Thứ Năm, 17 tháng 12, 2015

HỒI GIÁO VÀ KHỦNG BỐ !!


Cộng Đồng Hồi Và Khủng Bố

Tổng thống nghĩ cấm bán súng sẽ hết khủng bố sao?

Với cuộc khủng hoảng di dân nghiêm trọng nhất trong lịch sử Âu Châu, và với cuộc tranh cãi hiện nay tại Mỹ về việc nhận dân tỵ nạn Syria, cộng với biến cố San Bernardino bên Cali, ta cần nhìn qua cuộc sống của khối di dân Hồi giáo trên thế giới. Đó có phải là một cái lò nung đúc khủng bố không?

Tại Mỹ, có ít nhất 4 triệu dân theo đạo Hồi, hơn 1% dân số Mỹ, một con số rất nhỏ. Những tiểu bang có nhiều dân Hồi nhất là Michigan, New Jersey, New York và Massachusetts. Tập trung lớn nhất là tại thành phố New York với khoảng 80.000 người, thua xa khu Bolsa của ta.

Tại Âu Châu, khối dân Hồi giáo, tuyệt đại đa số cũng là di dân chứ không phải là dân tỵ nạn chính trị hay tỵ nạn chiến tranh. Đến từ nhiều đời cũng có do việc nhận dân thuộc địa cũ, mà mới qua cũng có, qua các làn sóng tỵ nạn chiến tranh từ vài năm gần đây. Nói chung, tổng số di dân Hồi tại Âu Châu cao hơn Mỹ rất nhiều, khoảng 40 triệu người, từ 3% tới 20% tùy theo quốc gia. Mà mỗi quốc gia cũng có thành phần di dân Hồi khác nhau. Tại Anh, đa số là dân Pakistan và Bangladesh, tại Pháp là dân Bắc Phi, tại Ý là dân Libya và Ethiopia, tại Đức và Đan Mạch là dân Thổ Nhĩ Kỳ, tại Thụy Sỹ là dân Nam Tư trước đây, tại Thụy Điển, Na Uy là dân Iraq và Iran mới qua sau này. Paris có lẽ là thành phố đông dân Hồi nhất, hơn một triệu người sống trong các vùng ngoại ô.

Bài này chỉ bàn đến khối di dân Hồi, không bàn đến những dân địa phương, Mỹ hay Âu Châu, đã theo đạo Hồi từ lâu đời rồi, như Albania, Kosovo, Herzegovina, hay những vùng dân Hồi phiá Nam của Nga.

Tại các thành phố lớn của Mỹ có dân Tàu nhiều, ta thấy có Chinatown. Ngoài ra ta cũng thấy Little Saigon, Little Havana, Little Italy, Little Tokyo, Koreantown, v.v... Tức là khối di dân thường tụ tập sống chung với nhau trong vài khu phố. Lý do hiển nhiên là để có thể liên lạc với nhau, tìm bạn bè thân thuộc, sống trong hương vị quê hương, ăn uống mua sắm sản phẩm quen thuộc,...

Các cộng đồng Hồi giáo trên khắp thế giới cũng vậy, thường tập trung trong vài khu phố rõ rệt, phần lớn là trong vùng ngoại ô các thủ đô hay thành phố lớn.

Hầu hết các khối di dân tìm cách dung hoà nếp sống truyền thống với nếp sống của dân địa phương, đặc biệt là khối di dân thế hệ hai và ba thì đã hoà nhập một cách rất tích cực. Chẳng hạn như ở Mỹ, ta đã thấy không thiếu gì dân biểu, nghị sĩ gốc Cuba, gốc Tầu, Nhật,... Ngay cả trong quân đội, cũng không thiếu gì tướng tá gốc Á Châu, kể cả một ông tướng gốc Việt. Trẻ con gốc Việt, Tàu, Nhật,... không khác gì trẻ con Mỹ trắng hay Mỹ đen, nói tiếng Anh như gió, thuộc làu lịch sử Mỹ, mê hamburger hơn phở mì, líu lo nhạc rap chứ không rên rỉ những bài tình ca của Chế Linh, quần jean, áo t-shirt, mũ baseball,... Mấy cô chắc cả đời chỉ mặc áo dài một hai lần khi đám cưới, hay khi lên sân khấu ca hát quốc ca hay nhạc Việt. Giới trẻ Việt lấy Mỹ là chuyện bình thường.

Làn ranh phân chia với dân bản xứ ở Mỹ hay Âu Châu ngày càng phai nhạt tuy sẽ không bao giờ bị xoá hẳn.

Trong khi đó thì làn ranh chia cắt khối di dân Hồi với dân bản xứ thì trái lại, ngày càng lớn rộng, nhất là tại Âu Châu. Vì dân Hồi không chịu hội nhập.

Mới đây, nhà văn Bruce Bawer đã phát hành một cuốn sách với tựa là “Trong Khi Âu Châu Ngủ” –While Europe Slept-. Trong cuốn sách, ông Bawer tự giới thiệu như là người Mỹ, thành phần bảo thủ về chính trị, nhưng cấp tiến trong các vấn đề xã hội. Là người đồng tính, ông từ bỏ Mỹ, cùng “ông vợ” qua sống tại Amsterdam, bên Hoà Lan, vì cho rằng xứ Hoà Lan tiến bộ, cởi mở, nhất là chấp nhận đồng tính, yêu chuộng hoà bình, dễ sống, không có bắn giết loạn đả như Mỹ, không kỳ thị như dân Mỹ,... Rất nhiều lý do. Toàn là những lý do phản ảnh tư tưởng phóng khoáng cởi mở.

Ông qua Amsterdam. Sau một thời gian, di cư qua Na Uy mà ông cho là còn cởi mở hơn nữa vì tại đây ông được chính thức thành hôn cùng “ông chồng”.

Chẳng bao lâu sau, ông ngã ngửa về lối sống của khối di dân Hồi và quyết định viết sách. Quyển sách của ông, ngoài cái tựa trên, còn được phụ đề thêm “Hồi giáo cực đoan đã phá tan Tây Phương từ bên trong như thế nào” –How Radical Islam Is Destroying the West From Inside.

Kẻ viết xin tóm lược vài điểm chính của ông Bawer để quý độc giả có thể hiểu biết hơn về khối di dân Hồi giáo.

Như đã viết, các khối di dân Hồi tại Âu Châu tuyệt đối không chấp nhận hội nhập, tìm đủ cách sống tách biệt, nếu không muốn nói là tích cực chống lại mọi nếp sống và văn hoá địa phương. Việc không hội nhập đó lại được các chính quyền Tây Phương tích cực khuyến khích nhân danh việc tôn trọng và bảo tồn văn hoá khác biệt, theo đúng thuyết phải đạo chính trị. Ông Bawer nghi ngờ đó chỉ phản ánh tính kỳ thị của dân Tây Âu. Dân Hồi được cho vào sinh sống, nhưng không được nhìn nhận hay chấp nhận như dân địa phương thật.

Không hội nhập cũng được thể hiện qua việc không tham gia các sinh hoạt hay nếp sống và văn hoá, hay chính trị địa phương. Các bà vẫn mặc áo dài đen chùm kín cả người chừa hai con mắt hay cái mặt là tối đa. Vẫn không đi làm nhưng không quên đi xin trợ cấp, không ra đường một mình, lúc nào cũng đi cùng một đám bạn bè hay chị em, hay đi với một người đàn ông, là chồng hay anh em, chú bác gì đó. Lạng quạng vẫn bị chồng đánh, nhẹ thì một bạt tai, nặng thì vô nhà thương, nhưng chính quyền không can thiệp mặc dù có luật bảo vệ phụ nữ đàng hoàng. Những luật này chỉ áp dụng cho dân địa phương mà không được thi hành một cách triệt để đối với dân Hồi vì “tôn trọng văn hoá Hồi”. Một nghiên cứu cho thấy 90% phụ nữ Hồi bị ăn đòn thường xuyên.

Trẻ con chỉ một số nhỏ theo học tại các trường công bình thường. Đa số còn lại được đi học theo hai cách. Một là theo học các trường 100% Hồi giáo, cũng là trường công do Nhà Nước Tây Âu đài thọ, nhưng trong đó, dạy những môn khác, phần lớn liên quan đến tôn giáo, văn hoá và lịch sử Hồi (giống như trường tiểu học Hồi mà anh bé con Barack Obama đã theo học tại Indonesia trong bốn năm từ năm 6 tuổi), ít chú trọng đến những môn khoa học, văn hoá, lịch sử Âu Tây.

Cách thứ hai là nếu gia đình có tiền, thì gửi con về quê nhà, các nước Hồi giáo, cho học nội trú tại các trường giống như các chủng viện Thiên Chúa giáo, thường là bắt đầu từ khi 12-13 tuổi cho đến trưởng thành.

Tất cả trẻ con đều được dạy dỗ ngay từ nhỏ là văn minh Tây Phương và Thiên Chúa giáo là văn minh của ma quỷ, phản đạo, phải triệt để truy diệt. Ngày xưa Tiên Tri Mohammed chủ trương giết hết những kẻ ngoại đạo, bây giờ dĩ nhiên không còn giết ai được nữa, nhưng vẫn còn bổn phận chống đến cùng, dưới đủ mọi hình thức. Đặc biệt là học sinh nam phái, luôn luôn được khuyến khích phải dám dùng bạo lực. Tại các “chủng viện” dành cho nam phái bên Trung Đông, chúng thường được huấn luyện xài súng, xài dao. Để chúng làm quen, không sợ máu, chúng được huấn luyện giết dê giết cừu còn sống bằng dao, cắt cổ, lột da, mổ lấy tim gan, moi ruột, máu me be bét.

Phần lớn con gái ngay từ nhỏ đã phải chịu mổ, cắt một bộ phận nơi âm hộ. Với lý do phụ nữ không thể biết được cảm giác “khoái lạc” để bảo đảm sau này không lăng nhăng. Dĩ nhiên mổ chẳng theo tiêu chuẩn y khoa gì, chẳng thuốc mê, chẳng thuốc khử trùng, nạn nhân đau đớn khủng khiếp đến cả tháng sau cũng ráng chịu, thậm chí bị nhiễm độc nặng, bất đắc dĩ lắm mới cho đi nhà thương.

Những đứa trẻ đó, cho dù là lớn lên bên Tây Âu hay trong các chủng viện bên Trung Đông, đến tuổi lập gia thất thì đều phải lấy người đồng chủng, đồng tôn giáo, một số lớn là họ hàng xa gần với nhau, hay người cùng làng. Thanh niên, thanh nữ mà cặp với dân địa phương thì bị cả nhà sỉ vả, coi như nỗi nhục quốc thể. Sẽ bị bố mẹ và cả họ xúm lại sỉ vả, đánh đập là chuyện bình thường, thậm chí bị chính người thân như anh em, hay chú bác, hay ngay cả ông bố giết chết. Thông thường thì khi khám phá ra có con cặp với dân địa phương, đại gia đình có buổi họp với đầy đủ chú bác, thảo luận biện pháp trừng phạt. Lấy biểu quyết xem phải từ bỏ, hay đánh đòn, hay giết. Điều lạ lùng là đối với những vụ này, người có quan điểm sắt máu nhất thường chính là ông bố.

Đàn bà con gái lỡ ra đường bị hãm hiếp sẽ bị giết vì đã trở thành vết nhơ cho gia đình. Nhà Nước không truy lùng thủ phạm. Nếu thủ phạm bị bắt tại trận, thì chỉ bị phạt vạ tượng trưng.

Hôn nhân tuyệt đại đa số vẫn là do gia đình hai bên dàn xếp mà cô dâu chú rể không có tiếng nói. Cô dâu ngay từ ngày làm đám cưới và đêm động phòng đã là một nô lệ sex của chồng, chồng muốn làm gì thì phải chiều ý. Khiếu nại hay than phiền sẽ bị cả họ nhiếc mắng, kể cả mẹ ruột. Luật pháp Tây Âu không cho có bốn vợ nữa, nhưng nếu ông chồng có vài bà cô đào nhí thì cũng là chuyện bình thường, vợ cấm khiếu nại. Ngược lại, vợ mà dám ra đường một mình hay liếc nhìn một anh nào thì có thể bị đòn hội đồng, cả nhà xúm vào đánh, kể cả bố mẹ và các anh chị em. Bị bắt ngủ với trai sẽ bị ném đá đến chết.

Đối với những tệ nạn bất nhân trên, Tây Âu nhắm một mắt, phần lớn cố tình lờ đi, hay xử phạt rất nhẹ, cũng chỉ vì lý do phải đạo chính trị, tôn trọng văn hoá Hồi, trong khi các lãnh đạo cộng đồng cực lực cổ võ.

Phần lớn là di dân đã qua Tây Âu trước sẽ làm đám cưới với người hôn phối vẫn còn bên quê nhà. Sau đám cưới, người hôn phối qua Tây Âu, được bảo lãnh, mang theo cả đại gia đình, kể cả chú bác, anh chị em họ.

Các cộng đồng Hồi giáo lớn rất nhanh. Vì lý do “nhân đạo”, cởi mở trong tinh thần hoà đồng, di dân được nhận vào Tây Âu rất dễ dàng. Nhưng lý do quan trọng hơn là nạn nhân mãn. Dân Tây Âu ham vui, không chịu đẻ, dân số ngày càng tuột dốc mau lẹ. Các nước Tây Âu rất cần nhân công để nuôi dưỡng kinh tế. Nhất là các đại cường kinh tế Đức, Anh và Pháp, do đó việc nhận di dân rất dễ dàng. Đây cũng là lý do quan trọng khiến Âu Châu đang nhận cả trăm ngàn dân Syria tỵ nạn.

Các cộng đồng Hồi, đại đa số là những dân nghèo từ các tỉnh nhỏ hay làng mạc, ít học, không có tay nghề, mà lại không chịu hội nhập, không đi học nghề để đi làm. Do đó là một gánh nặng vĩ đại cho các nước theo chủ trương xã hội Tây Âu. Tại Đan Mạch, di dân Hồi chỉ khoảng chưa tới 5% tổng dân số, nhưng họ lãnh tới 40% trợ cấp của Nhà Nước.

Trợ cấp là một vấn đề lớn mà Tây Âu đang bối rối, nhất là các nước Bắc Âu, nơi mà trợ cấp rất dễ dãi và rất nhiều. Một gia đình hai vợ chồng và hai con, có thể có trợ cấp xấp xỉ 5.000 đô một tháng dễ dàng. Từ trước đến nay, các chế độ bao cấp này tồn tại được vì dựa trên tinh thần tự trọng và trách nhiệm của người dân. Bình thường, họ rất ngại đi xin trợ cấp và chỉ xin trong tình trạng miễn cưỡng. Bây giờ, đối với khối dân Hồi, lấy trợ cấp là chuyện phải làm, không làm là ngu. Họ tìm đủ cách gian trá để có trợ cấp đủ loại. Họ quan niệm tìm đủ cách kể cả gian lận để lấy tiền của tụi ngoại đạo là chuyện tuyệt đối chính đáng được kinh Kuran khuyến khích. Đám ngoại đạo chưa bị giết hết là may cho chúng lắm rồi.

Những người lãnh đạo cộng đồng Hồi không phải là những chính trị gia kiểu như thị trưởng, hội đồng tỉnh, dân biểu, v.v… Cũng chẳng phải những vị lãnh đạo các hội đoàn như trong cộng đồng Việt chúng ta. Dân số Hồi tại Tây Âu khoảng từ 5% đến 20% dân số quốc gia họ sinh sống, nhưng không có dân biểu, nghị sĩ, hay bộ trưởng, thủ tướng, hay tướng lãnh nào. Không phải di dân Hồi không có người giỏi, mà chỉ vì họ từ chối hội nhập, nhất là trên phương diện chính trị.

Lãnh đạo các cộng đồng Hồi là các giáo sĩ, imams gì đó. Đại đa số rao giảng tôn giáo Hồi trong khi sỉ vả văn minh, văn hoá và tôn giáo Tây Âu. Họ tự cho có trách nhiệm phải bảo vệ văn hoá, văn minh và tôn giáo Hồi, bằng mọi cách chống sa đọa của Âu Châu. Họ toàn quyền tự do sỉ nhục tất cả những gì hay những ai họ chống lại, mà không có chính quyền nào đụng tới, nhân danh tự do tín ngưỡng và tự do ngôn luận. Chẳng có gì lạ khi trong các cộng đồng đó, sinh xôi nẩy nở ra những tên khủng bố máu lạnh nhất vì đã sống và lớn lên trong cái không khí thù hận đó. Chẳng những chống Tây phương không, mà còn quyết tâm không ngại sử dụng bạo lực tàn ác nhất như súng bom để giết người, chẳng cần biết già trẻ lớn bé, vì tất cả dân ngoại đạo đều có tội hết.

Phản ứng của các cộng đồng Hồi đối với các vụ khủng bố tấn công rất ý nghiã. Thế giới có hơn một tỷ dân Hồi, nhưng mỗi khi có khủng bố đánh, chỉ có vài nhúm lẻ tẻ vài chục hay vài trăm người phản đối. Ngược lại, một số không nhỏ biểu tình hoan hô khủng bố, và tuyệt đại đa số im lặng. Sau vụ San Bernardino, một lãnh tụ Hồi tại Los Angeles lên TV, khẳng định khủng bố đánh một phần lớn do lỗi Tây Phương vì đã ủng hộ các chế độ độc tài tại Trung Đông.

Cuốn sách khá dầy và có rất nhiều mẫu chuyện nhỏ phản ánh lối sống trong các cộng đồng Hồi giáo. Ta thấy đây là những ổ nuôi dưỡng tinh thần chống Tây Phương, mặc dù anh chị di dân nào cũng tìm đủ cách chạy qua những vùng đất ngoại đạo đáng phỉ nhổ đó để sống. Tại sao có cái mâu thuẫn đó? Một số không nhỏ qua Tây Âu sống vì lý do sinh kế và an toàn, nhưng một phần lớn được các giáo sĩ khuyến khích như đây là cách chiếm và trừng phạt thế giới, phát huy Hồi giáo mà không cần đến mấy chục sư đoàn lính.

Điều hiển nhiên nhất là muốn chống đỡ có hiệu quả nạn khủng bố, thì phải nhìn ngay vào bên trong những cộng đồng Hồi đó, không cần nhìn xa hơn, không cần nhìn vào khối tỵ nạn đang chờ được chấp nhận vào. Và điều kiện tiên quyết dĩ nhiên là phải nhìn nhận khủng bố hiện nay chính là từ trong khối Hồi giáo cuồng tín, phải dám nói đến danh từ “Hồi giáo”.

Khi một anh thiếu tá quân y Mỹ bắn chết một tá đồng ngũ, miệng la Allahuh Akbar, mà không dám coi đó như là khủng bố Hồi giáo cuồng tín, lại gọi đó là bạo động tại sở làm, thì hiển nhiên, đó là cách vùi đầu dưới cát để trốn tránh sự thật. Một khi chui đầu dưới cát để không nhìn thấy địch thủ thì làm sao đánh địch thủ được? Chưa đánh đã thấy từ bị thương đến chết thôi.

Vụ bắn tại San Bernardino cho thấy ngay cả Mỹ cũng có chính sách cho di dân Hồi vào rất dễ dưới TT Obama. Anh Farook, thủ phạm vụ bắn, qua Ả Rập Saudi làm đám cưới với vợ Malik tháng Bẩy, 2014, ngay sau đó, vợ được theo chồng về Mỹ bằng thông hành Pakistan, tháng Tám làm đám cưới Mỹ tại Los Angeles, tháng Chín bà vợ được cho ở lại Mỹ trong khi chờ đợi thẻ xanh được cấp tháng Bẩy 2015.

Dân tỵ nạn ta chắc sẽ có nhiều người thắc mắc sao dễ dàng như vậy trong khi dân Việt muốn bảo lãnh vợ hay chồng từ VN qua phải mất mấy năm. Có lẽ dưới TT Obama, chính sách di dân với dân Hồi được ưu tiên? Trong 5 năm qua, 680.000 di dân từ các xứ Hồi giáo, đặc biệt là Ai Cập, Iraq, và Pakistan, đã được lặng lẽ cấp thẻ xanh rất mau lẹ, trong khi thiên hạ không biết, chỉ lo tranh cãi về số 10.000 dân tỵ nạn Syria TT Obama muốn cho vào thêm.

Khi bài này được viết thì có tin bà vợ của Farook đã tuyên thệ trung thành với al Baghdadi, lãnh tụ ISIS, buổi sáng trước khi xẩy ra vụ bắn. Có nghĩa là ISIS đã tới Mỹ trái với tất cả những bảo đảm của TT Obama. Việc này sẽ đặt lại vấn đề hữu hiệu của những biện pháp thanh lọc dân tỵ nạn Syria mà TT Obama quảng bá.

Một phản ứng mang nhiều ý nghiã: sau vụ San Bernardino, TT Obama cho biết đây chưa rõ là khủng bố hay bạo động sở làm, trong khi kêu gọi phải siết chặt việc kiểm soát súng. Thưa tổng thống, cặp vợ chồng có hơn một tá “pipe bombs” và một kho đồ nghề làm “EID bombs”, để làm gì, mang vào sở làm đánh ông xếp? Tuyên thệ trung thành với ISIS trước khi đi bắn thiên hạ vẫn chưa là bằng chứng khủng bố? Tổng thống nghĩ cấm bán súng sẽ hết khủng bố sao? EID đâu có được bán ngoài chợ thiếc ở khu phố Tàu đâu, sao chúng vẫn có? Tổng thống cấm hay không cấm súng cũng chẳng có tác dụng gì hết.

Hiển nhiên, TT Obama cần phải rút đầu ra khỏi cát, trực diện vấn đề một cách nghiêm chỉnh hơn, và sáng tạo hơn mới có thể chống được khủng bố. (06-12-15)

Vũ Linh

Thứ Tư, 16 tháng 12, 2015

CON MẸ HÀNG XÓM


Hắn tên là Cui, Đặng văn Cui. Thứ ba, nên người ta gọi là Ba Cui. Và vì nước da hắn ngăm ngăm, nên sau này khi đi lính quốc gia, bạn đồng đội đặt cho hắn biệt danh “Cui Đen”. Không phải để phân biệt với thằng Cui khác, mà là để cho dễ nhớ ! Bởi vì tiếng “Cui” một mình vừa cộc lốc, tối nghĩa, vừa khó nhớ nữa !

    Thật ra, hồi đi làm khai sanh, ông già hắn đặt tên hắn là “Qui”, nghĩa là “Về”, vừa văn vẻ lại vừa nhắc nhở năm đó ông đưa vợ con trở về quê làm ruộng sau một thời gian dài “bôn ba bá nghệ” ở Sài Gòn Chợ Lớn. Nhưng không biết tại vì ông phát âm không rõ hay tại vì ông chánh lục bộ lãng tai mà tiếng “Qui” trở thành “Cui” trong sổ bộ !
Thành ra, trong gia đình và trong xóm người ta gọi hắn là “Qui”, còn trong trường và sau này khi ra đời, hắn vẫn mang cái tên “Cui” cứng ngắt đó và thường bị người ta hỏi “Cui là gì ?”.

    Coi vậy chớ tên “Cui” có vẻ như là cái tên... “tiền định”, bởi vì rất hạp với con người và tánh tình của hắn. Con người hắn không đến nỗi quá cục mịch nhưng, thật tình, cũng không có nét gì thanh tú hết ! Người gầy gầy,nước da đen đen như người Miên, mắt lộ, gò má cao, môi mỏng dánh, giọng nói thì nhọn hoắt. Vậy mà trong cử động đi đứng, hắn lại rất lanh lẹ, không... ù lì chút nào. Còn tánh tình thì cứng cỏi, thẳng răng, gan góc... như cây dùi cui !
    Hồi đó – cái thời còn là lính quốc gia – hắn đánh giặc hăng lắm. Khi lâm trận, mặt nào địch bắn rát nhứt là có Cui Đen phóng tới. Làm như hắn không biết sợ là gì. Vậy mà suốt cuộc đời “binh nghiệp” của hắn, chưa bao giờ hắn bị thương ! Bạn đồng đội nói: “Chắc thằng Cui Đen nó có vô bùa !”.
    Hắn đánh giặc “hết mình” như vậy, không phải tại vì hắn có lý tưởng này lý tưởng nọ hay có ý thức chánh trị gì gì, mà tại vì hắn nghĩ rất đơn giản: “Nhà ai nấy ở. Mắc mớ ông cha gì tụi nó mà tụi nó kéo vô đánh mình ? Rõ ràng là tụi nó muốn đánh chiếm xứ mình để đô hộ như tụi Tàu tụi Tây hồi đó. Mẹ bà nó ! Phải đánh chết cha tụi nó hết !”.
    Đánh giặc “chết bỏ” như Cui Đen vậy mà Trời không thương. Cho nên mới có ngày 30 tháng tư năm 1975...
    ... Được lịnh đầu hàng, hắn tức muốn ói máu ! Hắn cắn chặt môi, chĩa súng lên trời bắn như điên. Bắn hết đạn, hắn liệng súng vào đống binh cụ. Trước khi quay đi, hắn nhìn lại võ khí, ánh mắt câm hờn dịu xuống. Hắn nhìn với cái nhìn của người đàn ông nhìn cô nhân tình lần cuối, nhưng hắn lại đưa tay lên trán chào như hắn chào người đồng đội vừa vĩnh viễn nằm xuống nơi chiến trường... Trong đời đánh giặc của hắn, hắn đã từng chào như vậy. Nhưng lần này hắn nghe như hắn đang chào vĩnh biệt một cái gì to lớn hơn, một cái gì quan trọng hơn, một cái gì quí giá hơn người lính cộng hòa chết trận. “Cái gì đó” hắn không định nghĩa được nhưng hắn cảm nhận được. “Cái gì đó” cũng bất thần lảnh một viên đạn vào đầu, cũng ngã gục xuống không kịp trối. Nhưng, trong “cái gì đó”, hắn thấy rõ có hắn, có vợ con hắn, có bà con hắn, có đồng bào hắn nữa. Xưa nay, Cui Đen không biết khóc. Nhưng bây giờ, bỗng nhiên hắn nghe hai mắt mình xót xót...
    Một người bạn trong đơn vị chở Cui Đen về nhà bằng Honda.
    Nhà Cui Đen ở gần chợ Bà Chiểu, trong một hẻm ngắn nhưng rộng, xe hơi vào được. Đó là loại phố trệt, có sân trước sân sau, và tường rào cao cỡ đầu người. Cui Đen, vợ và hai con nhỏ, ở căn cuối cùng trong hẻm. Vợ chồng hắn ở đó từ thời chưa có con, nên cả hẻm đó đều biết hắn. Ở đây, người ta gọi hắn là “Ba Cui”.
    Ba Cui bước vào sân thấy cửa nhà đóng im ỉm. Mở cửa vội vã, thấy đồ đạc còn y nguyên, kể cả chiếc xe đạp của hắn. Hắn bước nhanh vào trong, vừa bước vừa gọi lớn: “Lựu ! Lựu à ! Mẹ con em đâu ? Anh về đây nè !”. Im lặng. Im lặng kéo dài ra tới sân sau. Căn nhà bỗng như rộng minh mong... Trong cái trống vắng đó, Ba Cui nghe như muốn ngộp thở. Hắn trở ra nhà trước, kéo ghế ngồi. Bỗng hắn để ý đến một tờ giấy trắng xếp hai nằm dưới cái gạt tàn thuốc. Lấy lên xem, thì ra là thơ của vợ hắn. Thơ viết vắn tắt: “Em và hai con di tản theo anh Sáu. Anh ở lại, nhớ nhìn kỹ Thẩm Thúy Hằng để mà sống. Em Lựu”. Đọc câu đầu, hắn nghe yên tâm vì anh Sáu – anh vợ hắn – là trung tá hải quân. Đọc câu sau, hắn “xì” một tiếng, bỏ lá thơ lên bàn rồi lấy tay vỗ lên đó nghe một cái bốp, miệng lẩm bẩm: “Đến nước này mà còn viết móc lò móc chảo !”. Nói như vậy, bởi vì Ba Cui vốn mê đào hát. Hắn cắt hình mấy cô minh tinh trong mấy tờ báo Tết, lộng vô khuôn kiếng treo đầy tường. Người mà hắn thường ngắm say mê nhứt là Thẩm Thúy Hằng !
    Ba Cui đốt điếu thuốc, vừa hút vừa nhìn quanh. Rồi theo thói quen, mắt hắn dừng lại ở khuôn hình người minh tinh mà hắn ái mộ. Cặp mắt quá đẹp ! Cái mũi quá đẹp ! Nụ cười quá đẹp ! Bỗng hắn nghĩ: “Chẳng lẽ trong cái chộn rộn sanh tử của mấy ngày này mà Lựu còn nghĩ tới chuyện con nít như vậy à ?”. Một lúc lại nghĩ: “À ! Mà xưa nay Lựu đâu có ghen về vụ này !”. Rồi hắn lại nhìn chầm chầm khuôn hình, miệng lẩm nhẩm: “Nhớ-nhìn-kỹ-Thẩm-Thúy-Hằng... Tại sao phải nhìn kỹ ? Mà tại sao để-mà-sống ? Và tại sao lại gạch đít trọn câu này ? Chắc Lựu muốn nói gì đây !”. Hắn đứng lên, bước lại gần để nhìn. Nhìn một lúc, rồi tò mò, hắn nhắc khuôn hình xuống, lật xem phía sau: trên miếng gỗ ép dính bụi có nhiều dấu tay nho nhỏ. Hắn chạy xuống bếp lấy con dao rồi cạy bật mấy cây đinh gài miếng gỗ ép. Miếng gỗ được lật ra, dán dính ở mặt trong bằng băng keo là ba lượng vàng. Ba Cui đứng ngẫn ngơ, quên mất điếu thuốc trên môi đang cháy dở !
    Sau ngày 30 tháng tư là chuỗi dài... bận rộn ! Đi mết-tinh. Rồi họp rồi hội rồi học tập. Rồi họp rồi hội rồi học tập nữa. Khi tàm tạm yên, kiểm điểm lại thì những người trong hẻm không có ai đi di tản hết. Thành ra Ba Cui phải nói trớ là vợ con hắn về dưới quê “sống dễ thở hơn”.
    Thời gian sau, lần lần người trong hẻm đổi nghề. Có lẽ cho hạp với thời cuộc, với cái gọi là “đổi đời” mà Nhà Nước cách mạng lúc nào “lên lớp” cũng nói. Cho nên thấy thầy Trân nghỉ dạy tiểu học ở phường Sáu, thầy giáo đó bây giờ... “tháo giày” đi làm thợ hồ. Thấy bác Năm thợ bạc bây giờ ngồi bán chuối chiên ở đầu ngõ. Thấy ông thầy chích hạ bảng “Y tá có bằng cấp” rồi sơn viết lại “Hớt tóc bình dân”. Thấy bà Ba “thớt thịt” nghỉ bán thịt heo ở chợ Bà Chiểu, tối ngày nằm nghe băng nhạc cải lương, để chồng con chạy áp-phe tuốt trong Chợ Lớn. Thấy ông “Chánh Ký” chuyên cho mướn xe ba bánh bây giờ bán hết dàn xe rồi ra đứng nấu mì cho thằng con có tiệm cà phê ở ngang hông chợ... vv.
    Còn Ba Cui thì đi đạp xích-lô !
    Một hôm, trong lúc đạp rề rề trước nhà thương để đón khách, Ba Cui bị xe bộ đội chạy loạn đụng gãy chân mặt. Hắn phải mang băng bột cả tháng. Lúc nào xê dịch cũng phải chống hai cây nạng gỗ. Hắn tức lắm ! Khi người trong hẻm qua thăm, hắn thường cầm cây nạng gõ vô ống băng bột cốp cốp, để nói: “Mẹ bà nó ! Hồi đó đánh giặc, tụi nó không bắn được tôi bị thương. Bây giờ yên rồi, tụi nó cũng ráng đụng cho tôi gãy chân, tụi nó mới nghe ! Quân chó chết !”.
    Hồi còn ở nhà thương, khi nhận hai cây nạng gỗ, hắn cặp hai bên nách rồi chĩa thẳng về phía trước như hai cây súng. Mắt hắn trừng lên, hắn bắn bằng miệng: “Pằng ! Pằng ! Pằng ! Pằng !...”. Cho... đỡ tức ! Sau đó, hắn gỡ bỏ hai gù cao su của đầu nạng, để mỗi lần hắn chống đi có tiếng côm cốp khô khan sắc bén. Hay khi hắn nói chuyện, hắn gõ đầu nạng xuống mặt gạch nghe cành cạch. Cho... đỡ tức !
    Hôm đi cắt băng bột, Ba Cui nói với đôi nạng gỗ: “Tụi bây chịu trận với tao bữa nay nữa là... lễ tất !”. Nào dè, sau khi cắt băng, chân mặt bây giờ ngắn hơn chân trái, mà chỗ xương gãy lại cong cong, thành ra chân bị thương đó bây giờ không còn chống chỏi mạnh như xưa nữa. Hắn tức giận, quăng cặp nạng vào góc tường, chửi lớn: “Mẹ bà nó ! Gia tài có cặp giò để đạp xích-lô mà bị như vầy thì còn làm ăn khỉ gì được ?”. Cô y tá nói nhỏ: “Tại số anh xui. Hôm đó anh nhập viện nhằm ca của ông bác sĩ ngoài đó...”. Hắn lầm bầm: “Mẹ bà nó !”. Rồi lò cò lại góc tường lượm đôi nạng lên chĩa thẳng về phía trước, miệng bắn lớn: “Pằng ! Pằng ! Pằng ! Pằng !...”. Mà lần này, hắn bắn đến ba bốn đợt nhưng sao vẫn chưa nghe hả tức ! Bỗng hắn thèm có khẩu M16 để hắn... ria một hơi...
    Về sau, Ba Cui sắm thùng đồ nghề rồi ngày ngày đạp xe ra góc đường gần Ủy Ban Nhân Dân ngồi sửa xe đạp. Và lúc nào cũng có đôi nạng gỗ, bây giờ đầu dưới có bịt sắt ! Cho nó... oai !
    ... Thầy Hai Khuê ở khít vách Ba Cui, hồi thời trước làm thơ ký kế toán cho một hãng buôn ở Chợ Cũ, sau thời gian đổi nghề đi đan mây tre chắc chịu không nỗi nên... bán nhà. Người chủ mới là đàn bà, cỡ tuổi Ba Cui, con người thanh tú, “coi được lắm”. Cô ta ở một mình. Làm việc ở đâu không biết, nhưng ngày nào cũng thấy đi thấy về bằng chiếc xe Vélo-Solex. Vì vậy, trong hẻm gọi cô ta là “cô Hai Sô-lết”.
    Cô Hai không giống người trong xóm. Thời buổi này mà cô ta vẫn ăn mặc như hồi đó, vẫn áo dài màu in bông trang nhã quần hàng trắng ống thon thon. Vẫn chút phấn chút son chút dầu thơm loại “xịn”. Cho nên người trong xóm cũng ngại, không muốn gần, mặc dầu thấy cô Hai Sô-lết cũng dễ thương, gặp ai cũng chào cũng hỏi. Riêng Ba Cui thì thẳng thừng: “Con mẹ này... Tôi coi không vô ! Cái thứ đàn bà ở một mình mà tối ngày son phấn... tôi nghi lắm”. Cho nên, gặp cô ta mấy lần mà hắn chẳng hỏi thăm xã giao một tiếng. Chỉ gật đầu lấy lệ rồi đi luôn !
    Một buổi tối, tên công an phường đi xe Honda tới nhà cô Hai Sô-lết với một anh bạn. Họ và cô Hai chào hỏi nhau, giọng điệu chứng tỏ họ đã quen thân nhau từ lâu. Ba Cui nằm trên ghế bố đặt ở phòng khách – hắn ngủ ở đây cho nó mát – nghe cái lối chào đón của “con mẹ hàng xóm” mà phát ghét. Hắn lầm bầm: “Mẹ bà nó ! Tao nói có sai đâu ! Cái thứ này... xài không được !”
    Bên kia, chắc họ bày biện ăn uống ở ngoài sân nên Ba Cui nghe rõ mồn một:
    - Biết bà chị neo đơn nên chúng tôi có mang đến thịt quay và phá lấu đây này.
    - Các anh bày vẽ. Hồi trưa, ở cơ quan, em đã bảo đừng mang gì hết. Em có bia nè. Em có tôm khô củ kiệu nè. Em có cua rang muối nè.
    - Đấy ! Đồng chí thấy không ? Tôi đã bảo là chị Tâm chu đáo lắm mà đồng chí không tin.
    - Ấy ! Đây là lần đầu, tớ cũng phải có cái gì để ra mắt bà chị chứ !
    - Mình là người nhà với nhau hết, mấy anh đừng khách sáo. Em không thích đâu.
    - Vâng ! Thế thì cho tôi xin bà chị. Lần sau sẽ nghiêm túc hơn.
Nằm bên nây, Ba Cui vừa lắng nghe vừa suy nghĩ: “Con mẹ này ghê lắm chớ không phải vừa. Thằng công an mà còn gọi bằng chị thì không phải thứ cóc cắn đâu. Theo cách nói chuyện của con mẻ thì con mẻ vô ra cơ quan Nhà Nước như đi chợ. Vậy là người của tụi nó rồi”. Nghĩ đến đó, hắn có ngay một thái độ: “Mẹ bà nó ! Mình phải coi chừng. Trong hẻm này toàn là dân ngụy không mà con mẻ chen vô đây làm gì ? Phải có ý đồ gì đó ! Mình phải cho lối xóm biết mới được”.
Sau đó, cứ năm bảy hôm là cô Hai Sô-lết có nấu nướng ăn nhậu với bọn công an. Rồi công an kéo theo công an. Họ nói năng cười cợt như chỗ không người. Cả xóm đều biết. Cho nên mọi người đều dè dặt lẩn tránh cô Hai Sô-lết. Chỉ có Ba Cui là làm ngược lại. Trước đây, hắn không thèm chào một tiếng. Bây giờ thì hắn nghĩ: “Mình phải làm cho nó thấy là mình biết nó là ai. Mình phải đương đầu với nó để cho nó thấy rằng mình không sợ nó, mặc dầu nó là bà chằn hay ông kẹ gì gì. Mẹ bà nó ! Phải như hồi đó, tao ria cho một trận là chết cha hết !”.
Cho nên, có hôm, nghe Ba Cui nhái giọng nửa Bắc nửa Nam của “tụi giải phóng” để hỏi cô Hai Sô-lết – hỏi trổng:
    - Thế nào ? Tốt chứ !
    - Dạ... Cám ơn anh. Cũng tàm tạm.
    - Chà... Dạo này thấy... béo ra đấy !
    - Em thấy em cũng vậy, hà.
    - Có chứ ! Cứ ăn nhậu mãi là phì ra thôi !
Bỗng cô Hai nhìn thẳng vào mắt Ba Cui, nghiêm giọng:
    - Anh Ba à ! Mình ăn cây nào mình rào cây nấy, chớ anh !
Hắn phun nước miếng xuống đất, khoát tay rồi chống nạng cành cạch đi vô nhà. Thiếu chút nữa là hắn phun thẳng vào mặt con mẹ hàng xóm đó ! Cho bỏ ghét !
Càng ngày, cô Hai Sô-lết càng tiếp đãi “tụi nó” thường hơn, đông hơn và nhiều thành phần hơn. Có cả cán bộ đến bằng xe hơi có tài xế nữa ! Ngoài việc ăn uống – hình như chủ nhà có tài nấu nướng nên lúc nào cũng nghe “thực khách” hết lời khen ngợi thán phục – không biết họ có... “làm gì” nữa không ? Ba Cui nhiều lần cố ý rình nghe nhưng chẳng thấy có gì khả nghi hết. Nhưng, đối với Ba Cui, nguyên cái sự ăn uống cười đùa thân mật thoải mái của “tụi nó” cũng đủ làm cho hắn “tức con mắt”. Còn con mẹ hàng xóm thì hắn dứt khoát: cái giống gì mà hắn... hửi không vô ! “Cái giống” đó cõng rắn cắn gà nhà, mở ngỏ đưa đường cho tụi ngoài đó vô xâm chiếm thống trị miền Nam rõ ràng mà nói là “đi giải phóng”. Mẹ bà nó !
Một đêm đó, cũng gần khuya, trong lúc bên kia, hai tên công an và gia chủ còn chuyện trò, bên nây Ba Cui tắt đèn nằm trên ghế bố nghĩ vẩn vơ chờ giấc ngủ, thì nghe tiếng xe hơi chạy vào thắng gấp trước nhà cô Hai. Hắn lẩm bẩm: “Giờ này mà còn kéo tới nữa ! Thiệt... cái lũ này...”. Nhưng sao không có tiếng mở cửa đóng cửa xe mà lại nghe có tiếng chân người phóng xuống. Vậy là thuộc loại xe “gíp” chớ không phải xe nhà. Lại nghe tiếng súng khua và tiếng lên cò lách cách. Ba Cui phóng nhanh lại cửa, lắng tai nghe. Giọng quen thuộc của tên công an phường vang lên:
    - Này ! Các đồng chí làm gì thế ?
Một giọng lạ, nghiêm nghị:
    - Hai đồng chí hãy ngồi yên. Con này, đứng vào góc tường kia !
Tiếng cô Hai la: “Ối !”. Có vẻ đau. Tên công an la lên:
    - Này ! Nhẹ tay chứ đồng chí. Có vấn đề gì thì ta hãy từ từ giải quyết.     Loạn à ?
    - Ừ ! Loạn ngay trong phường của đồng chí mà đồng chí còn hỏi nữa à ? Đồng chí hãy ngồi xuống ! Còn con này, quay mặt vào tường, đứng yên ! Không, tao bắn nát óc !
Rồi ra lịnh cho đồng bọn vào lục soát trong nhà xem “có tên nào ẩn nấp trong ấy hay có cất giấu vũ khí không” và “phải cảnh giác”.
Không khí bên đó có vẻ căng thẳng. Tên công an thấp giọng:
    - Chị Tâm đây là người của Thành ủy. Chắc đồng chí lầm người rồi.
Không nghe trả lời. Ba Cui đoán bọn mới tới là bộ đội và “thằng xếp” này có vẻ coi thường hai tên công an.
Một lúc sau, nghe:
    - Báo cáo đồng chí: không phát hiện gì cả.
    - Tốt ! Hai đồng chí ra ngoài.
Im lặng. Rồi lại nghe giọng “thằng xếp”:
    - Các đồng chí có biết con này là ai không ?
Ngừng một chút. Chừng như để cho câu nói tiếp theo có hiệu lực hơn, bởi vì “thằng xếp” gằn từng tiếng:
    - Người ta biết nó là Trần thị Tâm, nhưng tên thật của nó là Nguyễn Kim Hoa. Nó được bọn ngụy cài vào hàng ngũ của ta từ ngày giải phóng. Chính nó bao lâu nay bí mật đưa tin cho lũ phản động đang ẩn nấp ở vùng biên giới để chống phá cách mạng. Ác ôn như thế đấy !
Lại ngừng một chút, rồi tiếp:
    - Bây giờ thì hai đồng chí về đi, để chúng tôi xử lý vụ này. Sáng mai chúng ta sẽ nói chuyện sau.
Một lúc, có tiếng Honda của bọn công an rồ máy rồi chạy ra ngõ. “Thằng xếp” ra lịnh:
    - Con này ! Đi ngay !
    - Anh cũng phải để tôi dọn dẹp mấy thứ này vô nhà rồi tắt đèn đóng cửa chớ !
    - Ừ ! Nhưng khẩn trương lên !
Bên này, Ba Cui chống hai tay lên cửa, đầu gục xuống. Hắn cắn môi kềm xúc động. Hắn nghe ân hận vô cùng: “Cô Hai là người của mình mà lâu nay mình khinh miệt cổ như đồ phản quốc  ! Còn đòi phun nước miếng vào mặt cổ nữa ! Mẹ bà nó ! Mình tệ quá ! Bây giờ làm sao xin lỗi cổ đây ?”. Trong đầu hắn bỗng hiện lên  hình ảnh của cô Hai Sô-lết. Bây giờ, sao hắn thấy cô Hai đẹp quá, cao cả quá, rắn rỏi quá. Cô vẫn giữ nguyên nét ngụy, từ cái áo cái quần tới chút phấn chút son. Cô vẫn tự trọng chớ không làm ra vẻ lam lũ theo... thời trang cách mạng. Cô đáng phục quá ! Bây giờ mới hiểu câu nói “ăn cây nào mình rào cây nấy” của cô Hai. Phải rồi. Cô phải “rào” cho kỹ để rút tỉa tin tức cần thiết cho “Kháng Chiến Phục Quốc”, vậy mà mình đã nghĩ rằng cô là phường bợ đỡ chánh quyền ! Thiệt là bậy !
Bên kia, giọng cô Hai Sô-lết nghe rất bình tĩnh:
    - Rồi. Tôi xong rồi.
    - Mang gì thế kia  ?
    - Bao quần áo, bàn chải đánh răng, khăn, lược. Nè ! Anh xét đi  !
    - Thôi ! Được ! Lên xe !
Xe rồ máy, sang số de rồi lùi ra hẻm.
Bên nây, Ba Cui bỏ tay xuống, lắc đầu thở dài. Bỗng, một tiếng nổ chát chúa, tiếp theo là tiếng xe đụng vào tường rào rầm rầm rầm rồi im. Ba Cui giựt mình, đứng thẳng người lên, lắng tai nghe. Tiếng người xôn xao ngoài hẻm:
    - Xe bộ đội nổ  ! Xe bộ đội nổ  !
    - Nó đụng tường rào nhà bác Năm !
    - Có ai sao không ?
    - Có ai bị gì không ?
    - Anh chị Năm với mấy đứa nhỏ có sao không ?
    - Không ! Không có sao ! Tụi này đang ngủ trong nhà.
Ba Cui định mở cửa chạy ra coi nhưng nghĩ lại :“ Trong hẻm nầy, chỉ có mình mình là lính ngụy. đứng xớ rớ ở đó nguy hiểm .“ Bên ngoài vẫn nghe xôn xao :
    - Đứa nào chạy kêu công an coi bây ! Trời ơi !
    - Lấy đèn pin rọi coi !
    - Rọi đây nè ! Mầy rọi ở đâu vậy ?
    - Sao không thấy ai nhúc nhích hết vầy nè !
    - Thấy ghê quá !
    - Mầy rọi vô giữa coi ! Cứ ria ria ngoài nầy thì thấy khỉ gì được. Thằng... nhát gan quá mậy !
    - Đưa đèn đây tao rọi coi.
    - Trời ơi ! Cô Hai Sô-lết chết banh xác trong nầy nè !
Ba Cui bỗng thở hắt ra, gục đầu vào tường, không nghe rõ gì gì nữa. Làm như tiếng nổ vừa rồi làm cho hắn lùng bùng lỗ tai. Kinh nghiệm chiến trường cho hắn biết đó là tiếng nổ của lựu đạn, loại lựu đạn mà hồi thời còn “đánh giặc chết bỏ” hắn vẫn thường dùng để diệt địch. Bây giờ, cô Hai đã dùng nó để nói lên tiếng nói cuối cùng. Một-tiếng-nói-cuối-cùng...
Hình ảnh cô Hai Sô-lết lại hiện về trong đầu Ba Cui, thật rõ, thật đẹp, nhưng thật hiên ngang, thật oai hùng, thật vĩ đại. Trong bóng tối, hắn bỗng đứng nghiêm, trịnh trọng đưa tay lên trán chào. Xưa nay, hắn không biết khóc. Vậy mà bây giờ hắn bật khóc ! Không biết nước mắt ở đâu mà tuôn ra nhiều như vậy ?
Mặc dầu một chân ngắn một chân dài, Ba Cui vẫn đứng thẳng, trong tư thế chào vĩnh biệt người đồng đội vừa tử trận, đứng lâu thật lâu...

Tiểu Tử

5 TỔNG CÔNG TY QUỐC DOANH VIỆT CỘNG NỢ TRÊN 1,5 TRIỆU TỶ ĐỒNG !!!


418
5 ‘đại gia’ nhà nước “ôm” đống nợ khủng với nước ngoài
Theo báo cáo mới đây của Chính phủ, cơ quan điều hành cho hay nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty khi kết thúc năm 2014 đã vượt trên 1,5 triệu tỷ đồng. Vốn vay của các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng là 550.000 tỷ đồng, tăng 1% so với thực hiện năm 2013
1. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)
– Nợ nước ngoài của công ty mẹ: 162.000 tỷ đồng
Với suất đầu tư mỗi dự án điện lên đến hàng tỷ USD, việc EVN dẫn đầu trong danh sách vay nợ nước ngoài không phải điều bất ngờ. Một báo cáo của Bộ Tài chính cho hay năm 2014, Việt Nam tiếp tục đàm phán, đẩy mạnh huy động nguồn vốn ODA từ các nhà tài trợ, đã ký kết 41 hiệp định vay ODA, vay ưu đãi từ các nhà tài trợ với tổng trị giá 4,7 tỷ USD thì riêng phân bổ cho Bộ Công Thương, mà chủ yếu là các dự án năng lượng điện đã lên đến 1,85 tỷ USD, chiếm 31,6%.
Chỉ tính tiêng dự án Nhiệt điện Vĩnh Tân 4, tổng vố đầu tư đã đạt hơn 1,6 tỷ USD. (36.000 tỷ đồng), trong đó 85% là vốn vay tín dụng của Ngân hàng KEXIM, KSURE (Hàn Quốc) và Ngân hàng JBIC (Nhật Bản), tương đương hơn một tỷ USD.
Báo cáo này cũng cho biết, một khoản vay đáng kể khác của EVN năm 2014 là của BNP Paribas với hơn 108 triệu USD. Đó là chưa kể hai khoản vay của một đơn vị thành viên khác là Tổng công ty truyền tải điện Quốc gia cũng lên tới 245 triệu USD từ Citibank được Chính phủ cấp bảo lãnh trong năm 2014.

2. Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines)
– Nợ nước ngoài của công ty mẹ: 27.347 tỷ đồng.
Phần lớn trong khoản nợ trên 1,2 tỷ USD (27.000 tỷ đồng) được hãng vay để mua sắm đội tàu bay. Riêng hai khoản vay ngân hàng HSBC France đã vượt con số 110 triệu USD. Nếu cập nhật thêm con số gần 600 triệu USD vừa được Chính phủ bảo lãnh mới đây để mua 4 máy bay Boeing 787-9, thì nợ nước ngoài của Vietnam Airlines cũng tăng lên đáng kể.

3. Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PetroVietnam)
– Nợ nước ngoài của công ty mẹ: 20.305 tỷ đồng.
Tương tự những ông lớn khác, vốn vay nước ngoài của PetroVietnam chủ yếu phục vụ các dự án lớn của tập đoàn, trong đó có nhiều khoản vay bảo lãnh năm 2014 tại các ngân hàng, tổ chức tài chính như JBIC NEXI, KEXIM, HSBC với giá trị 85-600 triệu USD.
Một số dự án lớn sử dụng vốn vay mà Petrovietnam làm chủ đầu tư trong thời gian gần đây như Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I có mức vốn 1,6 tỷ USD, vừa hoàn thành tháng 9 năm nay. 70% vốn tại công trình này là vay còn 30% từ nguồn chủ sở hữu.
Môt dự án lớn khác đang triển khai có sử dụng vốn vay tín dụng xuất khẩu mà Petrovietnam làm chủ đầu tư là nhiệt điện Thái Bình 2. Chỉ tính riêng phần vay để mua sắm thiết bị đã lên tới 795 triệu USD, bao gồm Hợp đồng tín dụng xuất khẩu (ECA) vay trực tiếp từ Ngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc (KEXIM) trị giá 330 triệu USD; Hợp đồng vay thương mại có bảo hiểm tín dụng của KEXIM trị giá 270 triệu USD và Hợp đồng vay thương mại nước ngoài trị giá hơn 195 triệu USD.

4. Tổng công ty Đầu tư phát đường cao tốc (VEC)
– Nợ nước ngoài của công ty mẹ: 18.525 tỷ đồng.
Với đặc thù là doanh nghiệp thực hiện những dự án “khủng”, tới hàng tỷ USD do Nhà nước giao như cao tốc Nội Bài – Lào Cai, Đà Nẵng – Quảng Ngãi… VEC cũng phải đứng ra huy động hàng chục nghìn tỷ để đầu tư.
Đầu năm nay, một báo cáo của doanh nghiệp cho hay, chỉ tính riêng 43% số vốn đầu tư vào 5 dự án lớn, Tổng công ty đã phải huy động 54.000 tỷ đồng từ các nguồn trái phiếu công trình, vốn vay thương mại các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước..
Hiện nay, một trong những vướng mắc tài chính lớn nhất với VEC là nợ trên vốn quá lớn. Vì vậy, doanh nghiệp đang đề xuất được tăng vốn điều lệ từ hơn 1.000 tỷ đồng hiện tại lên hơn 22.100 tỷ, tương ứng mức tăng 21,7 lần.
 
5. Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV)
– Nợ nước ngoài của công ty mẹ: 12.138 tỷ đồng.
Tương tự như VEC, ACV phải thực hiện các dự án lớn nhất nước về hạ tầng hàng không như nhà ga T2 Nội Bài, sân bay Phú Quốc, Cần Thơ… nên doanh nghiệp cũng phải đứng ra vay nợ.
Đáng kể nhất trong các khoản nợ vay nước ngoài của doanh nghiệp là từ các tổ chức tài chính Nhật Bản. Một báo cáo hồi quý III của ACV cho biết riêng khoản nợ ODA của đơn vị này là khoảng 78 tỷ yen, tương đương gần 600 triệu USD.
Trong một báo cáo mới đây của Chính phủ, cơ quan điều hành cho hay nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty khi kết thúc năm 2014 đã vượt trên 1,5 triệu tỷ đồng, tăng 8% so với năm 2013. Trong số này, vốn vay của các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng là 550.000 tỷ đồng, tăng 1% so với thực hiện năm 2013.
Báo cáo hợp nhất của các tập đoàn, tổng công ty cho biết riêng nợ nước ngoài vào khoảng 381.500 tỷ đồng. Trong đó vay lại vốn ODA của Chính phủ gần 118.000 tỷ, vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh là 124.000 tỷ. Riêng nợ nước ngoài của các công ty mẹ là 253.450 tỷ đồng.
Theo VnE

CHỆCH HƯỚNG HAY TỤT HẬU ?



Nguyên Lam & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 151209
"Diễn đàn Kinh tế"
 
Lãnh đạo Việt Nam phải từ bỏ cái mộng mị "định hướng xã hội chủ nghĩa"
Các chỉ tiêu nợ công của Việt Nam theo tính toán của The Economist.
* Các chỉ tiêu nợ công của Việt Nam theo tính toán của The Economist.
Courtesy economist.com *
 
 


Chúng ta đang vào mấy tuần cuối của 2015, một năm có nhiều ý nghĩa lịch sử cho Việt Nam. Nhưng qua năm tới, tình hình còn nhiều ý nghĩa hơn cho tương lai vì đảng Cộng sản có Đại hội khi xứ sở chuẩn bị hội nhập vào một khu vực kinh tế rộng lớn qua Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái bình dương TPP. Nguyên Lam sẽ tìm hiểu viễn ảnh đó qua sự lượng định của chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa cho tiết mục Diễn đàn Kinh tế.

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Cuối năm, chúng ta thường làm một tổng kết về kinh tế toàn cầu, tình hình Đông Á rồi tới Việt Nam. Kỳ này, Nguyên Lam đề nghị là chúng ta khởi sự với Việt Nam vì qua năm 2016, đảng Cộng sản lại có một Đại hội năm năm tổ chức một lần, để định hướng phát triển và đề cử nhân sự lãnh đạo cho năm năm tới. Vì vậy, xin ông làm một tổng kết về tình hình Việt Nam và nêu nhận xét về những chọn lưa trước mặt. 

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xinbắt đầu từ viễn ảnh dài và nói đến tình trạng tụt hậu của Việt Nam.

- Nói đến sự tụt hậu của Việt Nam thì nhiều người có thể ngạc nhiên hoặc bất bình chỉ vì cách nhìn sai lạc. Trong hơn một thế kỷ, lần đầu tiên mà Việt Nam không bị chiến tranh trong mấy chục năm liền, lãnh thổ được thống nhất với hệ thống lãnh đạo có toàn quyền quyết định. Một quốc gia khác mà có hoàn cảnh ấy thì đã có thể phát triển mạnh và nâng cao mức sống của toàn dân về cả phẩm lẫn lượng. Nhìn hạn hẹp theo thời gian thì ai cũng tưởng Việt Nam có cải tiến sau khi đổi mới từ ba chục năm trước. Nhưng nhìn rộng ra không gian thì sự cải tiến ấy còn thua các lân bang rất xa. 

- Ngày nay, trong 10 nước của Hiệp hội ASEAN tại Đông Nam Á, về lợi tức một đầu người, tức là tiêu chuẩn cụ thể về năng suất, Việt Nam chỉ hơn Miến, Miên, Lào, còn thì thua cả sáu nước kia. Nếu so với hai nước Đông Bắc Á là Nam Hàn và Đài Loan thì thua cả kinh tế lẫn chính trị. Xưa kia, hai xứ này chẳng hơn gì một nửa miền Nam của Việt Nam, mà nay đã thành loại quốc gia thượng đẳng, kinh tế giàu mạnh và chính trị dân chủ. Tụt hậu là như vậy. Không ý thức được sự thua kém mà cho là mình hay thì sẽ tiếp tục ở trong cõi lạc hậu, để dân mình làm đầy tớ cho thiên hạ.

Nguyên Lam: Nhưng thưa ông, nhiều tổ chức quốc tế đã công nhận rằng Việt Nam là một trong mươi quốc gia ổn định nhất thế giới. Ông nghĩ sao về cách đánh giá ấy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Quốc tế ưa có thói xuất khẩu đường, là nói lời ngon ngọt mà ém nhẹm vấn đề của quốc gia! Hãy đọc tin hàng ngày về tình trạng băng hoại xã hội Việt Nam, với tội ác tràn lan trong giới trẻ và chẳng còn ai biết thế nào là đúng thế nào là sai thì ta có định nghĩa khác về ổn định. Thuần về kinh tế, quốc tế cũng đánh giá sai các bài toán kinh tế của Việt Nam, cụ thể là tình trạng nợ nần quá nguy ngập của hệ thống ngân hàng thương mại hay tham ô quá tệ hại của bộ máy công quyền. Từng là chuyên gia tư vấn của các tổ chức quốc tế, tôi hiểu lối làm việc của họ. Nói chẳng nghe thì họ cũng mặc, ra vài khuyến cáo đầy tính ngoại giao rồi ra về. Sau cùng, chuyện thiếu ổn định nhất nó nằm trong cái đầu của hệ thống lãnh đạo!

Nguyên Lam: Thính giả của chúng ta đã quen với cách phân tích độc đáo và phát biểu táo bạo của ông, nhưng Nguyên Lam vẫn xin hỏi lại rằng vì sao ông cho là cái đầu của giới lãnh đạo tại Việt Nam là thiếu ổn định?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Dù có ra nghị quyết du dương, họ đều biết Việt Nam đang rơi vào cái bẫy xập của các quốc gia có lợi tức trung bình thấp, y như lãnh đạo Trung Quốc đang sợ rơi vào cái bẫy xập của quốc gia có lợi tức trung bình cao. Rơi vào đó là rất khó lên để còn bước vào thành phần quốc gia thượng đẳng giàu có. Cụ thể thì lợi tức bình quân một đầu người của Việt Nam vẫn dưới hai ngàn Mỹ kim một năm. Muốn lên gấp hai thì trong 10 năm tới phải tăng trưởng thật là 7% một năm, điều không dễ, mà chỉ để lên tới bốn ngàn một năm, tức là còn thua Thái Lan hay Malaysia, Philippines. Bao giờ thì tới một vạn hay ba vạn như bậc thầy bậc chủ của mình là Nam Hàn hay Đài Loan? 

- Muốn có một bước nhảy vọt như các nước đó đã từng có từ nửa thế kỷ trước thì lãnh đạo phải từ bỏ cái mộng mị “định hướng xã hội chủ nghĩa”, mà từ bỏ thì lại sợ bị chệch hướng Mác Lenin. Cho nên giữa hai ngả là tụt hậu hay chệch hướng, tôi e là họ sẽ chọn ngả tụt hậu. Cái đầu nó thiểu ổn định là như vậy!


Muốn có một bước nhảy vọt như các nước Nam Hàn Đài Loan đã từng có từ nửa thế kỷ trước thì lãnh đạo phải từ bỏ cái mộng mị “định hướng xã hội chủ nghĩa”, mà từ bỏ thì lại sợ bị chệch hướng Mác Lenin. Cho nên giữa hai ngả là tụt hậu hay chệch hướng, tôi e là họ sẽ chọn ngả tụt hậu. Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nguyên Lam: Ông vừa đề cập tới một chuyện đang gây tranh luận ở trong nước, về nội dung của chủ trương “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”? Ông nghĩ sao về chuyện đó?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Hơn hai chục năm trước, cấp lãnh đạo cao nhất của đảng đã nêu câu hỏi mà chẳng ai có giải đáp. Thế rồi 25 năm qua, thành phần lý luận thì cố vẽ ra hình tròn bốn góc và gọi đó là “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Thành phần phải điều hành kinh tế và tiếp xúc với bên ngoài thì cố chứng minh rằng Việt Nam đã áp dụng quy luật kinh tế thị trường, làm bên ngoài tưởng lầm rằng họ có tinh thần thực tiễn. Thật ra hệ thống kinh tế chính trị Việt Nam có một đặc tính quái dị, hơi phi cầm phi thú. Đó là lãnh đạo thật là loại đảng viên chưa hề sống trong kinh tế thị trường nhưng có quyền hạn hơn đảng viên tiếp cận với thị trường.


Nợ công của Việt Nam trong vòng 10 năm qua, theo số liệu của The Economist
Nợ công của Việt Nam trong vòng 10 năm qua, theo số liệu của The Economist


- Ta hãy nghĩ đến một doanh nghiệp mà mấy vị ngồi trong Hội đồng Quản trị có thể sai khiến cấp điều hành lại là những kẻ không biết kinh doanh mà chỉ biết đọc sách Thánh hiền Mác Lê. Vì vậy, thành phần biết về kinh doanh mà chẳng có đặc quyền thì đi tìm đặc lợi, là tham nhũng. Mọi người đều hài lòng với lối phân công lao động kỳ lạ ấy. Ở trên thì vẫn tin rằng Marx có lý và Việt Nam chỉ tạt qua kinh tế thị trường rồi sẽ tiến lên xã hội chủ nghĩa dù chính họ cũng chưa thể định nghĩa thế nào là xã hội chủ nghĩa. Ở dưới thì biết rằng đảng và Marx đều sai nhưng dại gì mà nói ra điều ấy để mất quyền lãnh đạo kinh tế và mất cơ hội trục lợi?

Nguyên Lam: Nguyên Lam rất tò mò mà hỏi rằng nếu ông được yêu cầu giải thích định hướng xã hội chủ nghĩa là gì thì ông trả lời sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thuần về lý luận kinh tế và đang sống trong một xứ dân chủ, tôi thiên về xu hướng tự do và cho ưu tiên là phát triển. Nhưng tôi thông cảm với xu hướng xã hội và cho rằng một nước nghèo mà có quá nhiều bất công xã hội như Việt Nam thì nên theo xu hướng xã hội. Xu hướng ấy chú trọng tới công bằng xã hội hơn là phát triển, là điều mình có thể hiểu được.

- Khi đó, ta có thể nghĩ “định hướng xã hội chủ nghĩa” hàm ý phát triển xã hội, với đối tượng ưu tiên là thành phần nghèo đói đang chiếm đa số. Cụ thể về kinh tế thì chú trọng tới khía cạnh giáo dục, y tế, huấn nghệ để đa số có được nền tảng sinh hoạt tối thiểu hầu có thể tham gia vào sản xuất với hiệu năng cao hơn. Muốn vậy thì trước hết vẫn phải để thị trường tư doanh được sinh hoạt tự do hầu còn tạo ra của cải và phương tiện cho những yêu cầu xã hội kể trên. Tức là vẫn phải chấp nhận và xây dựng định chế căn bản của thịnh vượng là quyền tư hữu.

- Ngược lại, định hướng xã hội chủ nghĩa không thể là triệt phá tư doanh, bảo vệ quốc doanh và duy trì nạn độc đảng như Việt Nam ngày nay. Và định hướng xã hội chủ nghĩa càng không là lý luận của những người đang chuẩn bị Đại hội đảng theo hướng tăng cường chế độ công hữu để khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Áp dụng lý luận của thế kỷ 19 vào thế kỷ 21 là một biểu hiệu của sự lạc hậu về tư duy. Người lạc hậu về tư duy mà lãnh đạo thì xứ sở tất nhiên tụt hậu!


Ta cứ nói đến hai tấm gương là Nam Hàn và Đài Loan mà ít chú ý tới hai đặc điểm của họ. Thứ nhất là họ từng có chế độ độc tài mà khi ấy vẫn thực tế theo xã hội chủ nghĩa nên tập trung phát triển mạnh với mức công bằng xã hội cao nhờ bộ máy công quyền liêm khiết. Thứ hai là trên nền tảng xã hội đó, họ tự chuyển hóa ra chế độ dân chủ - Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyên Lam: Thưa ông Nghĩa, khi ông nói đến một điều kiện của cái định hướng xã hội chủ nghĩa là chấm dứt tình trạng độc đảng như Việt Nam ngày nay thì điều kiện ấy có hàm nghĩa là phải xây dựng chế độ dân chủ không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi không đơn giản cho rằng dân chủ là giải pháp thần diệu khả dĩ giải quyết mọi vấn đề. Đấy chỉ là phương tiện ít tệ nhất để tiến tới một hình thái phát triển cao hơn vì cho người dân quyền chọn lựa. Tôi hiểu dân chủ là sự bình đẳng của mọi người dân trước pháp luật do đại diện của người dân thiết lập ra. Với chế độ độc đảng có toàn quyền về luật lệ, khi mọi chuyện đều do một thiểu số quyết định trong khung cảnh toàn cầu có quá nhiều thay đổi hiện nay, thì xã hội chẳng còn ai có thể sửa sai và chọn hướng khác cho quốc gia.

- Về cụ thể, ta cứ nói đến hai tấm gương là Nam Hàn và Đài Loan mà ít chú ý tới hai đặc điểm của họ. Thứ nhất là họ từng có chế độ độc tài mà khi ấy vẫn thực tế theo xã hội chủ nghĩa nên tập trung phát triển mạnh với mức công bằng xã hội cao nhờ bộ máy công quyền liêm khiết. Thứ hai là trên nền tảng xã hội đó, họ tự chuyển hóa ra chế độ dân chủ, dù đảng cầm quyền thất cử thì vẫn có lúc trở lại. Họ không sợ đa nguyên và bất ổn chính trị. Các nước Đông Nam Á chưa được như vậy, nhưng vẫn tiến tới dân chủ và nhờ vậy mà càng dễ thoát khỏi các chu kỳ khủng hoảng kinh tế từ bên ngoài dội vào.

Nguyên Lam: Nhìn ra quốc tế và với viễn ảnh là năm tới Việt Nam sẽ là thành viên của khối TPP có 12 nước, thì ông có nghĩ rằng lượng đầu tư trực tiếp của các nước bên ngoài sẽ góp phần giải quyết được các khó khăn kinh tế cho Việt Nam không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi sẽ lại nói ngược mà bảo rằng không! Quả thật kinh tế Việt Nam có hy vọng thoát Tầu nhờ TPP, với điều kiện là người Việt Nam sẽ hưởng được kết quả ấy chứ không phải là doanh nghiệp có vốn nước ngoài. Trong hiện tại thì Việt Nam sẽ có lợi nhất khi gia nhập khối TPP. Nhưng trong mối lợi "dán nhãn Việt Nam" ấy thì doanh nghiệp quốc tế chiếm phần chính, tư doanh Việt Nam thì còm cõi dần và chỉ được xương xẩu. Còn người Việt chỉ mong làm tôi tớ cho doanh nghiệp ngoại quốc và đâm ra xuất cảng sức lao động của mình trong hàm lượng hàng hóa bán cho 11 nước kia. Vì vậy, vấn đề không thể là dán nhãn và hài lòng với hình thức. Vấn đề là phải xây dựng thực lực để tỷ trọng Việt Nam chiếm phần hơn trong các sản phẩm gọi là “Made in Viêtnam”, Chế tạo tại Việt Nam. Qua năm tới, Việt Nam sẽ đối đầu với bài toán thực tế ấy.

Nguyên Lam: Tổng kết lại thì có phải như ông không thấy lạc quan vể viễn ảnh 2016? 

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi không lạc quan khi thấy lãnh đạo Hà Nội quá lạc quan.

- Họ lạc quan vì đã củng cố chỗ tựa cho đảng là Bắc Kinh, với cái giá đắt đỏ là những mất mát lớn cho xứ sở không chỉ ở lãnh hải mà ngay trong lãnh thổ. Họ càng lạc quan hơn khi có thêm một chỗ tựa mới là Hoa Kỳ và tin rằng Mỹ cần ổn định để làm ăn và nói chuyện ôn tồn với Trung Quốc nên không gây thêm sức ép với họ về dân chủ nhân quyền hay tự do. Đảng chỉ cần làm bộ tổ chức ra công đoàn độc lập là xong. Và họ lạc quan hơn cả khi nêu bài toán giả cho người dân, rằng nếu quá gay gắt về chủ quyền thì bị nguy cơ chiến tranh với Trung Quốc, hoặc quá thiết tha với dân chủ thì quốc gia mất ổn định. Không chỉ các đảng viên đang ôm đặc quyền và đặc lợi mà nhiều người trong giới trẻ, đã có một chút kiến thức chuyên môn, cũng tin như vậy - và đấy mới là điều đáng sợ nhất về viễn ảnh tụt hậu!

Nguyên Lam: Xin cảm tạ ông Nghĩa về bức tranh u ám của tình trạng tụt hậu. /.
 



ĐÀ LẠT CŨNG CÓ RỪNG CÂY PHONG !!

Cây phong tại Đà Lạt mới được khám phá gần đây, hiện tại có 2 nơi, đó là tại rừng nguyên sinh Bidoup, núi Bà như link sau:

https://didalat.vn/bai-viet/ngan-ngo-truoc-ve-dep-rung-la-phong-co-thu-tai-bidoup-da-lat-153

Và tại hồ Tuyền Lâm, đèo Prenn .

  Chèo thuyền ngắm lá phong ở Đà Lạt


Tour Chèo thuyền ngắm lá phong ở Đà Lạt

Chèo thuyền trên hồ Tuyền Lâm ngắn rừng bonsai và lá phong đổi màu ...
Chắc hẳn ai cũng đã từng trầm trồ khi xem những con đường lá phong đỏ rực vào mùa thu ở Canada, Nhật Bản, Trung Quốc, Anh, Mỹ… hay những nước có khí hậu lạnh và miền ôn đới. Nhưng nếu bỏ công sức tìm kiếm, chúng ta cũng có thể lên Đà Lạt ngắm lá phong rực rỡ không kém ở Việt Nam.

12195953 10207192172535708 5033077229557565425 n
Để ngắm được lá phong, các bạn phải di chuyển bằng thuyền cao su
12189075 10207192188616110 6916272927563892316 n
Cảnh đẹp trên hồ Tuyền Lâm
12193740 10203495964200119 7247730765980095351 n
CÓ một mùa thu Đà Lạt đang hiện ra trước mắt bạn
12189965 918081578239771 2799501631393381728 n
Phong cảnh trên đường đi
12208425 918080721573190 3722013786864814744 n
11215818 915194688528460 7749800759582319857 n
Một vườn Bosai trong lòng hồ với màu vàng đã lộ ra
11224410 918082514906344 5035095336024280445 n
12063634 918081438239785 6813050355919266323 n
1780020 10202867712763467 1863609277231526047 o zps5da5ed96
Kết thúc chèo thuyền, mọi người đi bộ và bắt đầu khám phá khu rừng lá phong
1149491 10202867713563487 6592405472010991257 o zps57b625f5
Những cây lá phong cổ thụ
Du lich rung phong viet nam mytour 3
10402631 915193958528533 6469527948398144542 n
Những tán lá phong vươn lên đón ánh nắng mặt trời
11221938 915204298527499 4372035194948435715 n
12227589 10203495963040090 3571721098162885857 n
12202080 10203745869002348 1595899119 n
1508097 915194058528523 5092618709961022445 n
...
Theo click49.net

ĐÀ LẠT ĐÃ CÓ TUYẾT RƠI !!!


Cánh đồng tuyết Đà Lạt - Giấc mơ có thật


Cánh đồng tuyết lần đầu tiên xuất hiện ở Đà Lạt, nhẹ nhàng, lãng mạn, tỏa sáng mà không phô trương, tựa như ‘một thứ quả lạ trái mùa’ mà tạo hóa ban tặng.

co-hong21.

co-hong7.
Tuyết rơi khá dày, bông tuyết trắng phủ đầy trên mặt đất, bám kín trên cả cành cây, lá cỏ

co-hong15.
Hơi nước bốc lên từ mặt hồ phẳng lặng, vạn vật đều chìm trong tuyết

Thật ra, tuyết Đà Lạt có hơi khác một chút. Những bông hoa tuyết nhỏ nhắn, nổi bật trong sương sớm là thành quả của việc đánh lừa thị giác khi mà màn sương mỏng, óng ánh dưới tia nắng mặt trời, phủ lên trên đồi cỏ hồng một khung cảnh mơ mộng, huyền ảo cho bạn cảm giác như thể đang đứng giữa một cánh đồng ngập tràn tuyết vậy.

co-hong3.
Tuyết đến lặng lẽ không một lời báo trước

Ở cánh đồng tuyết Đà Lạt, bạn không thể nắm lấy tuyết hay chơi các trò chơi mà bạn từng thấy trên phim điện ảnh nhưng bạn vẫn có thể ngắm tuyết, bước chân trần trên những bông “cỏ tuyết” đang co lại vì những hạt sương đêm hay đón bình minh trong cái không khí tươi mới của đất trời. Chỉ như thế thôi cũng đủ để biến giấc mơ được ngắm tuyết trở thành hiện thực rồi.

co-hong11.
Nhẹ bước chân trần trên những bông “cỏ tuyết” đang co lại vì những hạt sương đêm

Tuyết năm nay khá kén chọn, chỉ xuất hiện ở khu vực suối Vàng mà thôi. Thời điểm để ngắm tuyết đẹp nhất là khi mặt trời còn chưa thức, hơi nước bốc lên từ mặt hồ phẳng lặng, vạn vật đều chìm trong tuyết, chỉ có một vài gốc cây nhẵn nhụi cố gắng vươn lên giữa cái tiết trời se lạnh cuối năm càng khiến cho khung cảnh chân thực hơn, lung linh hơn.

co-hong12.
Cuối ngọn của cơn gió sớm đã nghe lành lạnh, con đường ưu tư, núi rừng cô tịch

co-hong18.
Những bông hoa tuyết nhỏ nhắn, nổi bật trong sương sớm

co-hong14.
Màn sương mỏng, óng ánh dưới tia nắng mặt trời



Theo click49.net