng lựu đạn, tôi nghe có nhiều tiếng la ở hướng Tây ”Có Biệt Kích
gián điệp, Biệt Kích gián điệp!”. Tôi ra dấu cho cả toán chuẩn bị. Chúng
tôi đã bị địch phát giác rồi. Có thêm mấy bóng theo các thân cây khum
khum tiến về phía chúng tôi, bắn mấy loạt đạn AK dò dẫm. Tôi ra hiệu cho
Thượng Sĩ Sơn dẫn bán tổ rút trước về hướng Nam. Bán tổ còn lại cũng
rút chầm chậm theo. Giờ này ở bờ suối bên này đã có khoảng mười mấy tên
bò lên đồi rồi. Thằng Meadows từ sáng tới giờ chắc cũng ngứa tay nên
chồm lên nhả nguyên một loạt đạn. Tiếng AK bắn ào ào xả vào chúng tôi
lúc chúng tôi vừa yểm trợ cho nhau vừa rút. 
Bốn
chiếc trực thăng đảo qua đảo lại, bắn đại liên ngăn chặn phía sau chúng
tôi. Vỏ đại liên và sắt két đạn rơi lên đầu lên cổ chúng tôi nóng bỏng.
Có lẽ tụi trực thăng thấy chóp mũ chúng tôi có dấu hiệu mầu cam nên tụi
nó bắn thật chính xác, không sợ lầm vào quân bạn. Mặc dù trực thăng yểm
trợ rất mạnh, thế mà tụi nó cũng đuổi theo chúng tôi hơn 500 thước. Lúc
này cũng gần 6 giờ chiều. Bây giờ chúng tôi mới bắt đầu thấy đói và
khát. Tôi ra dấu cho toán ngừng lại để bố trí ăn cơm. Từ sáng đến giờ,
vì qúa mệt và căng thẳng nên tôi chỉ nuốt trôi nửa lon Fruit-Cocktail.
Trong
công điện buổi trưa chúng tôi nhận được thì Chiến Đoàn cho lệnh ngày
mai chúng tôi phải tìm bãi đáp triệt xuất gấp. Tôi đoán B-52 sẽ ”tapi”
vùng này khi chúng tôi triệt xuất ra xong. Sau khi dùng cơm chiều, chúng
tôi chờ trời tối hẳn mới di chuyển khỏi nơi này khoảng 200 thước tìm
chỗ đóng quân. Khoảng 9 giờ tối, chúng tôi nghe từng tràng tiếng nổ ầm
ầm. Mỗi lần sau tiếng nổ là ánh sáng lóe lên, sáng như ban ngày. Thằng
Meadows cho biết máy bay C-47 đang ”chụp hình” tụi nó bằng bom! Lần đầu
tiên tôi mới nghe như thế. Cuộc chiến này có nhiều điều thật mới lạ. Vì
sợ tụi VC theo dõi đột kích trong đêm nên tôi cứ chập chờn không dám
ngủ.
Ngày N+5
Buổi sáng báo cáo với FAC xong, chúng tôi cho
biết là bãi đáp triệt xuất chưa có. FAC hướng dẫn chúng tôi về phía Tây
Nam khoảng 300 thước thấy có một bãi đáp nhỏ, có thể dùng để triệt xuất
được. Trong lúc chuẩn bị di chuyển, tôi nhìn về phía Đông Nam khoảng 300
thước thấy hình như có một làn khói nhỏ lơ lửng bay lên. Tôi chỉ cho
thằng Meadows, nó nói có lẽ là sương. Buổi sáng nắng lên làm tan phần
sương trên ngọn cây nên nhìn thấy có ánh sáng mầu vàng lợt. Nhưng nếu
nhìn từ mặt đất trở lên 2-3 thước thì thấy sương mù còn lãng đãng. Quan
sát một hồi, thằng Meadows nói có lẽ là khói. Tôi cũng còn chưa quyết
định hẳn đây là sương hay khói. Nếu là khói thì có lẽ vì các đám cháy do
bom đánh ngày hôm qua tạo ra. Nhưng sau khi quan sát kỹ, tôi thấy làn
khói bay lên thẳng như tạo ra bởi một đống lửa nhỏ, giống như khói bếp
vậy. Hướng này là hướng con đường mòn chạy bọc theo suối, trải dài về
hướng Đông mà các phi tuần phản lực đánh chặn địch ngày hôm qua. Thay vì
di chuyển về hướng Tây Nam theo phi cơ quan sát chỉ để tìm bãi đáp, tôi
cho toán di chuyển về hướng Đông Nam, tiện việc lấy nước ở suối và quan
sát xem đó có phải là khói không?
Chúng tôi thấy cạnh con suối có
một căn chòi nhỏ. Kích thước chòi này cũng giống như những căn chòi mà
chúng tôi phát hiện có lúa mấy ngày trước. Chòi không có lúa, chỉ còn
lại toàn trấu. Vì được cất gần suối nên sàn nhà cao hơn một thước. Chúng
tôi tản ra và chuẩn bị ăn sáng. Từ hôm đi đến nay mới nghe thằng
Charles mở miệng: ”Nếu được phép ngủ, tôi sẽ nằm dưới chòi này ngủ 3
ngày liền”. Trong toán, nó là thằng phải mang nặng nhất. Ngoài những
trang bị như mọi người, nó còn cõng thêm một máy truyền tin PRC-25, một
máy ngụy tần số gắn liền với PRC-25 cộng thêm một cục pin trừ bị. Nghe
nó nói muốn ngủ, mắt tôi cũng muốn sụp xuống! Tôi tháo ba-lô ra, tròng
giây súng vào cổ, bước lên một thân cây to đổ vắt ngang qua suối để ra
giữa suối khoát nước rửa mặt. Vừa ngồi xuống, chưa kịp đưa tay khoát
nước, nhìn về phía trái khoảng 15-20 thước tôi chợt thấy có móc 3-4
chiếc võng. Có chiếc còn căng poncho làm lều. Tôi đưa tay ra dấu có
địch, nhưng ngoái lại chẳng thấy có đứa nào nhìn thấy thủ hiệu của tôi
cả. Ai nấy đang chuẩn bị ăn sáng! Tôi vừa thụt lui nhưng mắt vẫn quan
sát mấy cái võng, tay vẫn đưa ra sau làm dấu có địch. Chân tôi vừa đặt
suống đất thì Thượng Sĩ Sơn cũng vừa ngó thấy thủ hiệu có địch của tôi.
Nó chồm tới phát vào vai thằng Dưỡng và thằng Meadows ngồi gần đó, ra
dấu có địch. Bây giờ thì cả toán đã được báo động. Tôi cho toán biết là
quan sát thấy có 3-4 cái lều võng nhưng không thấy có người. Tôi cho
lịnh rất nhanh: Tôi, thằng Dưỡng và thằng Meadows bò qua trước. Thượng
Sĩ Sơn, thằng Cầu, thằng Sáng yểm trợ. Phần còn lại bố trí bên này.
Buổi
sáng nước lạnh như nước đá, cũng may nước chỉ cao hơn đầu gối một chút
thôi. Chúng tôi bò lên khỏi bờ suối khoảng ba thước thì thấy một tên từ
võng ngồi dậy. Thằng Dưỡng hốp tốp kêu: ”Đứng dậy – Dơ tay lên!”. Tên
này đang lúng túng, có lẽ còn vướng một chân trên võng nên chưa bò xuống
được. Tôi và thằng Meadows vọt nhanh tới. Thằng Meadows nắm vai tên này
lật té xuống đất. Hai tên khác vụt bỏ chạy. Hai tên này đang ngồi khuất
dưới đất nên chúng tôi không thấy. Thật nhanh, thằng Dưỡng đưa nguyên
một băng giảm thanh. Một thằng ngã, còn thằng kia chúng tôi thấy nó
phóng xuống đất, nhưng khi chạy đến tìm thì không thấy có máu và người
đâu cả. Tên kia bị bắn trúng, lãnh cả gần chục viên ở bụng. Tôi quay trở
lại chỗ thằng Meadows thì thấy nó đã còng tay tên vừa bắt được bằng
còng nylon, miệng dán băng keo xanh.
Bỗng tôi nghe tiếng Thượng Sĩ
Sơn hô: ”Đứng lên! Đưa 2 tay lên khỏi đầu”. Thì ra cách chúng tôi khoảng
5-6 thước có một tên khác đang đi cầu. Thấy lộn xộn nó ngồi im tại chỗ,
nhưng không ngờ bị Thượng Sĩ Sơn phát giác. Tên này đứng lên, 2 tay đưa
lên đầu nên không kéo quần lên được, để ”Bác Hồ” lòng thòng coi tức
cười qúa. Thượng Sĩ Sơn bước đến, chĩa súng sau lưng nó nói: ”Cài quần
lại!”. Tên này lúng túng kéo quần lên, miệng hỏi: ”Các đồng chí ở đơn vị
nào?”. Thằng Cầu nạt: ”Im mồm mày!”. Nó được dẫn lại gần chỗ tôi và
thằng Meadows đang đứng. Thấy thằng Meadows to lớn như con gấu, râu ria
5-6 ngày chưa cạo thì nó biết ngay chúng tôi là ai rồi nên không hỏi
nữa. Thằng Meadows kéo tay nó xuống, quặt ra sau lưng tròng dây còng
vào. Nó dẫy dụa nói: ”Các anh phải đối xử tử tế với tù binh”. Thằng Cầu
đá vào đít nó rồi nói: ”Con c… ông nè chứ tử tế. Tụi mày bắt được tụi
tao có tử tế không?”. Thằng Meadows trong tay đã cầm sẵn miếng băng keo
chụp dán miệng tên đó câm luôn.
Tôi
ra dấu rút. Trong lúc Thượng Sĩ Sơn và tụi thằng Dưỡng, thằng Cầu hối
hả tháo võng và lều bỏ vào ba-lô tụi nó, nhìn thấy cây AK dựng ở góc
cây, tôi chỉ thằng Sáng cho nó cầm luôn. Chúng tôi trở qua chòi họp toán
lại rồi bắt đầu rút. Thằng Meadows nói nhỏ với tôi: ”Sir, chờ tôi báo
cáo với FAC biết mình đã bắt được 2 tù binh rồi hãy di chuyển”. Trông
gương mặt nó vui như được kẹo. Tôi lẩm bẩm trong bụng “Tiên sư anh. Có
chiến lợi phẩm anh gọi tôi bằng Sir ngọt sớt.”. Tôi nói OK và tính rất
nhanh trong đầu. Nếu di chuyển đến bãi đáp do FAC chỉ lúc ban sáng thì
qúa xa. Vướng 2 tên tù binh không di chuyển nhanh được, lỡ chạm địch lại
càng thêm rắc rối. Nếu mấy tên này thuộc toán tiền tiêu của đơn vị địch
thì tên chạy thoát vừa rồi về sẽ báo cáo, và lúc đó địch sẽ truy kích
chúng tôi ngay.
Thằng Meadows đưa ngón tay cái lên làm dấu là đã báo
cáo cho FAC xong. Tôi cho nó biết mình phải phá cây làm bãi đáp cho trực
thăng xuống. Nó không suy nghĩ nói OK ngay. Tôi quan sát thấy hướng
Đông Nam có đám rừng thưa, toàn là cây chồi, không to lắm. Tôi cho lịnh
toán tiến về hướng đó. Đi được khoảng 200 thước thì thấy dưới triền đồi
hơi thoai thoải, rừng thưa, cây to chỉ bằng bắp vế. Đảo mắt nhanh một
vòng, ước lượng chu vi rộng đủ cho một trực thăng đáp xuống được mà cánh
quạt phải không chém vào cây, tôi quyết định chọn nơi này làm bãi đáp.
Vì là triền đồi nên nước chẩy xuống tạo thành một khe khá sâu như một
con suối cạn. Tôi bảo đẩy 2 thằng tù binh xuống dưới đó. Định tọa độ
xong, đưa cho thằng Charles gửi lên cho FAC. Một mặt, tôi cho lấy giây
chuyền nổ quấn chung quanh các thân cây, định bụng sẽ cho nổ mấy cây này
trước vài phút để lấy chỗ cho trực thăng đáp xuống. Nuôi quân 3 năm,
xài trong 15 phút. Với tay nghề của thằng James và 2 toán viên của tôi,
việc dọn bãi trực thăng bằng chất nổ là 1 trong 15 bài dễ nhất của khóa
“”Mìn bẫy & Phá hoại”. FAC cho biết trực thăng đã cất cánh. Nhìn
đồng hồ, tôi tính phải 40 phút nữa trực thăng mới tới.
Đi một vòng
thấy mấy thằng nhỏ bố trí và cảnh giác cao nên tôi ngoắc thằng Meadows
lại chỗ con mương, nơi Thượng Sĩ Sơn đang giữ 2 tù binh. Tôi ra hiệu cho
Thượng Sĩ Sơn lên, tôi và thằng Meadows nhẩy xuống. Tôi phải khai thác
tụi này vài câu mới được. Nhỡ khi bị địch truy kích, chắc chắn là phải
thanh toán 2 tên này. Biết được vài tin tức, ít ra cũng được một vài tin
để báo cáo. Trong 2 tên thì tên lớn tuổi bị bắt lúc đi cầu đang dãy dụa
như muốn tháo dây còng, miệng cứ ú ớ hoài. Thượng Sĩ Sơn nói: ”Nó đi
cầu chưa chùi nên thúi hoắc à”. Meadows ngó tôi hỏi Sơn nói gì? Tôi nói
“Nó bảo kỳ này về mày sẽ được lên lon”. Thằng Meadows cười, biết là tôi
nói đùa với nó.
Tôi gỡ băng keo khỏi miệng 2 tên tù binh rồi nói:
”Các anh hãy ngoan ngoãn, đừng có chống cự gì cả. Bắt buộc vì an toàn,
chúng tôi mới phải còng các anh lại thôi”. Tôi nhìn tên lớn tuổi nói
tiếp: ”Loại còng này anh tuột không thoát được đâu. Càng dãy dụa, răng
cưa càng xiết chặt. Bây giờ tôi muốn mở ra cũng không được, vì răng cưa
vào thì xuôi, còn tháo ra thì ngược. Đợi về đến nhà có kềm tôi sẽ cắt
ra”. Tôi chỉ vào tên nhỏ tuổi nói: “Ngoan ngoãn như thế này có phải tốt
không?”. Tôi hỏi bọn nó có muốn uống nước không? Chỉ có tên nhỏ gật đầu.
Tôi lấy bi-đông cầm cho nó uống. Hỏi có muốn hút thuốc không? Tên nhỏ
gật đầu. Tôi ra dấu xin Thương Sĩ Sơn điếu thuốc. Thượng Sĩ Sơn đưa cho
tôi một nửa điếu thuốc Pall-Mall. Tôi mồi lửa rồi cầm cho tên tù binh
nhỏ tuổi hút. Tôi hỏi nó: ”Thuốc lá của Đế Quốc Mỹ đó, có ngon không?”.
Nó gật đầu.
Tôi
bắt đầu hỏi tên tuổi và đơn vị tên nhỏ trước. Nó cho biết tên là Nguyễn
Tiến Hùng, 19 tuổi, quê ở Phú Thọ, thuộc đoàn Khánh Hòa 13. Từ ngày
khởi hành xâm nhập vào Nam, tính đến ngày hôm nay bị bắt đúng 2 tháng.
Nó cũng cho biết ngày hôm qua, đoàn của nó bị phi cơ oanh kích, thiệt
hại rất nặng. Nó vàmột nhóm chạy toán loạn nên đã thất lạc đơn vị. Nó
cũng nói thêm là đoàn của chúng nó bị thiệt hại nặng vì có Biệt Kích
gián điệp chỉ điểm. Nó cho biết đoàn của nó là đơn vị vào Nam để bổ sung
thôi. Lúc ra đi quân số là 300. Gần 100 tên rơi rớt lại tại các binh
trạm, bị phù thủng, sốt rét, kiết lỵ và ”B quay”. B quay là đào ngũ, bỏ
trốn về lại miền Bắc. Tôi mở ba-lô của nó ra xem thì thấy ngoài tấm bạt
nylon còn có võng, một bộ đồ xanh ô-liu, một chăn mỏng mầu vàng, một mặt
nạ phòng hơi độc, hai thỏi lương khô, một chén nhôm xanh, tất cả đều có
dấu sản xuất tại Trung Cộng. Đặc biệt trong ba-lô có một tờ giấy thuộc
loại nylon, không thấm nước, không bị mục và không bị mối ăn. Đấy là một
loại truyền đơn mà chúng tôi thường bắt gặp, rải rất nhiều trong rừng.
Trong đó có một bài thơ lục-bát, nội dung nói đại ý là người con vào Nam
ngồi nhớ mẹ nơi đất Bắc, không biết số phận của mình và của mẹ già ra
sao? Bài thơ được in chồng lên hình người lính Bắc Việt đang ngồi ôm
súng gục đầu. Có lẽ truyền đơn này của một cơ quan tuyên truyền Hoa Kỳ,
vì bài thơ có nhiều chữ không bỏ dấu. Nếu thuộc Tổng Cục Chiến Tranh
Chính Trị thì chắc chắn không có khuyết điểm này.
Tên lớn tuổi quê ở
Thái Bình, 24 tuổi, tên Lê Văn Thành. Tôi hỏi: ”Các anh nói thất lạc đơn
vị sao không đi tìm mà còn đóng quân ở đây?”. Nó nói phải chờ xem có
còn bị phi cơ oanh kích nữa không, rồi mới tìm đường trở về binh trạm
hôm trước chờ giải quyết, vì nếu không có giao liên thì không biết đường
tới binh trạm sắp đến. Tôi xếp sổ tay lại, thấy hỏi như vậy cũng đủ
rồi. Tôi không có đủ thời giờ, vả lại nên dành cho Ban Thẩm Vấn Tù Binh
vì họ có kỹ thuật và kinh nghiệm nhiều hơn. Nhìn đồng hồ thấy còn gần 5
phút nữa trực thăng mới tới, tôi hỏi vớt tên Hùng thêm một câu: ”Ngoài
Bắc anh có thấy cố vấn Nga không?”. Nó lắc đầu và cho biết: “Nghe nói
các cố vấn người Nga chỉ ở các đội tên lửa mà thôi”. Tôi quay sang thằng
Meadows nói tóm tắt cho nó biết. Thôi đủ rồi. Quăng ba-lô của 2 thằng
tù binh lên trước, tôi và thằng Meadows leo lên sau rồi đưa tay kéo 2
đứa chúng nó ra khỏi rãnh nước.
Tiếng
trực thăng H-34 nghe phành phạch từ xa. FAC đảo thật thấp trên đầu
chúng tôi. Trực thăng võ trang cũng vừa tới, tuôn đại liên và rocket
chung quanh bãi đáp. Thằng James và tụi thằng Cầu, thằng Sáng nhào ra
tới các thân cây đã quấn giây chuyền nổ sẵn để giựt kíp nổ. “Ầm – Ầm –
Ầm”. Năm sáu cây ào ào ngã xuống. Theo tiêu lệnh, 2 tù binh và bán tổ
của toán lên trực thăng đầu tiên. Nhóm của tôi và thằng Meadows luôn
luôn xuống trực thăng trước và lên trực thăng sau cùng. Thằng Nghĩa đáp
xuống, thò đầu ra cửa sổ đưa tay vẫy tôi và đưa một ngón tay cái lên.
Tôi cười và vẫy tay ra dấu đáp lại. Cây cối ngã ngổn ngang nhưng nó đáp
xuống cũng đẹp lắm. Bánh xe trực thăng đặt gần chạm đất, do đó tụi tôi
đỡ 2 tù binh bị trói tay bước lên bậc thang trực thăng cũng dễ. Trực
thăng của thằng Nghĩa vừa kéo lên khỏi ngọn cây thì chiếc kia của thằng
Hiếu cũng đáp xuống liền trong tích tắc.
Ngồi trên trực thăng bay về
Dakto tôi nghĩ thầm: ”Khi giải trình hành quân, tôi sẽ cho biết địch bị
phi cơ oanh kích chết hai, ba trăm tên. Không biết mọi người có tin
không?”. Ôi mà cần gì? Hai tên tù binh này sẽ trả lời thay tôi. Tôi liên
tưởng tới Đoàn Khánh Hòa 13 gần như bị tiêu diệt hết. Con số 13 đúng là
xúi quẩy. Mặc dù tiếng cánh quạt trực thăng và tiếng gió thổi ào ào
nhưng thằng Meadows ngồi ở cuối trực thăng cũng cố gào to:
-o- Tối nay 7 giờ, tôi chờ Sir ở Câu Lạc Bộ nghe?
-o- Tôi đáp: “OK”.
Lê Minh
Quân Lực Việt Nam Cộng
Hòa thành lập ra mục đích để bảo vệ Tổ Quốc. Và chống lại sự xâm lăng
của cộng sản miền Bắc, lợi dụng sự tự vệ của QLVNCH có giới hạn trong
phạm vi lảnh thổ theo hiệp định Geneve 1954. Nên cộng sản miền Bắc được
sự yểm trợ của cộng sản Quốc tế cứ gia tăng liên tục tấn công miền nam
Việt Nam. Vì lý do đo Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH đã quyết định thành lập
những đơn vị đặc biệt để tấn công lại kẻ thù ngay tại hậu phương hay tại
các mật khu của chúng.
Bộ phận thứ: I- Là xâm
nhập bằng đường bộ với sự yểm trợ và hợp tác của Không Quân. Bộ phận
thứ: II- Là xâm nhập bằng đường biển, có tên gọi là Sở Phòng Vệ Duyên
Hải. Trong Sở PVZH gồm có hai Lực Lượng; Hải Tuần và Biệt Hải, tất cả
nhân viên LL Hải Tuần là do Bộ Tư Lệnh Hải Quân biệt phái qua Sở PVZH
đặt dưới quyền Chỉ Huy của Giám Ðốc Nha Kỹ Thuật.
Lực Lượng Biệt Hải là
đơn vị được huấn luyện để xâm nhập, đánh phá đồn bót và bắt cán bộ cộng
sản ngay tại miền Bắc để lấy tin tức, hầu ngăn chận kịp thời những sự di
chuyển quân của cộng sản Bắc Việt. Các quân nhân của Lực Lượng Biệt Hải
được tuyển chọn từ các quân binh chủng trừ bị: Nhảy dù, Thủy Quân Lục
Chiến, Biệt Ðộng Quân và Người Nhái Hải Quân cùng một số khá đông anh em
Dân sự mà đa số là người Bắc di cư 1954, với điều kiện là tình nguyện.
Sau khi được tuyển chọn
kỹ lưỡng về lý lịch cá nhân cũng như sức khỏe, các tân khóa sinh Biệt
Hải phải trải qua một khóa huấn luyện hết sức cam go và khắc khổ, khóa
học nầy không nằm trong chương trình của Cục Quân Huấn QLVNCH. Mà hoàn
toàn đều do các cố vấn Mỹ huấn luyện theo chương trình UDT-Seal hầu để
thích nghi với chiến tranh ngoại lệ. Không phải dễ dàng để trở thành
người quân nhân Biệt Hải, mà còn đòi hỏi phải có một sự kiên nhẫn chịu
đựng trong suốt thời gian thụ huấn, cộng với sức khỏe. Muốn trở thành
một quân nhân Biệt Hải phải đi qua hai món ăn chơi đó là: Tung mây lướt
gió (Nhảy dù) và xữ dụng bình hơi (Người Nhái) bởi vậy người Biệt Hải
rất đa dạng, lúc cần có thể xữ dụng về đường bộ hay đường biển, nhưng sở
trường vẫn là xâm nhập đường biển.
Sau ngày mãn khóa căn
bản Biệt Hải, cộng thêm khóa dù và khóa người Nhái thì lúc đó các khóa
sinh mới trở thành người Biệt Hải chuyên nghiệp, với quân phục được cấp
phát gồm có 2 bộ áo “rằn ri ” và một nón đỏ do quân nhu quân lực VNCH, 2
bộ quần áo Biệt Kích do phía cố vấn Mỹ cấp phát. Nói tóm lại tùy theo
từng cá nhân muốn mặc đồ của quân binh chủng gốc hoặc mặc đồ Biệt kích
kể cả một số thích được mặc đồ thường phục sau giờ xuất trại, trong thời
gian đầu khi còn ở các trại lẻ tại Mỹ Khê mỗi lần khóa sinh xuất trại
bắt buộc tất cả phải có đồ dân sự trưởng toán mới đưa giấy phép bằng
không thì phải ở lại trại, vì để bảo mật cho các công tác xâm nhập nên
LL Biệt Hải không hề có phù hiệu, bởi vậy khi các đơn vị bạn nhìn vào
quân phục của Biệt Hải không biết họ là đơn vị nào?
Các quân nhân Biệt Hải
được phép mặc thường phục hoặc quân phục và được đi trong giờ giới
nghiêm. Giấy phép do Ðại Tá Tỉnh Trưởng Quảng Nam Ðà Nẵng cấp, đối với
dân địa phương ở Ðà Nẵng hay bán đảo SơnTrà thường gọi chúng tôi là Biệt
kích Nhái, những lúc thời tiết miền Bắc biển động các toán thay phiên
nhau đi công tác ở các Mật khu cộng sản tại miền Nam, người dân ở miền
đó họ hay gọi chúng tôi là lính Dù. Ðiểm đặc biệt là mỗi lần công tác dù
Bắc hay Nam thì đồ ngụy trang được mặc duy nhất vẫn là bộ bà ba đen và
đi chân đất hoặc giày bata. Còn người dân miền Bắc thì thường gọi chúng
tôi là cán bộ của Mặt Trận Gươm Thiêng Ái Quốc.
Tôi còn nhớ vào dịp
Trung Thu năm 1967, toán Numbus được chỉ định đi công tác xâm nhập vào
vùng Thanh Hóa. Ðối với LL Biệt Hải bất kỳ chuyến công tác nào cũng là
đặc biệt cả, nhưng có lẻ chuyến xâm nhập lần nầy có một vài điểm khác lạ
hơn các chuyến khác vì một lúc phải làm 2 nhiệm vụ: Ðó là bắt cóc cán
bộ địa phương đưa về Nam để khai thác tin tức, ngoài ra toán còn được
giao thêm phận vụ Tâm Lý Chiến, vì lúc đó sẵn dịp Tết Trung Thu nên
chúng tôi phải mang những gói quà biếu tặng của MẶT TRẬN GƯƠM THIÊNG ÁI
QUỐC cho các em miền Bắc như lệnh trên giao phó ( trong đó hình như là
vải vóc, áo quần, bánh kẹo và radio.v… Vì những thứ nầy đã được gói sẵn
trong bọc nylon rất kín đáo vì sợ thấm nước, chúng tôi chỉ có nhiệm vụ
đem đi).
Ðể chuẩn bị cho chuyến
công tác được thành công. Toán đã thực tập rất chu đáo, được chỉ dẫn
phận vụ của từng người trên mặt sa bàn, và nghiên cứu cẩn thận vào các
tấm hình không ảnh, ban ngày thì toàn đội tập vượt sóng, bơi lội, chèo
thuyền cao su. Ban đêm thực tập đổ bộ, cứ như thế liên tục suốt trong
vòng một tuần. Lần thực tập cuối cùng trước khi ra đi là đổ bộ toán vào
vùng cửa Ðại, Hội An (vùng nầy ban đêm hoàn toàn do địch kiểm soát) Vì
chương trình huấn luyện bắt buộc phải tìm một địa điểm ở trong Nam tương
tự như miền Bắc để cho nhân viên dễ dàng làm quen được với địa thế.
nhưng đắng cay làm sao cứ mỗi lần đi thực tập đổ bộ vào quanh vùng cửa
Ðại, thì toán đều bị chạm địch hoặc mất tích.
Cũng như những chuyến
trước, toán Nimbus được các chiến đĩnh PTF đưa từ Ðà Nẵng ra đến vùng
biển Thanh Hóa, trên đường di chuyển tới mục tiêu. Anh em Hải Tuần có
nhiệm vụ điều khiển Chiến- Hạm, riêng anh em toán chúng tôi phải ở dưới
khoang hầm nằm ngủ hay nghỉ ngơi để lấy sức chuẩn bị cho chuyến xâm nhập
vào bờ trong một vài giờ sắp tới. Nói vậy chứ chẳng có ai chợp mắt được
tâm trí lúc bấy giờ rối bời như mớ bòng bong, có cả hằng trăm chuyện để
mà lo lắng suy nghĩ, nào là vợ con, cha mẹ, người yêu.v.v.. Và rồi
không biết chuyến xâm nhập lần nầy còn có cơ may để trở về Nam gặp lại
những người mà mình đang suy nghĩ hay không? hoặc là công tác tối nầy có
đạt được thành quả như sự mong muốn của cấp trên và ngay chính cả anh
em chúng tôi nữa, chưa nói đến bản tính nóng giận bất thường của trời
đất.
Vì trước đây đã có nhiều
chuyến khi hành động xong nhiệm vụ toán rút ra bờ biển tìm đường để lội
ra xuồng cao su, và từ đó dùng làm phương tiện chở toán ra chiến đĩnh
PTF đang đậu chờ ngoài khơi, thì đột nhiên giông gió thổi tới bất ngờ
những đợt sống cứ liên tục dâng cao trắng xóa cả một vùng như tuyết, tệ
hại hơn nữa là có những lần toán đã bại lộ mục tiêu và đang bị chúng bao
vây rượt đuổi sau lưng, khi anh em thoát ra được tới bờ biển nỗi vui
mừng vừa mới chớm nở, thì lại trông nhìn thảm cảnh sống gió trước mắt mà
lòng cảm thấy ngao ngán, lúc đó mạnh ai người nấy cố sức lội ra tới
xuồng để tìm con đường sống, sau đó trưởng toán mới gọi ám số hoặc tên
thật từng anh em để kiểm soát ai còn ai mất.
Vì vùng công tác quá xa
xôi, không có phương tiện yểm trợ hơn nữa chỉ hoạt động qua đêm, thời
hạn ấn định cho nhiệm vụ phải hoàn tất trong vòng 5 hay hoặc 6 tiếng
đồng hồ, và cũng nên biết sự kiểm soát an ninh phường khóm của công an
miền Bắc rất kỹ, khác hẵn ở miền Nam nên rất khó trà trộn, toán bắt buộc
phải rời khỏi vùng công tác trước khi mặt trời mọc, hoặc nếu trể giờ
hẹn có thể chiến đĩnh PTF sẽ di chuyển khỏi địa điểm vì vấn đề an toàn,
kế đến là lo sợ dân chúng ở địa phương phát giác, và họ sẽ đi báo cho
công an hơn nữa vùng hoạt động nằm dọc theo bờ biển, bởi vậy không có
địa thế thích hợp để ẩn trốn một khi bị sa cơ, như vậy kể như cuộc đời
đã kết thúc, chưa nói đến những chuyện không may có thể xảy ra như trong
số anh em có người bị thương chẳng hạn. Những giây phút nguy hiểm đó
bốn chữ “sinh Nam, tử Bắc” đều hiện rõ nét trong đầu, nhưng hầu hết tất
cả anh em toán vẫn luôn xác quyết với một niềm tin là phải tranh đấu cho
sự sống còn ở trong mọi tình huống.
Ðang lúc còn suy nghĩ
vẫn vơ thì giấc ngũ bổng đến tự lúc nào không hay, có lẽ vì quá mệt mỏi 8
anh em chúng tôi chia nhau ngồi dưới hầm tàu chu vi không mấy được
rộng, chiến đĩnh PPF vẫn phóng nhanh hết tốc độ thỉnh thoảng những đợt
sóng đập vào lườn tàu rất mạnh đôi lúc làm mọi người tung lên khỏi chổ
mình ngồi, hơn nữa mùi dầu máy bốc lên cũng gây rất khó chịu một vài anh
em đã phải ói mữa trông thật bơ phờ. Bỗng một tiếng còi vang lên đã làm
tĩnh thức mọi người, báo hiệu cho toán mục tiêu đã sắp sửa tới, có lẽ
theo sự suy nghĩ của tôi, vì ý Hạm Trưởng muốn cho anh em có chút thì
giờ để chuẩn bị kỹ càng hơn, đồng hồ lúc đó đúng gần 9 giờ tối, chúng
tôi kiểm soát tất cả đồ trang bị cá nhân lại một lần cuối trước khi rời
khỏi hầm tàu đi về phía sau lái PTF, và rồi cùng nhau hợp lực với hai
người bạn điều khiển xuồng cao su xem xét lại cẩn thận (xuồng cao su
được chia làm thành 6 ngăn, 2 ngăn dưới lườn, và 4 ngăn ở trên được bơm
bằng hơi, mục đích để giữ cho xuồng an toàn nếu lỡ bị trúng đạn ở ngăn
nào hoặc giả thử có xì hơi, các ngăn còn lại vẫn giữ vững thế thăng
bằng, và xuồng cao su được xữ dụng bằng một loại máy giảm thanh (40 hp
Johnson, chạy bằng xăng có pha nhớt) vào lúc đó chiếc chiến đĩnh PTF
giảm bớt tốc độ, từ từ tiến vào mục tiêu, và rồi tới điểm dừng lại Hạm
Trưởng đứng trên phòng lái phóng thanh ra lệnh cho toán chuẩn bị đổ bộ,
hai chiếc xuồng cao su được các anh em Hải Tuần tới trợ giúp thả xuống
hai bên mạn tàu ở phía sau chiến đĩnh, tiếp theo đó tất cả anh em toán
tuần tự leo xuống ngồi theo vị thế đã được chỉ định trước khi đi nên rất
gọn gàng và nhanh chóng.
Phận sự hai tài công phụ
trách lái 2 xuồng cao su liền cho nổ máy chạy theo sự hướng dẫn bằng
radar của tàu mẹ (tức PTF) khi 2 xuồng cao su vào đến gần bờ biển Thanh
Hóa thì trưởng toán ra lệnh tắt máy và chèo bằng mái chèo nhỏ (dầm) để
tránh gây tiếng động, khi khoảng cách bờ biển và xuồng cao su còn trên
dưới 1000 thước trước tiên thả hai tiền sát viên lội vào bờ làm nhiệm vụ
quan sát ngang, dọc (trên dưới) 100 thước và tìm địa thế an toàn cho
toán xâm nhập lội vào sau, khi đã tìm được chổ như ý lúc đó người tiền
sát phụ lội ra nước ngang ngực dùng hồng ngoại tuyến loại nhỏ cầm tay
bấm ám hiệu đã cho sẵn ở nhà (thường được xử dụng bằng ám hiệu "Tic- Tè"
khoảng cách độ bao nhiêu giây được bấm lại một lần, tất cả quy luật đó
chỉ có tiền sát và trưởng toán biết mà thôi, khi trưởng toán ngồi ngoài
xuồng cao su nhìn vào phía bờ xác nhận đúng được chỉ thị đã ấn định lúc
ra đi thuyết trình thì mới cho toán còn lại tiếp tục lội vào, cũng có
một đôi lần 2 tiền sát bị bắt, thì lập tức trưởng toán phải quyết định
hũy bỏ công tác liền lúc đó lý do vì ám hiệu và giờ giấc không đúng.
Tất cả chúng tôi mang
chân nhái áo phao và vũ khí cá nhân AK 47, nhảy xuống biển kẻ trước
người sau cùng nhìn nhau lội vào. Còn lại 2 xuồng cao su và hai nhân
viên bỏ neo tại đó để canh giữ và có nhiệm vụ chờ đón toán khi xong phận
sự lội ra, hai chân vừa chạm mặt đất anh em vội tháo gở cặp chân nhái
móc vào bên hông và theo tiền sát dàn hàng ngang nằm dọc bờ biển, mọi
cặp mắt đều đổ dồn hướng lên các bụi cây vì trên đó vẫn còn có một người
tiền sát chính đang ngồi chờ. Kế đến trưởng toán lấy phương giác hướng
đi đến mục tiêu, trên đường di chuyển mỗi bước đi là một nhịp thở từng
tiếng động nhỏ của loài vật cũng đủ làm cho anh em giật mình, vì ban đêm
nên sự quan sát ở phía trước mặt rất là giới hạn tâm trí lúc bấy giờ
quyên hết mọi sự kể cả vợ con, cha mẹ, người yêu .v.v…
Ngược lại thần chết lúc
nào cũng ám ảnh, 6 tay súng từng bước một luôn bám sát gần nhau. Chúng
tôi di chuyển theo chiến thuật đột kích của Biệt- Hải mà cố vấn Seal Mỹ
đã chỉ dẫn, tất cả mọi người đều cùng ý thức trách nhiệm và bảo vệ mức
tối đa cho nhau, có ở trong những giây phút thập phần nguy hiểm nầy mới
định nghĩa được cái tình đồng đội thật hết sức trân quý và hết sức tuyệt
vời, trên đường di chuyển tới mục tiêu, chúng tôi không gặp một trở
ngại nào.
Ðúng khoảng 2 giờ sáng
cả toán đã tới được mục tiêu chỉ định đó là một xóm nhà thuộc dân chài
lưới rất nghèo nàn dưới chế độ của Bác, đồng thời chúng tôi còn tìm cách
đến nơi trú ngụ của cán bộ nhưng không thấy. Anh em chỉ gặp toàn những
ông già bà lão và một số các em nhỏ. Nhân tiện đó đem phân phát những
gói quà Trung Thu cho một số gia đình, tiếp theo đó một vài anh em trong
toán còn làm thêm nhiệm vụ cắm cờ của Mặt Trận Gươm Thiêng Ái Quốc tại
khu xóm đó, trước khi rút lui ra bờ biển để kịp đúng giờ đã hẹn, một số
người tại đó sau khi nhận được quà, họ đã cám ơn rối rít trông thật hết
sức thương tâm và còn luôn miệng gọi anh em chúng tôi là cán bộ mặt
trận, trong số đó có một vài người trẻ đã tỏ ra rất bạo miệng xin được
đi theo với cán bộ (tức chúng tôi). Nhưng chuyến nầy anh em toán không
có lệnh đưa dân về Nam khai thác tin tức, nên vội vàng từ chối và nói
khéo là sẽ gặp họ lại trong lần tới. Trước những năm 1975 rất ít người
ngoài biết đến đơn vị Biệt Hải và LL Hải Tuần, họ là ai? Và cũng không
bao giờ biết được sự hoạt động phía trong nội bộ của SPVZH ra sao, chỉ
trừ nhân viên đã có thời gian phục vụ nhưng khi hết giao kèo thì đều
được an ninh dặn dò theo như trong tờ bảo mật của Sở.
Ngày 30. 4. 1975, toàn
thể QLVNCH bị bức tử bởi các thế lực ngoại bang và bắt buộc phải thua
trận, hằng trăm ngàn quân cán chính phải chịu cảnh trả thù khát máu của
cộng sản Bắc Việt bằng cách tập trung đưa vào các trại tù khổng lồ đầy
khắc nghiệt và ác độc không có lối thoát, vì cuối nẻo đường cùng đầy
tuyệt vọng.
Tôi đành phải ra trình
diện ở địa phương của tôi tại (Huế) tôi khai là phục vụ ở đơn vị Nhảy
dù, cũng may nhờ lúc còn ở LL Biệt Hải tôi đã kín miệng, ngay cả người
thân trong gia đình trong những lần có phép về thăm nhà, cũng không hề
biết tôi là lính gì và phục vụ ở đâu? Lúc đầu chúng tôi được tụi cộng
sản tập trung ở trại Khe sanh, Quảng Trị, một thời gian sau cộng sản di
chuyển chúng tôi về trại Cồn Tiên, Ðông Hà.
Tôi được vào đội 7 (đội 7
là đội dành riêng cho cấp bậc Trung-úy) ở trại vẫn thường có những giờ
học chính trị tại Hội trường, hôm đó có một chính trị viên cao cấp ở
trung ương đến thăm trại và hắn “lên lớp” nói rằng “Một tên Biệt Kích
tội lỗi ngang bằng một viên Ðại Tá” tôi ngồi dưới lớp nghe qua đồng thời
mĩm cười, và thầm nghĩ trong bụng. Tao đang ngồi trước mặt chúng mày
đây, phải trước năm 75. Tao gặp được mầy có lẽ giờ nầy mầy đã đi mò tôm
cho Thủy Vương rồi. Sau một thời gian vì không chịu nỗi sự nhục nhã và
hành hạ thân xác của bọn cai tù, Và vốn mang trong người giòng máu Biệt
Hải không bao giờ chịu khuất phục bọn răng đen mã tấu. Tôi đã quyết định
trốn trại vào năm 1977./.
Oregon, ngày 8 tháng 10 năm 2001
Nguyễn Văn Kha Biệt- Hải Toán Numbus
Trưởng Toán 717,
Ðoàn 71, Sở Công Tác,
Nha Kỹ Thuật, Bộ Tổng Tham Mưu, QLVNCH
Biệt Kích Dù: Người Tù Kiệt Xuất
(viết về người tù Biệt kích Nguyễn Hữu Luyện)
Phan Lạc Phúc
Tôi đã nhiều lần định
viết về những người tù kiệt xuất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà: những
anh em Biệt Kích Dù, những người "từ trên trời rơi xuống," nhưng tôi cứ
lần lựa mãi. Lười biếng thì chỉ có một phần. Lý do chính yếu là những
người bạn tù mà tôi bội phần cảm phục ấy đang ở trong một tình trạng hết
sức khó khăn. Chúng tôi đi cải tạo sau tháng 4 đen 1975, dù đớn đau,
khổ nhục đến đâu, vẫn có tên, có tuổi, hằng tháng, hằng quý vẫn còn liên
lạc được với gia đình. Anh em, bè bạn ở nước ngoài vẫn còn có chút âm
hao để mà theo dõi. Những anh em Biệt Kích Dù thì đúng là "thượng diệt,
hạ tuyệt" - không có quân bạ, quân số, không có tên có tuổi nào được
đăng ký, không có chính phủ nào, quân đội nào công nhận có những con
người ấy ở dưới tay. Không được liên lạc với ai, coi như không còn hiện
diện trên trái đất. Ở trên trời rơi xuống Bắc Việt vào đầu thập niên 60
thời Đệ Nhất Cộng Hoà, những anh em Biệt Kích Dù đã tham dự một cuộc
chiến tranh tối mật (secret war). Những người tình nguyện tham gia cuộc
chiến này đã tự coi như mình đã chết; nhảy xuống, tìm được địa bàn hoạt
động, trà trộn được, ẩn dấu được là sống, là thi hành xong nhiệm vụ, nếu
bị lộ, bị bắt, bị giết thì "Anh tự lo liệu cho cái thân anh, không có
cơ quan nào, tổ chức nào đứng ra can thiệp hay bảo trợ cho anh được".
Những người tù "đứt dây
rơi xuống này không được hưởng chút quyền lợi nào từ quy chế tù binh
(Genève); các cơ quan nhân đạo quốc tế như Hội Hồng Thập Tự, Hội Ân Xá
Quốc Tế cũng không biết làm sao để can thiệp, vì các anh đâu có quân bạ,
quân số, đâu có tên có tuổi được đăng ký hợp pháp ở một chính phủ nào.
Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà, (thời tổng thống Ngô Đình Diệm), nghe nói
Đại Tá Lê Quang Tung, em là Thiếu Tá Lê Quang Triệu phụ trách công tác
này. Ở đàng sau có cơ quan tình báo hay phản gián nào của Mỹ yểm trợ hay
không, điều này ai cũng hiểu là phải có, nhưng cơ quan nào: CIA hay
thuộc cơ quan tình báo Ngũ Giác Đài, không ai dám đoan chắc, mà cũng
không ai dám biết. Nghe nói những người được tuyển chọn vào Biệt Kích Dù
tham gia vào cuộc chiến tranh tối mật, ngoài những người khả năng đặc
biệt về nghiệp vụ như tình báo, truyền tin, phá hoại, trà trộn dưới đồng
bằng, ẩn dấu trong rừng sâu, chiến đấu với đối phương, với bệnh tật,
với thiên nhiên, được trang bị thật kỹ từ A đến Z về mưu sinh thoát
hiểm, họ còn phải là những người tuyệt đối tin tưởng vào quốc gia, vào
lãnh tụ "Sống không rời nhiệm vụ, chết không bỏ lập trường" đó là vũ khí
chung của anh em Biệt Kích.
Như mọi người đã biết,
cuộc chính biến 1 tháng 11 năm 1963 đã làm sụp đổ nền Đệ Nhất Cộng Hoà,
anh em tổng thống Ngô Đình Diệm bị hạ sát; người rất thân tín, người ủng
hộ đến cùng anh em tổng thống Diệm là anh em Đại Tá Lê Quang Tung,
Thiếu Tá Lê Quang Triệu tất nhiên cũng bị triệt hạ thẹo Các anh em Biệt
Kích Dù sau tháng 11 năm 1963, khi anh em tổng thống Diệm chết đi, khi
anh em người chỉ huy chiến dịch là Lê Quang Tung - Lê Quang Triệu bị hạ
sát, đã bị rơi vào tình trạng rắn mất đầu. Sự tan vỡ như thế là không
tránh khỏi. Không biết có một sự kiện "vỡ kế hoạch" vô tình hay cố ý nào
không, nhưng các anh em Biệt Kích Dù ra Bắc lần lượt bị phát giác, bị
truy bức, bị giết và bị bắt.
Không ai biết rõ hay
biết mà không ai dám nói ra, đã có bao nhiêu Biệt Kích Dù ra Bắc, công
trạng họ lập nên được những gì? Bao nhiêu người sống, bao nhiêu người
chểt Chiến tranh tối mật
nên những người thực hiện sống hay chết đều nằm trong bóng tối. Đó là
quy luật của cuộc chơi. Một cuộc chơi quyết liệt và tàn nhẫn.
Có nhiều người cho rằng
trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, người có công nhất chưa chắc đã là
viên thống soái chỉ huy ba quân tướng sĩ, mà người có công nhất có thể
là người chiến sĩ vô danh chết chồng đống trong chiến hào, chết âm thầm
trong rừng sâu, chết lạnh lùng dưới biển cả. Thời gian cũng như lòng
người, đều vô tình như nhau. Nào ai còn nhớ trong biết bao nhiêu người
chiến sĩ Biệt Kích Dù ra Bắc đầu thập niên 60 năm ấy, ai còn, ai mất?
Năm 1980 khi lũ tù cải
tạo chúng tôi đến huyện Như Xuân, chốn rừng sâu Thanh Hoá, gần biên giới
Lào, chúng tôi thấy đây là một trại tù mới dựng giữa rừng sâu.Trước đó,
chắc trại Thanh Phong này chưa có trên bản đồ các trại tù miền Bặc Đây
là một trại tù "ẩn giấu". Lũ tù cải tạo chúng tôi đến đây, thuộc loại
được đánh giá là "ác ôn nợ máu" gồm thành phần An Ninh, Phòng Nhì, Trung
Ương Tình Báo, Chiến Tranh Chính Trị, Bình Định Nông Thôn, thành phần
mà "Cách mạng" cho rằng có liên hệ với CIA. Nhưng so với anh em tù nhân
lưu cựu ở đây thì chúng tôi chưa có kí lô nào hết. Chúng tôi ở phân trại
mới K2; phân trại chính và có mặt ở đây trước là K1, nơi giam giữ tù
nhân kêu bằng CIA, nhưng thực ra chính là anh em Biệt Kích Dù từ đầu
thập niên 60 đã nhảy dù ra Bắc.
Lũ chúng tôi mới tới
được đưa ra tắm suối. Chợt gặp hai người, lưng mang dao quắm, khiêng mỗi
người một bó nứa khá to. Hai người đặt bó nứa xuống và hỏi: "Các bác
vừa ở Tân Lập, Vĩnh Phú xuống?" Chúng tôi gật đầu đồng ý. Hai người liền
lật đật đứng nghiêm, giơ tay chào theo đúng lễ nghi quân cách và đồng
thanh nói: "Chúng em là Biệt Kích Dù đây".
Chúng tôi vừa xúc động,
vừa hoang mang chưa biết nói năng gì thì một người vừa giơ ống tay áo
lên lau mắt vừa nghẹn ngào: "Gần hai mươi năm nay chờ đợi các anh. Không
ngờ lại gặp các anh trong tình cảnh này, đau đớn quá".
Anh em Biệt Kích Dù về
miền thượng du Thanh Hoá, gần biên giới Hạ Lào này trước chúng tôi chừng
vài năm, sau khi đã trải qua những năm tháng tù đày khốn khổ ở những
trại tù rùng rợn vùng biên giới phía Bắc: Trại Cổng Trời Hà Giang, trại
"Mục xương" Cao Bằng hay trại Sơn La "âm u núi khuất trong sương mù".
Nếu quân "bành trướng Trung Hoa" không tấn công 6 tỉnh miền Bắc sát biên
giới hồi đầu 1979, thì có lẽ anh em Biệt Kích Dù vẫn còn quẩn quanh nơi
rừng núi phía Bặc Ở đâu anh em cũng bị "cất giấu" chốn rừng sâu, cách
biệt hẳn với loài người. Một anh Biệt Kích nói với tôi "Coi như ở đây,
trại Thanh Phong này là tụi em được gần gũi với nhân dân nhiều nhất.
Cũng vì thế nên mới được gặp các anh hôm nay". Trong số các anh em Biệt
Kích Dù ở trại Thanh Phong năm ấy (1980) người tù lâu nhất là 20 năm,
người ít nhất là 17 nặm "Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại" chúng
tôi đi cải tạo đã được 5 năm, đã thấy cuộc đời tù dài dằng dặc, nhưng so
với anh em Biệt Kích Dù này thì thật là chưa thấm vào đâu. Anh em cải
tạo tụi tôi vẫn còn liên lạc được với gia đình, vẫn nhận thư, nhận quà,
có anh còn được người nhà từ trong Nam ra thăm nuôi nữa. Mới đây một số
anh em trẻ, cấp bậc nhỏ đã lác đác được về. Như vậy là ở cuối đường hầm
chúng tôi đã có leo lét một vài tia sáng. Anh em Biệt Kích Dù thì từ 20
năm nay, hoàn toàn nằm trong bóng đêm, sống cách biệt hẳn với loài
người, coi như những người "bị bỏ quên" trên hành tinh trái đất. Người
tù truyền thuyết trong cổ tích Trung Hoa là ông Tô Vũ cũng chỉ chăn dê ở
Hung Nô đâu có 17 năm. Xem ra thâm niên đi tù của ông Tô Vũ cũng còn
thua xa anh em Biệt Kích Dù Từ 20 năm nay, tù Biệt Kích chưa hề có ai
được tha về. Không, cũng có một số anh em được về - nhưng đó là "về với
đất".
* Khẩu lệnh biệt kích dù
Phân trại K2 của chúng
tôi nằm cách K1 nơi giam giữ anh em Biệt Kích Dù chừng 4 cây số đường
rừng. Ở cách K2 chừng một giờ đi bộ còn có K3 - nơi giam tù hình sự dữ
nhất: cướp của, giết người. Từ huyện lỵ Như Xuân, vào đến K1 khoảng 15
cây số Ngày xưa, hồi kháng chiến chống Pháp cuối thập niên 40, đi vào
khu 4, nghe nói đến địa danh Hồi Xuân, La Hán ở trên rừng là đã rợn
người Nhưng mà đường đến Hồi Xuân-La Hán so với đường vào trại Thanh
Phong thì chưa đi đến đâu. Một người bạn có vợ thăm nuôi vào được đến
Thanh Phong, gặp chồng rồi là cứ ôm chồng mà khóc. Người vợ đau khổ ấy
không dám nói cho người chồng xấu số biết chị vừa trải qua những khốn
khổ nào. Chỉ biết chị đi từ huyện Như Xuân vào đây chưa đầy 20 cây số mà
2 ngày mới đến, phải ngủ giữa rừng. Cái gì đã xảy ra cho người đàn bà
miền Nam một nách trên 30 ký quà cáp, không có xe phải đi bộ trên những
con đường băng rừng lội suối. Nếu đang đi mà trời mưa đổ xuống thì là
tai hoạ. Suối đang nông lội qua được, mưa xuống chẳng bao lâu là nó
thành sông. Miền Trung đất hẹp, rừng không giữ được nước, nên trời đổ
mưa xuống là nó theo sông theo suối cuốn trôi ngay ra biển. Suối liền
trở thành sông. Người ở đâu ở đó làm gì có phương tiện sang sông nước
đang lên cuồn cuộn Nước lên rất mau mà xuống cũng mau. Người đàn bà đi
thăm nuôi chồng phải nghỉ qua đêm ở một cái chòi vắng ven rừng. Đêm đến,
những "con người thú" đã khai thác đến tận cùng thân xác và của cải
người đàn bà thân cô thế yếu giữa rừng sâu. Sáng ra chị đã muốn cắn lưỡi
tự tử, nhưng vì không muốn bỏ rơi mấy đứa con nhỏ còn ở lại Sài Gòn,
nên chị mới lê tấm thân nhơ nhớp đến gặp chồng đang cải tạo Quà cáp cũng
bị cướp đi luôn. Hai vợ chồng cứ ôm nhau mà khóc. Câu chuyện đau khổ
ấy, dù người chồng câm nín không tiện nói ra nhưng dần dần anh em ai
cũng biết. Nó trở thành một nỗi âu lo âm ĩ trong đám tù cải tạo. Ai mà
không mong một ngày nào đó được thăm nuôi, được gặp vợ, gặp cọn Nhưng
nếu vợ con mình, thân nhân của mình phải hứng chịu những tai vạ đau
thương nhường ấy để được thăm nuôi mình thì khốn nạn cho vợ con mình
quá.
Nhưng lo thì lo vậy,
biết tính làm sao. Thân mình còn chưa chắc là của mình thì còn lo cho ai
được nữa. Trước sự kiện mất an ninh, cướp bóc, hiếp đáp giữa đường như
vậy trại cũng ra thông cáo là sẽ điều tra, sẽ trừng trị nhưng chưa thấy
biện pháp nào cụ thể. Anh em Biệt Kích Dù thì ngược lại phản ứng tức
thời. Đa số anh em Biệt Kích Dù ở đây là "diện rộng" toả ra đi lao động
trên rừng. Trại Thanh Phong ngán ngại anh em Biệt Kích Dù nhưng trong
thực tế, trại "nể" anh em. Trại nể anh em Biệt Kích Dù vì tác phong của
họ, vì sự trên dưới một lòng của họ, nhưng lý do chính yếu nhất là vì
Biệt Kích Dù chính là cái "túi tiền" của ban giám thị trại. Trại tù ở
trên rừng, đâu còn chấm mút được gì. Nhưng vì ở chốn rừng sâu, không ai
léo hánh đến đây, nên trại dễ làm mưa làm gió. Tục ngữ có câu "Nhất phá
sơn lâm, nhì đâm Hà Bá". Chỉ cần có nhân công biết nghề rừng, có kỹ
thuật và có sức. Điều này thì không ai sánh được với Biệt Kích Dù. Rừng ở
đây thuộc loại rừng đại ngàn nên gỗ quý thiếu gì, lại còn có quế. Quế
Thanh Hoá xưa nay vẫn có tiếng trong nền y dược Đông Phương. Bây giờ
không còn bao nhiêu nhưng một tổ anh em Biệt Kích Dù vẫn được lên rừng
tìm quế cho trại trưởng Thuỳ "mồi", nhưng bên ngoài gọi là đi lấu nứa.
Anh em diện rộng Biệt Kích Dù có 3 đội đi rừng lấy gỗ. Lấy về trại xây
dựng thì ít mà lấy gỗ súc đem ra Thanh Hoá bán chui thì nhiều. Tôi được
biết trại trưởng Thuỳ "mồi", phân trại trưởng K2 Vũ B. ai cũng được anh
em Biệt Kích Dù lo sẵn mỗi người một số danh mộc (như lim, như sến, cán
bộ vừa vừa thì có gỗ thao lao, bằng lăng) đủ làm một căn nhà bề thế ở
quê nhà. Anh em Biệt Kích Dù như vậy là một thứ tù "thượng thừa" của
trại Tiếng nói của anh em rất được lắng nghe. Phần lớn anh em Biệt Kích
Dù là hạ sĩ quan, có một số là dân sự nữa. Chỉ có một sĩ quan chỉ huy,
Đại Úy Nguyễn Hữu Luyện Chưa được gặp anh, nhưng tất cả anh em Biệt Kích
Dù nói đến người chỉ huy của họ với tất cả lòng kính mến. Rất ít người
được gặp vị sĩ quan Biệt Kích Dù này, vì anh không lao động, không đi ra
ngoài. Tuy vậy, một mệnh lệnh của vị chỉ huy Biệt Kích Dù đưa ra, dù là
ở trong cảnh tù đày, nhưng anh em Biệt Kích Dù vẫn tuân hành răm rắp.
Phản ứng trước sự mất an
ninh con đường từ huyện Như Xuân đến trại, anh em Biệt Kích Dù đề nghị
mở một "dịch vụ chuyên chở" từ huyện lỵ đến trại Thanh Phọng Lúc ấy đang
có phong trào "hạch toán kinh tế". Anh em Biệt Kích Dù có kế hoạch đóng
2 cái xe trâu, do trâu của trại kéo cùng với hai anh em Biệt Kích Dù
phụ trách. Hai xe, một ra một vào, giúp cho thân nhân của anh em cải tạo
viên có phương tiện đi lại, khỏi phải gồng gánh đi chân như trước, trại
cũng có một nguồn thu ổn định Hoặc có thể dùng xe trâu để chuyên chở
nông lâm sản hay hàng tiêu dùng cho trại và dân chúng. Đề nghị này được
chấp thuận và sau đó gia đình cải tạo viên tới thăm nuôi có xe trâu chở
hàng, chở người, tuy chậm nhưng mà chắc, không bị dân vùng đó hà hiếp,
bắt chẹt về giá cả gồng gánh - quà cáp và thân nhân tù cải tạo cũng được
bảo vệ an toàn. Cùng một lúc với việc đóng xe trâu chở hàng, chở người,
anh em Biệt Kích Dù "diện rộng" đi "rỉ tai" khắp các vùng thôn bản xa
gần trong huyện Như Xuân "khẩu lệnh" của Biệt Kích Dù Khẩu lệnh như sau:
"Thân nhân cải tạo viên ở trại Thanh Phong này là bà con ruột thịt của
Biệt Kích Dù. Anh em Biệt Kích Dù xưa nay không động đến ai, nhưng thằng
nào con nào động đến thân nhân anh em cải tạo, dù là về của cải, dù là
về nhân thân, là Biệt Kích Dù nhất định không để yên. Luật của Biệt Kích
Dù là "mất một đền mười". Động đến thân nhân cải tạo viên, nhẹ là chặt
chân, chặt tay, nặng là giết mà giết cả nhà. Biệt Kích Dù không có gì để
mất, đã nói là làm". Từ đó về sau, thân nhân cải tạo viên trại Thanh
Phong đi thăm nuôi an toàn tuyệt đội' .
* Gặp người chỉ huy biệt kích dù
Hai cái xe trâu, một ra
một vào từ trại Thanh Phong tới huyện Như Xuân do anh em Biệt Kích Dù
phụ trách không những giúp cho thân nhân cải tạo viên thăm nuôi đi lại
an toàn thuận tiện, mà còn là một đường dây giúp chúng tôi liên lạc với
"thế giới bên ngoài"? Muốn "bắn" một cái thư khẩn cấp về Sài Gòn, muốn
mua thuốc lào, thuốc lá, hay thuốc tây, báo chị cứ nhờ anh Biệt Kích Dù
đánh xe trâu Chiều nào, vào khoảng ba, bốn giờ là xe trâu của anh Biệt
Kích Dù cũng lịch kịch đi qua mấy lán của đội mộc, đội rau, đội mía, đội
nông nghiệp tụi tôi ven đượng Biệt Kích Dù hầu như quen biết hết cán bộ
coi tù . Anh em có "mánh" để giao thiệp với họ Bao giờ anh em cũng làm
đầy đủ thủ tục đầu tiên: đồng quà, tấm bánh, ít ra cũng là điếu thuốc có
cán, hay là tờ báo Cán bộ nào tới đây cũng nhờ vả anh em Biệt Kích Dù
không ít thì nhiều Vài bó nứa sửa lại cái căn nhà, cây tre làm cột, ít
vòng mây buộc lại cái cổng, cái giàn hoạ Cán bộ có chức có quyền thì như
đã nói, anh em Biệt Kích Dù "đấm mõm" hết: không một bộ khung nhà bằng
danh mộc thì cũng gỗ súc hay đóng bàn đóng ghế. Trên 250 anh em Biệt Kích
Dù ở K1 làm đủ mọi thứ nghề, cung cấp nhân lực và kỹ thuật cho hoạt
động của toàn phân trại K1. Diện rộng đi rừng lấy gỗ, lấy nứa, lấy mây -
ở nhà thì có các đội mộc, đội rèn, đội xây dựng, đội chăn nuội anh em
Biệt Kích Dù bao thầu hệt Tù thâm niên 20 năm có khác. Biết rõ hết đường
đi nước bước của cán bộ coi tù.
Trên nguyên tắc trại
Thanh Phong K1 đặt dưới quyền chỉ huy của trại trưởng, trung tá Công An
Thuỳ "mồi", nhưng trên thực tế anh em Biệt Kích Dù suốt 20 năm tù đày
gian khổ, vẫn tuân hành tuyệt đối mệnh lệnh của vị chỉ huy của họ, đại
uý Nguyễn Hữu Luyện. Đây là một con người huyền thoại. Chúng tôi nghe
đến tên anh từ lâu nhưng chưa bao giờ được gặp, vì anh không đi lao động
ở ngoài. Anh em Biệt Kích Dù đều tỏ ra rất nghiêm trang, rất kính cẩn
mỗi khi nhắc đến "ông thầy" của họ. Truyện về Đại Úy Biệt Kích Dù này
khá nhiều, đầy vẻ hoang đường, truyền thuyết. Đây là người sau 20 năm bị
bắt vẫn còn tuyên bố: "Tôi Nguyễn Hữu Luyện, Đại Úy Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa. tôi chưa thua các anh. Tôi mới thua một trận, chưa thua cuộc
chiến này". - Bắt Nguyễn Hữu Luyện đi lao động, anh nói: "Các anh có thể
giam tôi, bắn tôi, nhưng danh dự của một sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng
Hoà không cho phép tôi làm những công việc mất nhân cách. Quy chế sĩ
quan không cho phép tôi làm như vậy". Anh đã bị kiên giam nhiều năm tại
rất nhiều trại rùng rợn, dã man nổi tiếng, nhưng Nguyễn Hữu Luyện trước
sau vẫn là Nguyễn Hữu Luyện, không thay đổi, không khiếp sợ, không khuất
phục. Việc Nguyễn Hữu Luyện, không đi lao động như mọi tù nhân khác từ
gần 20 năm nay đã trở thành một nề nếp đặc biệt, các trại tù ngoài Bắc
dù muốn dù không đều phải chấp nhận. Người ta chưa lường được hết quyền
năng của Nguyễn Hữu Luyện đối với anh em Biệt Kích Dù như thế nào. Khi
cần Nguyễn Hữu Luyện ra lệnh là tất cả anh em Biệt Kích Dù nghỉ hết. Như
bữa ở trại Thanh Phong có một anh em Biệt Kích Dù ho "tổn" nhiều năm
không có thuốc nên anh "về nước Chúa". Phần lớn các anh em Biệt Kích Dù
đều là người Thiên Chúa Giáo nhiệt thành, kể cả Nguyễn Hữu Luyện. Nói
chuyện với anh em Biệt Kích Dù họ đều nói "anh em lãnh tụ Ngô Đình Diệm,
Ngô Đình Nhu chúng tôi chưa có chết. Còn ẩn lánh đâu đó. Lãnh tụ chúng
tôi ngày nào đó sẽ trở về". Nghe anh em Biệt Kích Dù ho tổn nằm xuống,
các đội Biệt Kích Dù khi có lệnh xuất trại đều ngồi yên không đi làm Họ
nói "được lệnh của đại uý Nguyễn Hữu Luyện, anh em Biệt Kích Dù ở nhà để
lo hậu sự cho người anh em vừa mới mất". Cán bộ trực trại đến hỏi
Nguyễn Hữu Luyện tại sao ngăn trở việc điều hành của trại Nguyễn Hữu
Luyện trả lời: "Các anh tôn trọng đồng chí của các anh thì chúng tôi
cũng yêu thương đồng đội của chúng tội Nghĩa tử là nghĩa tận, anh em
chúng tôi phải ở nhà để một lần cuối cùng vĩnh biệt người nằm xuống".
Sau điều đình mãi, chỉ có đội Biệt Kích Dù lo về cơm nước cho phân trại
và bộ phận chạy máy điện là đi làm, kỳ dư anh em Biệt Kích Dù khác đều
nghỉ hết. Gặp gỡ anh em Biệt Kích Dù, nghe chuyện kể về đại uý Biệt Kích
Dù Nguyễn Hữu Luyện tôi vừa tự hào vừa buồn bã. Tự hào vì đồng đội đã có
những người kiệt xuất như vậy, buồn bã vì nhìn lại bản thân, nhìn anh em
xung quanh mình thấy khá nhiều người bất xứng.
Những năm tháng trong
trại tù giữa rừng núi Thanh Phong, anh em Biệt Kích Dù đối với chúng
tôi, vừa là một đường dây yểm trợ vật chất, mà cao trọng hơn, còn là một
nơi nương tựa tinh thần.
o0o
Tết năm 1982. Một số lớn
anh em trong trại K2 đã chuyển về Nam. Đội văn nghệ nghiệp dư của tụi
tôi thiếu rất nhiều "nhân tài" nhưng vẫn phải trình diễn cho anh em vui
Tết. Thiếu người, thiếu tiết mục, chúng tôi nhập luôn đội múa lân vào
đội văn nghệ cho xôm tụ Không ngờ đội văn nghệ "què" như vậy, Tết lại
phải đi "lưu diễn" trên K1 và K3. Mùng 2 chúng tôi lên K1 - đường dài 4
cây số chúng tôi đi gần hai tiếng đồng hồ, khoảng gần 9 giờ mới tới. Một
đại diện anh em Biệt Kích Dù nói rằng: "Chẳng mấy khi được đón tiếp các
anh bữa nay, anh em K1 chúng tôi xin hạ một con heo để đón mừng anh em
văn nghệ". Tôi được biết sau này sự hậu đãi ấy là do ý kiến của đại uý
Nguyễn Hữu Luyện đề xuất. Chưa bao giờ đội văn nghệ tù chúng tôi được
tiếp đón long trọng và săn sóc chu đáo như vậy Theo chương trình, đội
văn nghệ trình diễn buổi trưa, diễn xong ăn uống rồi về.
Đang trông nom cho anh
em dựng sân khấu ở hội trường, chợt có một anh em Biệt Kích Dù đến bên
tôi khẽ nói: "Anh Luyện em mời anh vô trong lán uống trà". Đi lên đây
K1, ước mong thầm kín của tôi là được gặp người sĩ quan Biệt Kích Dù
truyền thuyết ấy. Xem con người thật và con người "huyền thoại" giống
nhau, khác nhau ra sao.
Tôi vội vàng theo người
anh em Biệt Kích Dù đi vào trong lạn K1 cũng như K2, K3 lán tù thường
tối và thấp. Đi qua hai ba căn nhà dài hôi hám, mờ mịt tôi tới một căn
buồng đầu lán. Vừa bước chân vô chưa kịp định thần, tôi đã thấy một con
người cao lớn, mắt sáng trán cao đứng phắt dậy, chụm chân theo động tác
quân sự, giơ tay chào đúng lễ nghi quân cách, miệng nói: "Mes respects,
mon colonel!".
Tôi thảng thốt không
biết phản ứng ra sao. Đi tù 5, 6 năm nay, mình là giai cấp đang bị triệt
tiêu, là tù nhân đứng hàng thứ bét của nấc thang xã hội, tại sao lại có
người chào mình trân trọng như vậy "Mes respects, mon colonel" đây là
lễ nghi theo kiểu Pháp. Bao nhiêu năm nay, có nghe thấy, nhìn thấy kiểu
chào này đâu. Mình bây giờ, là tù khổ sai biệt xứ, đâu còn gì mà "kính
chào Trung Tá".
Tôi vội vàng tiến tới
nắm lấy tay người đang đứng cứng người chào tôi theo đúng lễ nghi quân
cách mà hỏi: "Thưa anh, anh là Nguyễn Hữu Luyện" Người ấy, vẫn đứng
nghiêm, chỉ đưa tay xuống rồi nói tiếp: "Vâng thưa anh, tôi là Luyện",
"Anh Luyện ơi, anh làm vậy tôi khó xử quá, thời buổi này, anh em mình
gặp nhau là quý". Lúc ấy, Nguyễn Hữu Luyện mới rời bỏ tư thế đứng
nghiêm, khẽ nói "Thưa anh, anh vẫn cứ phải cho phép tôi làm như vậy Dù
sao chăng nữa, anh vẫn là đàn anh của tôi". Nguyễn Hữu Luyện học khoá 4
phụ Thủ Đức Tôi học khoá 2 có ra trường trước anh vài khoá thật, nhưng
20 năm qua, nếu anh còn ở lại miền Nam, với khả năng ấy, thiện chí ấy,
không biết anh đã lên tới cấp nào, đâu có lẹt đẹt như tôi Khoá 5 Thủ Đức
đã có người lên tướng Nhưng đối với người như Nguyễn Hữu Luyện, theo
tôi cấp bực là thứ yếu, nhân cách mới là chính yếu Ở trong quân đội miền
Nam, về nhân cách, ai xứng đáng là đàn anh của đại uý Biệt Kích Dù
Nguyễn Hữu Luyện bây giở.
Sau một tuần trà, Nguyễn
Hữu Luyện chậm rãi nói nhỏ với tôi: "Có một " thằng ẹm vừa nhận được
một cái tin rất lạ, rất mợi May là lại được gặp anh hôm nay ở đậy Được
biết anh vốn là một nhà báo Xin anh cho ý kiến về tin vừa mới nhận này".
Nói xong Nguyễn Hữu Luyện ra dấu cho một anh em nào đó đứng gần bên
"Gọi Th. lên đây". Trước khi Th. tới, anh Luyện có cho tôi hay Th. là
một biệt kích dù cấp bậc thượng sĩ chuyên lo về truyền tin Th. là một
chuyên viên về địa hạt nạy Hai chục năm bị bắt nhưng Th. vẫn xử dụng
được tay nghệ Ở ngoài Bắc lúc ấy, tiêu chuẩn của một người "phấn đấu
tiến bộ" là đạt 3 Đ: xe đạp, đồng hồ và Đài rădio). Trong hàng ngũ cán
bộ thì công an vốn là một nơi an toàn mà "kiếm được". Chỉ có hàng ngũ bộ
đội là phải đi chiến trường chết banh thây mất xác hoặc phải đóng quân ở
những nơi đầu sóng ngọn gió nghèo mạt rệp mà thội Cán bộ Công an tương
đối có nhiều người đạt tiêu chuẩn 3 Đ Nhưng đài ngoài Bắc phần lớn thuộc
loại xưa, khó xài, dễ họng Vì vậy nên chuyên viên truyền tin Th. luôn
luôn có việc lạm Một lát sau, anh Th. lên gặp chúng tội Anh nói rằng:
"Em sửa đài cho cán bộ quanh năm không lúc nào hết việc Nhưng không bao
giờ em sửa đài xong xuôi, rốt rạo Lúc nào em cũng phải lấy cớ này, cớ
kia để giữ lại bên mình một cái đài "chạy được". Em giữ lại để đeo
"ê-cút-tưa" vào nghe tin tức một mịnh Thưa anh, tối hôm qua, mùng 1 Tết,
chính tai em nghe có một ông tướng Mỹ mà em không nhớ được tên đang ở
Việt Nam, nói chuyện với các nhà lãnh đạo Hà Nội về vấn đề cựu chiến
binh Mỹ mất tích, về tù nhân chính trị Lần đầu tiên chính tai em nghe là
những biệt kích nhảy dù ra Bắc đầu thập niên 60 cũng được xét đến trong
dịp gặp gỡ nạy Thưa anh, vài chục năm nay nghe đài, đây là lần đầu em
nghe đài nhắc đến số phận tụi ẹm Chúng em là những người bị bỏ quên, coi
như đã chết rội Không số quân, không tên tuổi, không nơi nào nhận Chúng
em là những người "đứt dây rơi xuống luôn luôn sống ở một xó rừng góc
núi " trên không chằng, dưới không rệ , không còn liên hệ gì với xã hội
loài ngượi Bây giờ em nghe tin ông tướng Mỹ sang Hà Nội nói đến số phận
tụi em, em nghe xong mà tự nhiên nước mắt chảy ròng rọng không biết là
mơ hay thật đây". Tôi vội cầm lấy tay người thượng sĩ Biệt Kích Dù mà
nói: "Đúng đấy bạn ơi, thời gian này ông tướng Vessey, đặc sứ (special
envoy) của tổng thống Mỹ Reagan đang viếng thăm Hà Nội Các báo Việt Nam
đều nhắc đến sự kiện nạy Tin mà bạn vừa nghe được rất đáng tin cậy".
Nguyễn Hữu Luyện vội chen vào "Làm sao mình tin được đài Hà Nội". Tôi
nói tiếp "Đây là một sự kiện có tính cách quốc tế, truyền thông thế giới
đều theo dõi sự viếng thăm của tướng Vessey, nên đài Hà Nội dù muốn dấu
cũng khó lọng Vả chăng thông tin của khối Xã Hội Chủ Nghĩa xưa nay chỉ loan những tin
nào có lợi cho họ Tin bất lợi, họ quên đi ngạy Việc tướng Vessey đến
Việt Nam, ở bên trong chắc đã có một thoả thuận nào có lợi cho Hà Nội
không mặt này thì mặt kịa Mình chưa biết được sự thoả thuận ấy đến đâu,
chi tiết ra sao, nhưng việc loan tin sự hiện diện của đặc sứ Vessey đến
Hà Nội, nhìn chung là một chỉ dấu thuận lợi cho lũ tù nhân chúng ta, đặc
biệt là đối với các anh, những người mà trên 20 năm nay họ cố ý hay vô
tình quên lạng Nguyễn Hữu Luyện trầm ngâm "Như bản thân tôi và anh em
chúng tôi ở đây đã từng rút kinh nghiệm không nên tin tưởng nhiều quá
vào người Mỹ" - "Đồng ý trên nguyên tắc, nhưng trong số những người Mỹ
còn nhớ đến đồng minh cũ, còn lưu ý đến số phận khốn khổ của chúng ta
thì ông Reagan này là số 1. Nếu năm ngoái cái tên Mỹ khùng nào nó bắn
ông ấy chết thì chúng ta còn vất vả hơn nhiệu Bây giờ đặc sứ của ông
Reagan, tướng Vessey sang đây có đích thân nhắc đến Biệt Kích Dù thì tôi
nghĩ sớm muộn trường hợp các anh sẽ được giải quyệt Các bạn có thể được
vệ". Một nụ cười mơ hồ trên khuôn mặt Nguyễn Hữu Luyện. Anh như nói một
mình "Được về, được về, mà về đâu"
Lời bình Mao Tôn Cương
của tôi hồi đầu năm khi lưu diễn ở K1 không ngờ được chứng nghiệm Đến
giữa năm 1982, có hai lượt thả Biệt Kích Dù, mỗi lượt trên dưới 100
người Chuyện không ai ngờ mà tới Ông tướng Vessey đặc sứ của tổng thống
Mỹ Reagan đã giở lại chồng hồ sơ mật đầu thập niên 60, can thiệp với Hà
Nội để cho những Biệt Kích Dù bị giam trên dưới 20 năm ở nơi thâm sơn cùng
cốc được trở về hội nhập với loài ngượi Cùng thời gian đó chương trình
"nước sông công tù" đem cải tạo viên đến khai hoang những vùng rừng núi
âm u (như trại Thanh Phong huyện Như Xuân giáp với Hạ Lào này) trở thành
nông trường, lâm trường, rồi đem gia đình cải tạo viên lên chỉ định cư
trú ở những chốn rừng sâu nước độc, cũng được dẹp bỏ luộn Phần lớn anh
em tù chính trị được chuyển về Nam hay đổi đi trại khạc Đến cuối năm
1982, trại Thanh Phong K2 chỉ còn lại trên 50 tù chính trị. Còn lại toàn
là tù "đui, què, mẻ sứt" già yếu, bịnh tật hay là thuộc loại "không
tiện cho về Nam". Tôi thuộc số trên 50 người còn lại nạy Ngày 14 tháng
11 năm 1982 trên nguyên tắc phân trại tù chính trị K2 giải thệ Những
người tù còn lại đi ra K1. Ở đây tù chính trị sẽ cùng anh em Biệt Kích
Dù còn lại lên xe đi đến một trại khác ở Nghệ Tĩnh: Trại Tân Kỳ.
* Về trại Tân Kỳ
Trại
Tân Kỳ này là một trại "trung chuyển". Bao nhiêu tù chính trị ra Bắc
còn lại hồi 76-77 trước khi về Nam về tập trung ở trại nầy và có một số
khác ở trại Ba Sao, Hà Nam Nịnh Trại Tân Kỳ này chứa đựng đủ loại tù: tù
chính trị, tù CIA, tù Biệt Kích, tù Fulro, tù hình sự thứ dự Trại này
có 2 khu, khu Tây và khu Động Chúng tôi gọi là "Tây Đức" và "Đông Đức"
vì khu Tây tương đối dễ thở hơn khu Động Ở đây tôi gặp được nhiều loại
người: ông Võ Tr. lãnh tụ VNQD ở miền Trung, Quảng Ngãi, linh mục duy
nhất Trần Hữu L., những ông tướng Fulro, mấy ông thủ tướng, bộ trưởng
"chính phủ trong bóng tối" và đặc biệt tôi được ở cùng lán với người thủ
lãnh Biệt Kích Dụ Chính trong thời gian này, vì chung đụng, gần gũi nên
tôi mới được hiểu thêm về người tù kiệt xuất Nguyễn Hữu Luyện Anh em
Biệt Kích Dù về trại Tân Kỳ (Nghệ Tĩnh) chỉ còn độ trên 50 ngượi Vì có
tay nghề riêng nên các anh em Biệt Kích Dù được biên chế về các đội
chuyên môn như đội mộc, đội rèn, đội chăn nuội Riêng thủ lãnh Biệt Kích
Dù Nguyễn Hữu Luyện lại chuyển đến một đội khác, đội rạu Tôi xưa nay đi
tù cũng có chút "chuyên môn" nên ở đây, trại mới, tôi cũng được xử dụng
đúng theo "tay nghề": chuyên trị về phân và nước tiệu Ở các trại, đội
rau nào cũng cần đến loại phân bón nạy Tôi nghiệm ra ở các trại cũ như
Yên Hạ (Sơn La), Tân Lập (Vĩnh Phú), Thanh Phong Thănh Hoá) và bây giờ ở
đây Tân Kỳ, đồng nghiệp phân tro của tôi thường được tuyển lựa trong
mấy ngành Quân huấn, Quân pháp hay Chiến tranh chính trị Đồng nghiệp cũ
của tôi là thượng toạ nguyên giám đốc Nha Tuyên uý Phật giáo, là mục sư
Tin Lành, là thẩm phán Toà án Quân sự, là giáo sư Trường Võ Bị Quốc Gia
v..v... Ở đây thì đại loại cũng như vậy, ở khu Tây Đức này có 4 lán, có 4
người lo về nhà cầu thì 1 là biện lý, 1 là đại đức, 1 là ông thầy dạy
Anh văn trường Chiến tranh Chính trị và tội Sự tuyển dụng "trước sau như
một" này là chấp hành đúng tinh thần "Mao-ít": "Chữ nghĩa không bằng
cục phân". Tôi lại nhớ đến thái độ của đại uý Biệt Kích Dù Nguyễn Hữu
Luyện khi anh nhất định không đi lao động Ở đây cũng như ở các trại khác
từ trên 20 năm qua, và đã trở thành biệt lệ, Nguyễn Hữu Luyện được biên
chế về đội rau nhưng anh nhất quyết không đi lạm Toán "nhà cầu" tụi tôi
khoảng 10 giờ sáng là công việc tạm xọng Phân, nước tiểu đã dọn sạch,
chuyển cho đội rạu hà cầu đã quét tước, rắc vội Lúc bấy giờ là lo đi tắm
vì dù đã đeo khẩu trang, bịt mũi bịt mồm, nhưng tự thấy thân thể mình
hôi hám quạ Mùa nực được đi tắm là một cái sướng, nhưng mùa rét mà phải
đi tắm trong khi bụng đói cồn cào lại là một cực hịnh Nước suối lạnh cắt
da, mấy tên tù mặt mũi xám xịt, thân thể gầy còm, co ro run rẩy, ngần
ngại đứng bên bờ suội Nguyễn Hữu Luyện không lao động, người luôn luôn
sạch sẽ, nhưng ngày nào dù rét đến đâu Luyện cũng cùng chúng tôi đi tặm
Người lội xuống suối đầu tiên là Luyện Anh nói: "cứ ào một cái là xong".
Cái lạnh ở miền Trung này đối với Nguyễn Hữu Luyện xem ra không có
nghĩa lý gị Anh bao nhiêu năm nằm trong hốc đá ở trại cổng trời Hà Giạng
Bao nhiêu năm cùm kiên giam trong trại mục xương Cao Bặng Ở miền cực
bắc nước ta, cái lạnh còn ác liệt hơn nhiệu Người tù Biệt Kích trên 20
năm, đi qua mọi gian lao thử thách bằng một câu nói vô cùng giản dị: "Cứ
ào một cái là xong". Ở gần bên, trong cùng một lán, tôi thấy Nguyễn Hữu
Luyện sống như một thiền sự Trong tù có một vấn đề hết sức quan trọng
là ặn Ai cũng đói mờ ngượi Bữa ăn và cái ăn là giấc mơ lớn nhất của tụ
Nhưng đối với Nguyễn Hữu Luyện hình như anh coi rất nhẹ vấn đề ặn Anh
được phát đồ ăn thế nào, ăn thế ấy, mà ăn rất lẹ, rất nhanh, không biết
anh ăn lúc nạo Không thấy anh phàn nàn bao giờ về vấn đề đọi Hình như
anh ở tù lâu quá, đói trở thành thường trực nên anh đã quen đị Một vài
anh em được thăm nuôi, hoặc nhận quà, có lòng quý mến anh, biếu anh cục
đường, nắm xôi, tấm bánh hay mời ăn một bữu cơm, nhưng trước sau không
thấy anh nhận của ai một tặng vật nạo Tôi một bữa nhận quà có đưa đến
anh một chiếc bánh chưng nho nhỏ. Anh nhất định chối tự Tôi mới nói:
"Chỗ anh em sao anh kỹ quá". Nguyễn Hữu Luyện cười cười, nắm tay tôi mà
nói nhỏ: "Bao nhiêu năm tôi tập cho cái bao tử nó đòi hỏi thật ịt Bây
giờ anh em cho tặng vật, ăn vào nó quen dạ đi thì lại khổ đấy anh ạ".
Nhưng có một thứ mà ai cho anh cũng nhận Nhận một cách hân hoạn Đó là xà
bộng Không hiểu sao, Nguyễn Hữu Luyện có một nhu cầu về tắm rửa, về
sạch sẽ một cách lạ lụng Xà bông đối với anh thật là cần thiệt Như đã
nói ở trên, chúng tôi dân "nhà cầu" làm việc xong, mình mẩy hôi hám nên
cực chẳng đã mùa rét mà phải đi tặm Nguyễn Hữu Luyện không đi lao động
mà trưa nào cũng ra suối với chúng tội Nguyễn Hữu Luyện người rất cao,
ít ra là 1,75m. Quần áo trại phát anh mặc vào ngắn cũn cợn Người đã cao
anh lại còn đi đôi guốc mộc do anh đẽo lấy nên trông lại càng lênh khệnh
Đi tù anh nào anh nấy chân nứt nẻ, bè ra như tổ tiên giao chỉ, riêng
Nguyễn Hữu Luyện chân trắng bóc, gót đỏ hộng Trông gót chân của người
Biệt Kích Dù đi tù trên 20 năm tôi bỗng nhiên nhớ đến 2 câu thơ của Vũ
Hoàng Chương thuở nào: Ta van cát bụi trên đường Dù nhơ dù sạch đừng
vương gót này. Trong món đồ hàng ngày đi tắm của Nguyễn Hữu Luyện có một
vật rất lạ, rất ít có ở đậy Tù đi tắm thì cứ thế cởi truồng ra, vục tay
xuống suối mà kỳ cọ, tắm rựa Hoặc buổi sáng có ra giếng rửa mặt thì
cũng chỉ mang cái thùng kéo nước với bàn chải đánh răng là cụng Nguyễn
Hữu Luyện đi tắm khác với người ta, mang theo một cái chậu men xanh thật
đẹp Màu men óng ả chói ngợi tương phản rõ rệt với màu cố hữu của trại
tù là màu xám xịt Tôi mới hỏi Nguyễn Hữu Luyện: "Ở đâu mà có cái chậu
men xinh đẹp vẩy" Nguyễn Hữu Luyện trả lời: "Tôi cũng không ngờ là tôi
lại nhận cái chậu nạy Của tên trại trưởng trại "mục xương" ở Cao Bằng
tặng cho tôi đậy Cao Bằng giáp với biên giới Trung Hoa nên vẫn có hàng
lậu đi từ Trung Quốc sạng Cái chậu này là đồ làm từ Quảng Châu có nhãn
hiệu chỉ rọ Dạo cuối thập niên 70, tên trại trưởng Thiếu tá Công an nó
hành tôi ghê lặm Nhất định nó bắt tôi đi lao động Tôi thì nhất định
không đị Nó liền cùm chận Cùm chán rồi đem xuống hầm tội Rồi bắt nhịn ặn
Mùa lạnh nó còn đổ nước xuống hầm nựa Tôi người Công giáo nên tôi cầu
Đức Mẹ Maria, trong cơn thập tử nhất sinh, tôi cũng cầu luôn Phật Bà
Quan Âm nựa Nó ành tôi mãi năm này sang năm khác mà cuối cùng tôi vẫn
còn sộng Nhưng mà chết thì thôi, tôi nhất định không đi lao động Không
chịu thua chúng nó". - "Như vậy thì tên trại trưởng này nó hận anh ghê
lắm, tại sao nó lại tặng anh cái chậu nảy"- "Tôi cũng không biết nữa,
hắn hành tôi luôn mấy năm, nhưng cuối cùng hắn thả tôi ra khỏi hầm kiên
giạm Một bữa hắn cho gọi tôi lện Hắn nói: "Tôi sắp đổi đi trại khác, có
phải anh ưa tắm rửa lắm phải khổng Tôi tặng anh cái chậu Trung Quốc
này". Tôi từ chối nhưng hắn ta cứ để cái chậu lại, rồi bắt tay từ biệt
Chẳng đặng đừng, tôi phải giữ cái chậu men xanh này, mà tôi cũng không
hiểu tại sao hắn lại làm như thế".
* Tấm hình nhận đêm cuối năm
Ở cùng lán tôi thấy
Nguyễn Hữu Luyện là một người ít nói, ít giao thiệp Không đi làm, cả
ngày tôi thường thấy anh ngồi quay mặt vào tường, kiểu thiền sư diện
bích. Nhưng không phải anh ngồi thiền mà anh đọc sạch Một cuốn sách dày
để trước mặt Anh người Công giáo, tôi tưởng anh ngày ngày đọc thánh kịnh
Nhưng một hôm tôi biết là không phại Một buổi chiều anh mời anh bạn
giáo sư Anh văn lại chỗ ạnh Anh hỏi về văn phạm, về cách đọc một vài chữ
khọ Thì ra cuốn sách dày anh luôn để trước mặt là một cuốn tự điển Anh
Việt Bạn tôi hàng ngày ngồi học thuộc từng trang tự điện Tôi mới hỏi:
"Ông học Anh văn kiểu ấy thì bao giờ cho xỏng" Luyện trả lời: "Được chữ
nào hay chữ nấy mà cũng để cho nó quên ngày quên tháng đi ông ơi". Nhưng
học Anh văn, theo tôi nghĩ rất khó mà tự học Còn văn phạm còn cú pháp,
còn cách đọc, cách nhận làm sao cho người ta hiệu Ông bạn giáo sư Anh
văn và tôi cùng dân "nhà cầu" nên ở gần nhạu Thỉnh thoảng buổi chiều,
buổi tối Nguyễn Hữu Luyện lại tới rù rì bàn chuyện tiếng Ạnh Ở trong
trại cải tạo, tiếng nước ngoài, đặc biệt là tiếng Pháp, tiếng Anh nguyên
tắc là cấm chị Nhưng dạo này ở Sài Gòn có phát hành tuần san Nga Sô ấn
bản tiếng Anh gọi là New Times Vì nhu cầu đọc báo cũng như nhu cầu tìm
học tiếng Anh, nên tờ New Times anh em nhận được từ gia đình gởi tới khá
nhiệu Thấy sách báo của đàn anh Nga Sô vĩ đại là cán bộ trực trại gật
đầu cho nhận Anh em đọc New Times với quan niệm "Nó nói gì, kệ cha nó -
miễn là mình có tài liệu học Anh văn". Nguyễn Hữu Luyện là người tìm đọc
New Times kỹ nhất.
o0o
Chúng tôi về trại mới
Tân Kỳ đã được gần 3 tháng. Anh em Biệt Kích Dù được tha về từ trại cũ
Thanh Phong có lẽ cũng đã được trên dưới nửa năm. Đã gần tới Tết, sắp
sang năm mới 1983. Anh em nhận được quà nhà gởi "đông" hơn dạo trước.
Trại này ở gần ngay huyện lỵ Tân Kỳ nên thư từ, quà cáp tới mau hơn
Thanh Phong nhiều. Tôi nhận thấy hằng ngày vào khoảng buổi chiều sắp sửa
đóng cửa lán, thế nào cũng có một vài anh em Biệt Kích Dù đến nói điều
gì đó với Nguyễn Hữu Luyện, như là "báo cáo" hằng ngày của anh em với
chỉ huy trưởng. Vừa có một sự kiện đặc biệt xảy ra với anh em Biệt Kích
Dù. Trên 20 năm nay, anh em Biệt Kích Dù không bao giờ nhận được thư,
được quà. Anh em là những người bị bỏ quên trong xã hội loài người.
Nhưng gần đến Tết năm 1983, có trên 10 gói quà gửi đến cho một số anh em
Biệt Kích Dù. Những anh em được về từ nửa năm trước đã họp nhau gửi quà
cho những người còn ở lại. Trong một buổi tối lên ngồi nói chuyện với
tụi tôi, Luyện kể: Một số lớn anh em được về nhưng không còn liên lạc
được với gia đình nữa 20 năm qua gia đình xiêu tán không còn nhận được
âm hao. Có anh thì vợ đã lấy chồng khác, đã an phận với một cuộc đời mới
từ mười mấy năm qua. Ván đã đóng thuyền, người trở về không muốn gây
phiền muộn cho cố nhân làm gì nữa. Những anh em tìm lại được thân nhân,
gia đình phải nói là rất hiếm. Vì vậy nên một số lớn anh em Biệt Kích Dù
sau khi đi tù 20 năm biệt xứ trở về đành tụ họp cùng nhau, tuỳ nghề
nghiệp, tuỳ hoàn cảnh mà quây quần bên nhau xây dựng một cuộc đời mới,
trong một xã hội mới đầy khó khăn, thù hận. Cuộc sống mới của anh em hẳn
là vất vả, gian nan, nhưng những món quà của anh em ở ngoài gửi vào cho
anh em ở lại đều là những đồ gia dụng cả: gạo nếp, gạo tẻ, mì, trứng
muối, thịt ướp, cá khô, cá hộp v.v... những thứ cần thiết cho một ngày
Tết cổ truyền. Anh em được về như vậy đã không quên những người ở lại.
Tôi có nghe buổi chiều Luyện dặn một anh em Biệt Kích Dù "sẽ họp lại ăn
chung". Một số anh em nhận được quà, được thư, nhưng bản thân Nguyễn Hữu
Luyện thì không. Anh là người ít nói, không thích tỏ bày nên tôi cũng
không tiện hỏi. Không biết gia đình của anh bây giờ ra sao? Có thể bản
tính anh kín đáo, hoặc là nghề nghiệp Biệt Kích, được huấn luyện về bảo
mật quá kỹ nên anh không muốn nói về mình; hay là những năm tù kiên giam
trong hầm đá đã làm cho anh quen đi với bóng tối và im lặng. Tôi không
biết nữa. Tôi chợt nhớ đến chi tiết khi tôi gặp anh lần đầu ở trại Thanh
Phong, sau khi nghe tin đặc sứ của tổng thống Mỹ Reagan, tướng Vessey
can thiệp thì các anh em Biệt Kích Dù có thể được về, Nguyễn Hữu Luyện
đã âm thầm khẽ nói "Được về, được về mà về đâu?"
Bây giờ tôi mới hiểu hơn
hai chữ "về đâu?" của Nguyễn Hữu Luyện. Không biết anh có còn gia đình,
có còn người thân chờ đợi? Trên 20 năm biệt xứ, không thư từ, không
liên lạc, không tin tức đâu phải người đàn bà nào cũng bền gan hoá đá
vọng phu? Cái dấu hỏi sau 2 chữ "về đâu" của Nguyễn Hữu Luyện là hoàn
toàn hữu lý. Gần Tết năm nay, khi một số khá đông anh em Biệt Kích Dù đã
có tin tức tôi băn khoăn, hồi hộp lo lắng cho tình trạng của anh mà
không dám nói ra. Đây là một vấn đề riêng tư rất tế nhị, có khi thiêng
liêng nữa, không nên vội vàng đề cập tới.
Một buổi tối Nguyễn Hữu
Luyện đến với tụi tôi, dáng điệu hấp tấp hơn thường lệ, trên tay không
cầm tờ New Times như mọi khi mà thay vào đó là một bao thư. Chuyến quà
buổi trưa vừa tới có thêm một số gói cho anh em Biệt Kích Dù, và trong
gói quà mới có bao thư này. Gói quà gởi cho một anh em Biệt Kích Dù
khác, nhưng có một số hình ảnh nhờ anh Biệt Kích Dù này gửi cho Nguyễn
Hữu Luyện, anh vừa nhận được buổi chiều. Anh ngồi quay lại, đưa hình cho
chúng tôi coi. Hình ảnh một đám cưới. Cô dâu, chú rể đang đứng lạy
trước bàn thờ khói hương nghi ngút. Trên bàn thờ có tấm hình phóng lớn
của thân sinh cô dâu. Đôi trẻ vừa thành hôn đang cúi đầu trước người đã
khuất. Tấm hình trên bàn thờ nhìn kỹ đâu phải ai xa lạ chính là hình
Nguyễn Hữu Luyện 20 năm về trước. Nguyễn Hữu Luyện nói trong xúc động:
"Khi tôi đi con gái đầu lòng tôi mới có 4 tuổi, năm ngoái con tôi nó đã
lấy chồng. Hơn 20 năm cách biệt không thư từ, không tin tức, vợ con tôi
tưởng rằng tôi đã chết". Đây là lần đầu tiên tôi thấy một giọt nước mắt
ngập ngừng trên khuôn mặt phong sương của người tù kiệt xuất Nguyễn Hữu
Luyện Trong đêm cuối năm giá buốt ở trại Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh, có 3 người
tù cùng âm thầm nhỏ lệ trong đêm.
* Bạn tù Fulro
Ở
trại "Tây Đức" có 4 lán thì 3 lán là tù chính trị ở cùng với tù Fulro,
lán còn lại là tù hình sự Trại Tân Kỳ này, thời kỳ "phồn thịnh" chứa
trên 1000 tù, bây giờ tù chính trị được đưa về Nam khá đông nên cả hai
khu "Đông Đức - Tây Đức" chỉ còn lại chừng 500 tụ Chúng tôi ở đội rau
cùng lán với anh em Fulro thuộc đội "củ quả", chuyên trồng bí, trồng
khoai, trồng tra, trồng mía. Những anh em Fulro theo chức danh ghi trong
"lý lịch trích ngang" đều là những nhân vật lớn như thiếu tướng, chuẩn
tướng, đại tá, trung tá, thiếu tá v.v... nhưng thật ra chỉ là những đồng
bào thiểu số không biết chữ, nói tiếng Việt không bỏ dấu, rất khó nghe
luôn luôn cười nhe hai hàm răng cà sát lợi Sự ngây thơ, chân thật hiện
rõ trong từng dáng điệu, từng lời nọi Nghe, nhìn họ khó có thể tưởng
tượng đó là tướng, tá trong mặt trận giải phóng liên kết các dân tộc bị
áp bức Fulro (Front unifié pour la liberatión des races opprimeés).
Phong trào này đã phát khởi từ lâu, giữa những năm 60 và đã gây phiền
nhiễu không ít cho chính quyền miền Nạm Sau tháng 4 đen 1975 khi miền
Nam rơi vào tay cộng sản, phong trào Giải phóng các dân tộc bị áp bức
Fulro không những không tiêu trầm mà ngược lại Fulro lại trở thành một
mặt trận võ trang chống đối cộng sản rất mạnh mẽ tại miền Cao nguyên
Trung phần thuộc Hoàng Triều Cương Thổ cũ. Rất đông các đồng bào thiểu
số thuộc nhiều bộ tộc ở Kontum-Pleiku bị bắt, cho rằng có dính líu tới
Fulro. Riêng ở trại Tân Kỳ này có tới hơn 200 tướng, tá Fulro bị bắt
giữ. Chúng tôi tù nguỵ quân, nguỵ quyền, biệt kích ở với anh em Fulro
tương đối thuận thảo, không thấy anh em Fulro lộ vẻ "căm thù" gì hết.
Nhiều khi anh em còn tiếp tế củ khoai, đẫn mía. Anh em đội rau thì đưa
lại su hào, rau cải. Không nói ra nhưng tù chính trị và tù Fulro thông
cảm nhau trong tình cảnh "cùng một lứa bên trời lận đận".
Nhưng một buổi tối có
một sự kiện không ngờ xảy ra. Trong số anh em Fulro ở lán tôi có một anh
còn trẻ, nghe nói là thiếu tá, trước đây có đi lính Biệt Kích Mũ Xanh
(green beret) của Mỹ hoạt động trên vùng Cao nguyên "Hoàng Triều Cương
Thổ". Anh này chắc làm việc lâu ngày bên người Mỹ, nên ở nơi anh hiện ra
một sự kiện nghịch thượng Anh không biết chữ nhưng ngược lại nói tiếng
Anh rất "chạy". Anh nói tiếng Anh dễ hơn, giỏi hơn nói tiếng Việt nhiều,
một loại tiếng Anh người ta thường nghe thấy nơi các ghetto ở Mỵ Tâm
tính anh cũng là một sự cộng hưởng kỳ lạ, cái thơ ngây man dã ở bên cái
khôn lanh quỷ quyệt . Anh có củ khoai, khúc sắn thì anh đánh đổi lấy
rau, lấy đường với anh em tù chính trị "tiền trao cháo múc". Đêm nằm anh
nghêu ngao một bài hát núi rừng nào đó, nghe không hiểu được nhưng
phảng phất một nổi buồn rờn rợn, trầm thống như nghe một khúc spiritual
của người da đen ở Hoa Kỵ Anh thạo nghề mưu sinh trong rừng nên anh luôn
luôn bắt được cá, lươn, ếch, nhái, có khi rắn nữa để cải thiện bữa ăn.
Ăn không hết anh mới bỏ những con vật ấy vào trong một cái hũ sành để
làm một thứ mắm riêng. Cái hũ sành nầy anh để dưới sàn, gần chỗ đầu năm.
Lâu ngày mắm có mùi, anh thì chịu được nhưng mấy anh em tù chính trị
nằm gần chịu không nổi mới nói với anh trực buộng Anh trực buồng, một
anh công binh già cận thị phải nhờ một anh Fulro có tuổi, nghe nói là
đại tá, nói với anh bạn thiếu tá Fulro xin dời cái hũ mắm của anh đi chỗ
khác. Anh này nghe xong gạt phăng ông già đại tá sang một bên rồi vùng
vằng đi nằm, hết sức bất bình. Cái hũ mắm càng ngày bốc mùi càng nặng,
nên một buổi nhân mọi người đi làm hết, anh trực buồng mới mang cái hũ
ấy ra ngoài, đặt ở sau lán, bên đống cũi. Đi làm buổi chiều về khi lán
đã đóng cửa, anh thiếu tá Fulro mới nhận thấy cái hũ mắm của anh không
còn ở chỗ cũ. Anh nổi giận đùng đùng, chửi mắng loạn xạ. Một người nào
đó mới chỉ anh trực buồng. Anh này chạy bay đến chỗ anh trực buồng già
cận thị, nắm ngực áo lôi xền xệch hét lên: "Sao mày lấy của tao, I'm
gonna to get you, to kill you." Tăo sẽ đánh mày, giết mày). Một anh
Fulro có tuổi ở gần đấy liền đứng dậy, định can ra; anh Fulro trẻ tuổi
đang cơn nóng giận, đẩy anh Fulro già ngã chúi, kéo áo anh trực buồng
rách toạc, cái kính cận văng xuống đất. Người ta không biết sự thể sẽ
diễn biến ra sao khi anh Fulro đang lên cơn điên loạn rừng rú. Bỗng có
một người cao lênh khênh bước tới, đó là tay thủ lãnh Biệt Kích Dù
Nguyễn Hữu Luyện Không biết bằng một chiêu thức Judo hay cẩm nã thủ
tuyệt vời nào, hai tay của anh Fulro điên loạn đã bị khoá chặt Anh Fulro
vùng vẫy nhưng không thoát ra được Nguyễn Hữu Luyện nói gằn giọng:
"Đừng làm ồn". Tay Fulro hét lên: "I'ts none of your business" (không
phải chuyện anh đừng dính vô). Luyện ôn tồn nói tiếp: "Chuyện không đáng
gì. Sáng mai chúng ta gặp nhau giải quyết". Không biết lời nói của tay
thủ lĩnh Biệt Kích Dù có một mãnh lực gì mà sau đó tay thiếu tá Fulro
đang trừng trợn bỗng nguôi đi, nhìn xuống đất, Nguyễn Hữu Luyện dừng tay
khoá, nhẹ nhàng vỗ vai anh Fulro, khẽ nói "Thôi đi nghỉ đi.".
Sáng sớm hôm sau trước
khi đi làm, hai người (anh thiếu tá Fulro và Nguyễn Hữu Luyện) có gặp
nhau và không hiểu sao cái hũ mắm được để lại ngoài lán, bên đống cũi.
Mối giao hảo giữa anh em tù chính trị với tù Fulro, tưởng rằng sau vụ
này sẽ căng thẳng, không ngờ ngược lại, nó tốt hơn lên, kiểu "đánh nhau
vỡ đầu rồi mới nhận anh em". Tay Fulro Biệt kích mũ xanh bây giờ mới
nhận ra "ông thầy", ở nơi thủ lãnh Biệt Kích Dù Nguyễn Hữu Luyện Thỉnh
thoảng buổi tối tôi lại thấy anh bạn Fulro tới chỗ Nguyễn Hữu Luyện nói
tiếng Anh, nói bất cứ chuyện gì để cho Nguyễn Hữu Luyện luyện "accent".
Có khi anh ta còn đem
tới củ khoai, đẫn mía nữa, nhưng theo như cựu lệ, Nguyễn Hữu Luyện chỉ
cám ơn mà không nhận bao giờ. Sau khi những tấm hình của vợ con anh nhờ
một anh em Biệt Kích khác được gởi tới trại Tân Kỳ, tôi một bữu mới hỏi
Nguyễn Hữu Luyện "Tại sao anh không có thư, có quà riêng của gia đỉnh"
Trầm ngâm một lát Nguyễn Hữu Luyện mới nói: "Thực tình tôi không nghĩ là
vợ con tôi còn đó, đợi chờ tôi. Khi một số anh em Biệt Kích Dù được về,
tôi có nhờ anh em kín đáo đi tìm hộ. Rất may là đã tìm rạ Vợ con tôi đã
rời Sài Gòn, xuống Cần Thơ sinh sộng Tôi cũng đã dự phòng trường hợp
này. Gần 20 năm nay vợ con tôi, anh em, họ hàng, bè bạn tôi nghĩ rằng
tôi đã chết. Thôi cứ để như thế cho tiện, chết là hết, phải không ạnh
Không phiền ai, gây trở ngại cho ai. Nhược bằng vợ con tôi còn nghĩ đến
tôi, còn chờ đợi tôi thì đó là ơn riêng của Chúa đã ban cho. Nhưng tôi
đã nói trước là vợ con tôi nếu còn đó, khi nhận được tin tôi thì không
bao giờ được viết thư, được gửi quà. Nhận thư nhận quà rồi là tôi phải
trả lời. Làm sao mà mình không thương vợ, thương con mình cho được Xưa
nay mấy chục năm ở các trại tù, mình là thằng trọc đầu, trên không chằng
dưới không rễ, họ không nắm mình vào đâu được Bây giờ mình thương vợ
mình, thương con mình, họ đọc thư, họ biết như vậy, thì mình không sống
được yên đâu anh ợi Họ không hành được mình, bây giờ họ hành vợ con mình
để bắt mình quy phục, thì làm sao đây thưa anh. Cho nên tôi không muốn
nhận thư, nhận quà riêng là vì thế".
* Đứng vững không lùiCó
lẽ trại Tân Kỳ này trước đây đã xây dựng trên một vạt rừng. Trong sân
trại còn một số cây cổ thụ còn sót lại. Ở cuối sân "tập kết" bên "Tây
Đức", trước cửa mấy lán tù có một cây đa cổ thụ. Cụ Nguyễn Du đã nói
"người buồn cảnh có vui đâu bao giờ".
Ở đây không những người
buồn, (một lũ tù nhân rạc rài đói cơm thiếu áo xác xơ như một lũ vượn
người thời mông muội) mà cây lá cũng buồn theo. Cây gì mà khẳng khiu,
trơ trụi, không còn một chút màu xanh, chỉ có những rễ phụ nâu đen rũ
xuống, trông giống như một ông già đầu râu tóc bạc đang đứng giơ tay
chịu tội giữa trời. Xưa nay cây thường là một biểu tượng thuần hậu của
thiên nhiên: cây cho lá cho hoa, cho bóng mát, cho nơi che chở, cho chim
ca và gió hát. Ở đây thì ngược lại; cây đa già trơ lá trụi cành đang
biểu tượng cho sự tàn bạo của con người và sự lạnh lùng của thiên nhiên
khắc nghiệt. Lũ tù nhân chúng tôi ít khi dám ra chơi dưới gốc cây đạ
Những cái rễ ngoằn ngoèo nổi lên sần sùi trông giống như một đàn trăn
gió đang rình mồi, những hốc tối mò làm liên tưởng đến hang ổ của lũ
cáo, chồn, rắn rết, nhưng điều chúng tôi ngại nhất là bên gốc cây đa này
nghe nói đã có hơn một người tù treo cổ chết. Người tù treo cổ thường
thiêng lắm. Tiếng bình dân gọi là "có hương". Con ma treo cổ thường dẫn
dụ một người nào khác kết liễu cuộc sống giống như mình để oan hồn uổng
tử kia được đầu thai kiếp khác.
Hôm ấy vào khoảng cuối
tháng 3 năm 1983. Trời dù đã cuối Xuân nhưng cái lạnh miền bán sơn địa
vẫn còn buốt giá. Như thường lệ buổi sáng các đội ra sân tập kết ngồi
xuống, đợi điểm danh xuất trại đi làm. Chợt một tiếng thét thất thanh
vang dậy, phát ra từ cuối sân tập kết, phía cây đa. Mọi người nhìn lên,
một bóng người đang đứng trên chạc ba của cây đa trụi lá, vươn cổ ra hò
hét: "Tộ cha bây. Bây hại dân hại nược Bây hại con tao, hại vợ tao. Tộ
cha bây, bất nhân, vô hậu". Cán bộ trực trại vội vàng đi lại gốc cây đa,
giơ tay quát nạt "Anh kia, anh chửi ai?" - "Tao chửi bây, chưởi tộ cha
tụi bây". Một công an bảo vệ xách carbine chạy tới, kéo "cu lat" loạch
xoạch "Anh kia, xuống ngay". Một phát súng nổ vang lên; mọi người giật
mình nhưng nhìn lại, đó chỉ là phát súng chỉ thiên, bắn doạ Người đứng
trên cây, nhìn kỹ, cổ đã quàng sẵn vào một sợi dây thừng buộc vào một
cành cây cao cạnh đó. Người đó nói như thét: "Bắn cho tao một phát đi,
tao khỏi thắt cổ". Cán bộ trực trại giơ tay, anh công an bảo vệ hạ
carbine xuống. Người đứng trên cây tiếp tục chưởi bới, tiếp tục hò hét,
trong khi cán bộ trực trại hấp tấp đi ra trước sân tập kết, vội vã thổi
còi ra lệnh xuất trại gấp. Tù nhân vừa xúc động vừa tê điếng trước phản
ứng bất ngờ của một bạn tù. Các đội hôm nay được ra khỏi trại rất mau,
rất vội. Trại không muốn các tù nhân ở lại nghe những lời chửi rủa tận
từ kịa Anh em xì xào "Ai đấy nhỉ" - "Nghe như tiếng Th. thiếu tá địa
phương quân người Huế hay Quảng Bình, Quảng Trị" - "Đúng hắn rồi còn ai
nữa, nghe đâu ít lâu nay hắn bị tâm thần".
Các đội tù xuất trại hết
rồi. Sân tập kết trở lại vắng người, im vặng Tiếng chưởi rủa của Thiếu
Tá Địa Phương quân Th. vẫn còn róng rả: "Tộ cha bây, bây giết con tao".
Mấy tên làm việc trong trại như đội "nhà cầu" tụi tôi vẫn tiếp tục làm
việc nhưng không ngớt băn khoăn, lo lắng cho người bạn tù đang nổi cơn
điên loạn Ông bạn đồng nghiệp nhà cầu, Đại Đức Như L. cho hay "Tội cho
anh ta lắm. Anh ta đi tù cải tạo mà con trai mới lớn lên ở nhà lại phải
đi " nghĩa vụ sang Campuchia. Anh vừa nhận tin con trai anh mới chết;
chết mà không mang được xác về. Vợ anh ta là cô giáo, nghèo sát ván,
ngất đi khi nhận được tin con và từ đó bịnh luôn. Đi làm lương không đủ
nuôi con, làm gì có quà cáp cho chồng nựa Th. lâu nay là con bà phước. Ở
nhà vợ anh ta ốm nặng, đứa con gái phải nghỉ học ở nhà nuôi mẹ, nuôi
em. Đứa em trai út khốn thay lại bị bệnh tâm thần ngớ ngẫn. Cả nhà bây
giờ trông vào một cô con gái mới đâu 15, 16 tuổi. Đêm nằm anh Th. thường
ú ớ gọi vợ, gọi con. Anh ta vẫn đi làm được, không ngờ sáng nay anh ta
lại phản ứng bất thường như vậy" Anh Th. vẫn đứng trên cây, vẫn chửi
bới, hò hét. Nhưng tiếng chửi bới, hò hét thưa dần vì không còn "đối
tượng". Vào khoảng 9 giờ sáng, trại trưởng Trung Tá công an T. mới từ từ
đi tới gốc cây đa nói: "Anh Th., có chuyện gì xuống đây tôi giải
quyết". - "Bắn cho tôi một phát đi, tôi không xuống". Thấy không xong,
trại trưởng liền đi vào trong lán tù. Hình như y đi tìm một người nào đọ
Tôi được nghe nói là Trung Tá công an đi tìm Đại Úy Biệt Kích Dù Nguyễn
Hữu Luyện. Trời đã gần đứng bóng. Anh bạn tù nổi cơn điên vẫn đứng trên
cây, cổ quàng sẵn vào một vòng dây thừng oan nghiệt. Chợt có một bóng
người cao lênh khênh đi ra đứng dưới gốc cây đa. Đó là Nguyễn Hữu Luyện.
Hai người đứng nói chuyện gì với nhau không rõ. Nhưng sau đó người tù
nổi cơn điên Th. tháo bỏ cái vòng dây oan nghiệt ra khỏi cổ, và từ từ
trèo xuống. Nguyễn Hữu Luyện đỡ người bạn tù bước xuống đất và dìu anh
ta vào trong lán. Không biết người thủ lãnh Biệt Kích Dù đã nói những
gì, đã làm thế nào để cho người tù khốn khổ kia trở lại với cuộc đời.
o0o
Những ngày tiếp theo đó
cả trại Tân Kỳ nín thở theo dõi hậu quả đến với người tù cựu Thiếu tá
Địa Phương Quận Hậu quả đầu tiên là biên chế lại . Tù đội này đổi sang
đội kia, từ lán này sang lán khác. Giản bớt khu "Tây Đức". Cho một số
đội sang khu "Đông Đức". Mỗi lần biên chế là mỗi lần trại phá bỏ những
khuôn sinh hoạt tinh thần cũng như vật chất của tù gây dựng được trong
những tháng ngày qua. Đội mới, chỗ mới, bạn mới. Cái thân quen vừa tạo
lập đã mất đi. Chủ trương của trại tù là luôn luôn bắt tù nhân ăn ở
trong một tình trạng tạm thời, nghi ngờ, bất trắc.
Sau vụ biên chế này, tôi
vẫn làm công tác nhà cầu nhưng không ở cùng lán với Nguyễn Hữu Luyện
nữa. Ba ngày sau, một chuyến xe GMC lấy được của miền Nam) chở một số tù
mới đến trại Tân Kỳ. Tôi vội chạy ra xem có gặp lại người quẹn Tưởng
bạn tù nào xa lạ, hoá ra toàn là bạn cũ. Đây là chuyến xe chở một số các
linh mục tuyên uý Công giáo từ trại Bình Đà ngoài Bắc đổi trại vào miền
Trụng Các bạn tù linh mục này năm ngoái tháng 4, 1982 đã từ biệt tụi
tôi ở trại Thanh Phong ra Bắc. Tôi gặp lại bạn cũ, đội trưởng đội rau
kiêm đội trưởng văn nghệ nghiệp dư, linh mục Nguyễn Quốc T. Chúng tôi ôm
lấy nhau, linh mục Nguyễn Quốc T. nói "Xã hội tù xoay chuyển vòng tròn.
Mình lại gặp nhau ở đây, mừng quá".
Nhưng cái mừng của người
bạn cũ không được lâu. Ngày hôm sau (tôi nhớ là ngày 23 tháng 3, 1983),
chuyến xe GMC lại chở một số tù từ trại Tân Kỳ đi nơi khác. Trong số 33
người tù di chuyển kỳ này có tên tôi. Chuyến xe đi vội vã. Ngồi trên xe
chật cứng, tôi giơ một bàn tay vẫy vẫy. Từ biệt trại Tân Kỳ, từ biệt
những người bạn tù đã cùng tôi trải qua một thời kỳ gian khổ. Tôi nhìn
thấy trong lán tù ở lại có những bàn tay vẫy theo. Trong số những bàn
tay tiễn biệt kia, biết đâu chẳng có bàn tay của người tù kiệt xuất
Nguyễn Hữu Luyện. Tôi không được gặp lại các anh từ ngày ấy, đến nay
thấm thoát đã 12 năm rội Xin những anh em tù cải tạo nào từng có mặt tại
trại Tân Kỳ đầu năm 1983, hiện giờ ở hải ngoại tình cờ đọc đến những
dòng này, nếu các anh được biết tin gì về người bạn tù khốn khổ của
chúng ta Thiếu tá Th. Địa Phương Quân xin các anh vui lòng cho tôi được
biết. Đặc biệt về người tù kiệt xuất Nguyễn Hữu Luyện tôi lúc nào cũng
nhớ anh, cũng cảm phục anh, nhưng có một điều tôi hứa với anh mà tôi
không giữ được tròn. Một buổi sau khi anh cho tôi xem tấm hình con gái
anh bữa lấy chồng, đang cúi lạy trước chân dung người cha đã khuất lằ
anh) tôi mới nói với anh rằng "Sau này nếu có dịp tôi sẽ kể, sẽ viết ra
chuyện này". Anh nắm tay tôi mà nói: "Thôi đừng anh ạ, mình xét ra cũng
chỉ làm nhiệm vụ của một người lính tình nguyện gia nhập cuộc chiến
tranh bí mật. Quy luật của nó là thế thì mình đành phải chịu, thưa anh".
Nhớ lời nhắn nhủ của anh, nên mấy năm nay ở nước ngoài, có dịp viết đôi
ba bài báo tôi đã muốn lắm, muốn được kể chuyện người tù kiệt xuất là
anh và đồng đội của anh, những anh em Biệt Kích Dù bất khuất. Nhưng tôi
cứ đắn đo e ngại mãi. Bây giờ tôi được biết rõ là anh đã tới Hoa Kỳ được
một thời gian và anh đang đứng ra lo lắng cho một số anh em Biệt Kích
Dù đồng đội của anh làm thủ tục xuất ngoại.
Chuyện Biệt Kích Dù trên
30 năm cũ tưởng đã nằm im trong cát bụi lãng quên bây giờ đang được mở
lại hồ sơ. Cho nên bữa nay tôi mới dám viết ít dòng này với tư cách của
một người bạn tù cùng trại nói ra những điều tai nghe mắt thấy.
Phan Lạc Phúc