ÔNG GIÀ NẤU BẾP
Truyện ngắn của C. PAUTÔPXKI (nhà văn NGA)
Một buổi tối mùa đông năm 1786, ông già mù đã từng nấu bếp cho bà công
tước Tun, đang nằm hấp hối trong một căn nhà gỗ nhỏ ở ngoại ô thành
Viên (1); Gọi là nhà cũng không đúng, thực ra đây chỉ là một cái trạm
gác cũ kỹ ở sâu tận cuối vườn. Vườn cây ngổn ngang cành mục bị gió
quật gẫy. Mỗi khi có người bước lên, những cành cây đó lại kêu răng
rắc và con chó xích trong chuồng lại khẽ gầm gừ. Chó cũng nằm chờ chết
như chủ. Nó cũng già lắm rồi và không còn sủa được nữa.
Mấy năm trước đây, ông đầu bếp bị hơi nóng trong lò bốc ra làm hỏng
đôi mắt. Từ ngày ấy quản gia của bà công tước bèn đuổi ông ra ở ngoài
trạm gác và thỉnh thoảng mới thí cho vài đồng phơ-lo-rinh.
Ông bếp ở cùng với cô con gái mười tám tuổi, tên là Ma-ri-a. Đồ đạc
trong trạm gác chỉ có mỗi một chiếc giường, vài ghế dài, một chiếc bàn
cục mịch, ít bát đĩa sứ đầy vết rạn. Và sau hết là một chiếc đàn dương
cầm, của cải độc nhất của Ma-ri-a.
Đàn cũ kỹ đến nỗi mỗi khi có một tiếng động xuất hiện ở xung quanh,
những sợi dây thường rung lên đáp lại bằng một âm thanh khẽ và kéo dài
rất lâu. Ông bếp thường gọi đùa chiếc đàn dương cầm ấy là "người trông
nhà" của mình. Bất cứ có ai bước vào nhà, đàn cũng chào đón bằng một
tiếng rên già nua, run rẩy.
Khi Ma-ri-a tắm rửa cho người cha hấp hối xong, mặc cho ông chiếc áo
sơ-mi sạch sẽ và mát mẻ, ông già nói :
- Xưa nay cha vẫn ghét bọn cha cố và thày dòng. Cha không muốn mời họ
đến nghe cha thú tội. Nhưng cha lại thấy cần được thanh thản lương tâm
trước khi chết.
Ma-ri-a sợ hãi hỏi :
- Vậy cha bảo làm thế nào bây giờ ?
Ông già nói :
- Con hãy ra ngoài đường, gặp người nào đầu tiên thì mời vào đây, để
nhận lời thú tội của người hấp hối. Không có ai nỡ từ chối con đâu.
- Đường phố nhà ta làm gì có mấy ai qua lại. – Ma-ri-a lẩm bẩm, trùm
khăn rồi bước ra.
Cô chạy qua vườn, cố hết sức mới mở được cánh cổng sắt đã han rỉ và
đứng lại. Đường phố vắng tanh. Gió thổi những chiếc lá trên mặt đường
và những giọt nước mưa lạnh từ trên trời tối rơi xuống.
Ma-ri-a đợi rất lâu và lắng tai nghe. Cuối cùng cô thấy hình như có
một bóng người đi dọc hàng rào, vừa đi vừa khẽ hát. Cô tiến lên mấy
bước định đón, nhưng bỗng vấp phải người ấy và kêu thét lên. Người
khách đứng lại, hỏi :
- Ai thế ?
Ma-ri-a nắm lấy tay ông ta và giọng run run kể lại lời cha mình yêu
cầu. Người khách bình thản nói :
- Được, tuy tôi không phải là cha cố, nhưng cũng chẳng sao. Ta vào đi.
Họ vào nhà. Nhờ ngọn nến, Ma-ri-a nhìn thấy khách là một người nhỏ bé,
gầy. Ông đặt chiếc áo mưa ướt át lên ghế dài. Ông mặc rất duyên dáng
mà lại vẫn giản dị. Ánh sáng ngọn nến làm lấp lánh chiếc áo chẽn màu
đen, những chiếc khuy thủy tinh và chiếc cổ áo đăng ten.
Khách còn rất trẻ. Trông cách ông lắc lư đầu, sửa lại mái tóc giả rắc
phấn, còn một cái gì rất trẻ con. Ông nhanh nhẹn đẩy chiếc ghế đẩu lại
gần giường, ngồi xuống đó, rồi cúi đầu, chăm chú và vui vẻ nhìn vào
mặt người hấp hối.
Khách nói :
- Cụ nói đi. Tôi không được quyền của chúa trao, nhưng tôi được quyền
của Nghệ thuật, vì tôi không phụng thờ Chúa mà phụng thờ Nghệ thuật.
Có lẽ dùng cái quyền đó tôi cũng sẽ làm nhẹ được cho cụ những giây
phút cuối cùng và cất đi được gánh nặng trong lòng cụ.
Ông già cầm tay khách, kéo lại gần mình thì thầm :
- Tôi đã làm lụng cả đời, cho đến tận lúc bị mù. Mà ai làm lụng thì
người đó còn thời giờ đâu gây tội ác nữa. Khi vợ tôi bị bệnh lao, bà
ấy tên là Mác-ta, thầy thuốc kê vào đơn nhiều thứ thuốc đắt tiền và
bảo phải cho bà ấy ăn tinh sữa, nho và uống rượu vang đỏ, tôi đã ăn
cắp trong bộ đồ ăn của bà công tước Tun một chiếc đĩa bằng vàng, bẻ
thành mảnh vụn rồi đem bán. Đến bây giờ tôi vẫn ăn năn về việc đó và
vẫn giấu con gái tôi vì tôi đã dạy cháu không được đụng tới một thứ
nhỏ gì của người khác.
Khách hỏi :
- Thế có người đầy tớ nào của bà công tước bị phạt oan không ?
- Thưa ông, xin thề là không có ai cả - ông già trả lời rồi khóc - Nếu
như tôi biết trước là chỗ vàng đó cũng chẳng cứu được bà Mác-ta, thì
tôi đã chẳng ăn cắp.
Khách hỏi :
- Tên cụ là gì ?
- Thưa ông, Giô-han Mây-e.
- Thôi được, cụ Giô-han Mây-e – khách nói và đặt bàn tay lên đôi mắt
mù của ông già, - cụ không có lỗi đối với ai cả. Điều cụ vừa kể không
phải là tội lỗi, cũng không phải là một việc ăn cắp, mà trái lại, có
thể còn được coi là một chiến công của tình thương yêu kia đấy.
Ông già thì thầm: "A – men!"
Khách nhắc lại : "A – men!". Bây giờ thì cụ nói cho tôi biết , trước
khi từ giã cõi đời, cụ có mong ước điều gì không ?
- Tôi muốn có người sẽ chăm sóc cho cháu Ma-ri-a hộ tôi.
- Tôi sẽ làm việc đó. Cụ còn muốn điều gì nữa ?
Khi đó ông già hấp hối đột nhiên mỉm cười và nói to :
- Tôi còn muốn được nhìn thấy bà Mác-ta một lần nữa, đúng như khi tôi
đã gặp bà lần đầu hồi còn trẻ. Tôi muốn được nhìn thấy mặt trời và khu
vườn cũ này lúc đang mùa xuân hoa nở. Nhưng thưa ông những ước mong đó
không thể thực hiện được. Xin ông đừng giận tôi đã nói những lời gàn
dở. Chắc là bệnh tật đã làm tôi mất tỉnh táo rồi...
Khách nói : "Được" - Khách đứng dậy và nhắc lại : "Được". Ông bước tới
cạnh đàn, ngồi xuống chiếc ghế đẩu đặt trước đàn, nói to lần thứ ba :
"Được" và bỗng nhiên những thanh âm lan nhanh ra khắp trạm gác, tưởng
chừng như có ai ném xuống sàn nhà hàng trăm quả cầu thủy tinh nhỏ bé.
Khách nói :
- Cụ nghe đây. Cụ hãy nghe và thử nhìn xem.
Khách bắt đầu đàn . Sau này Ma-ri-a còn nhớ mãi nét mặt của khách hôm
đó ra sao khi phím đàn đầu tiên vang lên dưới bàn tay của ông, vầng
trán tái xanh một cách khác thường và trong đôi mất màu xẫm, bóng ngọn
lửa nến đang đung đưa.
Đã bao nhiêu năm nay chiêc dương cầm này mới lại vang lên to như thế.
Thanh âm không những tràn ngập trạm gác mà còn lan ra ngoài vườn. Con
chó già chui trong chuồng ra, ngồi nghiêng đầu, lắng nghe và khẽ vẫy
đuôi. Tuyết ẩm bắt đầu rơi, nhưng con chó vẫn ve vẩy tai.
- Thưa ông, tôi nhìn thấy rồi ! – ông già nói và nhấc đầu dậy, - Tôi
nhìn thấy hôm tôi gặp vợ tôi lần đầu, và vợ tôi e thẹn đã làm rơi vỡ
chiêc bình sữa. Hôm đó vào mùa đông trên vùng níu. Bầu trời trong vắt
như một tấm kính mầu xanh và Mác-ta đã cười – ông già nhắc lại, nghe
tiếng đàn thánh thót.
Khách vẫn đàn, mắt nhìn vào ô cửa sổ đen ngòm. Ông ta hỏi :
- Còn bây giờ, cụ có nhìn thấy gì không ?
Ông già im lặng, lắng nghe.
- Chẳng lẽ cụ không nhìn thấy gì à ? – khách nói nhanh, tay vẫn không
ngừng đàn, - là đêm từ màu đen đã chuyển snag màu xanh thẫm, rồi xanh
nhạt, và ánh sáng ấm từ trên cao dọi xuống. Trên các cành già cỗi của
những cây cối trong vườn đã đang nở những bông hoa trắng. Theo tôi thì
đó là hoa táo, tuy ở trong phòng này nhìn ra thì chúng to như những
bông hoa uất- kim-cương. Cụ thấy chứ, tia nắng đầu tiên chiếu, lên
hàng rào bằng đá, sưởi ấm nó và làm bốc lên hơi nước. Chắc đó là do
rêu bị ngấm tuyết bây giờ đang khô lại. Còn bầu trời thì mỗi lúc một
cao thêm. Những đàn chim đã lại theo nhau bay về phương bắc, trên
thành phố Viên cổ kính của chúng ta.
Ông già kêu lên :
- Tôi đã nhìn thấy tất cả những cái đó !
Bàn đạp khẽ kêu rít, và đàn dương cầm bắt đầu cất tiếng long trọng,
tưởng chừng không phải cây đàn nữa mà là hàng trăm tiếng người reo
vui.
Ma-ri-a nói với khách :
- Không thưa ông, những bông hoa đó hoàn toàn không giống
uất-kim-cương... đó là những bông hoa táo nở trong có một đêm.
Khách trả lời : " Đúng là hoa táo, nhưng cánh lại rất to".
- Mở cửa sổ ra , con - ông già yêu cầu.
Ma-ri-a mở cửa sổ ra. Không khí lạnh tràn vào phòng. Khách đàn rất khẽ
và chậm. Ông già ngả đầu xuống gối, thở hổn hển và tay bấu lấy chăn.
Ma-ri-a chạy vội lại. Khách ngừng đàn, nhưng vẫn ngồi yên không động
đậy bên cây đàn, như bị bản nhạc của chính mình thôi miên.
Ma-ri-a bắt đầu thét lên. Khách đứng dậy, bước tới bên giường. Ông già
vừa nói vừa thở hổn hển :
- Tôi đã nhìn thấy mọi thứ như bao nhiêu năm về trước. Nhưng tôi chưa
muốn chết mà vẫn không biết... tên , tên ông !
- Tên tôi là Vôn-han A-me-đây Mô-da ( Wolfgang Amadeus Mozart ) – khách trả lời.
Ma-ri-a lùi ra khỏi giường và khuỵu chân xuống rất thấp, đầu gối như
chạm sàn, cúi chào nhà nhạc sĩ vĩ đại.
Khi cô đứng thẳng dậy thì ông già đã chết rồi. Bình minh đỏ ửng ngoài
cửa sổ và trong làn ánh sáng ban mai đó, khu vườn hiện ra phủ đầy hoa
tuyết ẩm ướt.
VŨ QUỲNH dịch
Thứ Tư, 14 tháng 8, 2013
CHÂN DUNG 100 NHÀ VĂN QUA CÁI NHÌN CỦA NHÀ THƠ XUÂN SÁCH
Chân dung Nhà văn (CDNV) của Nhà thơ Xuân Sách ra đời những năm 60
của thế kỉ trước, vẻn vẹn 100 bài thơ, mỗi bài dài từ 4 - 6 đến 8 câu.
Mỗi bài thơ vẽ chân dung một Văn - Nghệ - Sĩ của dòng văn chương Việt
Nam đương đại - từ 1924 đến 1992.
Các chân dung không thể hiện hình hài quan sát từ bên ngoài - như mọi bức vẽ bằng cọ, ảnh chụp của Họa sĩ, nghệ sĩ Nhiếp ảnh. Xuân Sách ‘’vẽ’’ CDNV bằng lời thơ, ‘’bắt’’ người thưởng thức phải’ “Giải mã’’, suy nghĩ… tìm… liên tưởng… những từ ngữ trong câu thơ, đối chiếu với các tác phẩm của tác gỉa đã xuất bản, rồi từ đó suy ra: Bài Thơ ‘’vẽ’’ ai? Đây là chân dung văn nghệ sĩ nào?
Những đối tượng được Xuân Sách ‘’vẽ’’ đều là những tác gỉa có danh, nổi tiếng, có tác phẩm hiện diện trên văn đàn.Việt Nam trong vòng trên 60 năm (tính từ khi Tản Đà xuất hiện 1924 tới 1992 – CDNV được in ấn). Nếu không có danh, không có tác phẩm gía trị, người đọc sẽ không thể nhận diện được tác gỉa’’bức vẽ’’.
CDNV khắc họa hình hài người nghệ sĩ thật đậm nét, sắc sảo, có hồn. Cũng đồng thời, qua đó nhắc lại, gợi mở cho người đọc, người xem những khía cạnh nổi trội về tư cách của đối tượng, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm rồi suy gẫm về những điều ẩn chứa bên trong cuộc đời của từng tác giả (bức vẽ), gây hứng thú cho người đọc, kích thích sự tìm tòi, tiếp cận tác phẩm của đối tượng.
Thơ Chân Dung của Xuân Sách vừa là Thơ, vừa là Họa. Trong Thơ có Họa, trong bức họa tràn đầy chất thơ. Đọc thơ ông, người đọc phải suy nghĩ, tìm hiểu rồi khi tìm ra... trào dâng, rung lên cảm xúc… Trong trí tưởng người đọc hiện ra chân dung của người được vẽ thật sống động trên nền những bối cảnh của bức tranh cuộc đời họ…
Tác phẩm của ông được khá nhiều người dựa vào rồi thể hiện CDNV theo cách của họ, đưa ra những mô típ mới để tạo ra một sân chơi thi phú đầy hứng khởi... Tuy nhiên, tác phẩm của Xuân Sách vẫn giữ nguyên giá trị nguyên thủy: Thâm sâu, trí tuệ, nghệ thuật!
Trên biển lớn mênh mông sóng nước
Ngó trông về xóm mới khuất xa
Cỏ non nay chắc đã già
Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem.
2. Nguyễn Đình Thi
Xung kích tràn lên nước vỡ bờ
Đã vào lửa đỏ hãy còn mơ
Bay chi mặt trận trên cao ấy
Quên chú nai đen vẫn đứng chờ.
3. Tô Hoài
Dế mèn lưu lạc mười năm
Để O Chuột phải ôm cầm thuyền ai
Miền tây sen đã tàn phai
Trăng thề một mảnh lạnh ngoài đảo hoang.
4. Nguyên Hồng
Bỉ vỏ một thời oanh liệt nhỉ
Sóng gầm sông Lấp mấy ai hay
Cơn bão đến động rừng Yên thế
Con hổ già uống rượu giả vờ say
5. Nguyễn Công Hoan
Bác Kép Tư Bền rõ đến vui
Bởi còn tranh tối bác nhầm thôi
Bới tung đống rác nên trời phạt
Trời phạt chửa xong bác đã cười.
6. Nguyễn Tuân
Vang bóng một thời đâu dễ quên
Sông Đà cũng muốn đẩy thuyền lên
Chén rượu tình rừng cay đắng lắm
Tờ hoa lại trót lỡ ưu phiền.
7. Huy Cận
Các vị La hán chùa Tây phương
Các vị gày quá tôi thì béo
Năm xưa tôi hát vũ trụ ca
Bây giờ tôi hát đất nở hoa
Tôi hát chiến tranh như trẩy hội
Không nên xấu hổ khi nói dối
Việc gì mặt ủ với mày chau
Trời mỗi ngày lại sáng có sao đâu!
8. Xuân Diệu
Hai đợt sóng dâng một khối hồng
Không làm trôi được chút phấn thông
Chao ơi ngói mới nhà không mới
Riêng còn chẳng có, có gì chung.
9. Tế Hanh
Quá tuổi hoa niên đã bạc đầu
Tình còn dang dở tận Hàng Châu
Khúc ca mới hát sao buồn thế
Hai nửa yêu thương một nửa sầu.
10. Chế Lan Viên
Điêu tàn ư? Đâu chỉ có điêu tàn
Ta nghĩ tới vàng son từ thuở ấy
Chim báo bão, lựa chiều cơn gió dậy
Lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi
sắc phù sa
Thay đổi cả cơn mơ,
ai dám bảo con tầu không mộng tưởng
Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng
Lòng ta cũng như tầu, ta cũng uống
Mặt anh em trong suối cạn Hội nhà văn
11. Nguyễn Thi
Trăng sáng soi riêng một mặt người
Chia ly đôi bạn cách phương trời
Ước mơ của đất anh về đất
Im lặng mà không cứu nổi đời.
12. Kim Lân
Nên danh nên giá ở làng
Chết về ông lão bên hàng xóm kia
Làm thân con chó xá gì
Phận đành xấu xí cũng vì miếng ăn.
13. Tú Mỡ
Một nắm xương khô cũng gọi mỡ
Quanh năm múa bút để mua cười
Tưởng cụ vẫn bơi dòng nước ngược
Nào ngờ trở gió lại trôi xuôi.
14. Bùi Huy Phồn (Đồ Phồn)
Phất rồi ông mới ăn khao
Thơ ngang chạy dọc bán rao một thời
Ông đồ phấn, ông đồ vôi
Bao giờ xé xác để tôi ăn mừng.
15. Hoài Thanh
Vị nghệ thuật nửa cuộc đời
Nửa đời sau lại vị người ngồi trên
Thi nhân còn một chút duyên
Lại vò cho nát lại lèn cho đau
Bình thơ tới thuở bạc đầu
Vẫn chưa thể tất nổi câu nhân tình
Giật mình mình lại thương mình
Tàn canh tỉnh rượu bóng hình cũng tan
16. Vũ Tú Nam
Vốn cùng nhân dân tiến lên
Mùa đông năm ấy bỏ quên cờ đào
Con về nấp bóng ca dao
Giật mình nghe một tiếng chào: Văn Ngan
17. Hữu Mai
Hỏng đôi mắt phải đâu là mất hết
Trong cặp còn hồ sơ điệp viên
Ông cố vấn chẳng sợ gì cái chết
Cao điểm cuối cùng quyết chí xông lên.
18. Đỗ Chu
Đám cháy ở sau lưng
Đám cháy ở trước mặt
Than ôi mày chạy đâu
Dưới vòm trời quen thuộc
Đốt bao nhiêu cỏ mật
Không bay mùi thơm tho
Càng hun càng đỏ mắt
Quay về thung lũng cò
19. Xuân Quỳnh
Mải hái hoa dọc chiến hào
Bỏ quên chồi biếc lúc nào không hay
Thói quen cũng lạ lùng thay
Trồng cây táo lại mọc cây bạch đàn
20. Phạm Tiến Duật
Trường sơn đông em đi hái măng
Trường sơn tây anh làm thơ cho lính
Đời có lúc bay lên vầng trăng
Lại rơi xuống chiếc xe không kính
Thế đấy! giữa chiến trường
Nghe tiếng bom cũng mạnh!
21. Nguyễn Thành Long
Thao thức năm canh nghĩ chẳng ra
Trò chơi nguy hiểm đấy thôi mà
Lặng lẽ giữa khoảng trong xanh ấy
Để mối đùn lên đến lúc già.
22. Đào Vũ
Trời thí cho ông vụ lúa chiêm
Ông xây sân gạch với xây thềm
Con đường mòn ấy ông đi mãi
Lưu lạc đâu rồi mất cả tên
23. Nguyễn Bính
Hai lần lỡ bước sang ngang
Thương con bướm đậu trên giàn mồng tơi
Trăm hoa thân rã cành rời
Thôi đành lấy đáy giếng thơi làm mồ.
24. Nguyễn Văn Bổng
Nhọc nhằn theo bước con trâu
Hỡi người áo trắng nông sâu đã từng
Mỗi bước đi một bước dừng
Mà sao vẫn lạc giữa rừng U minh.
25. Nguyên Ngọc
Mấy lần đất nước đứng lên
Đứng lâu cũng mỏi cho nên phải nằm
Hại thay một mạch nước ngầm
Cuốn trôi đất Quảng lẫn rừng Xà nu
26. Vũ Thị Thường
Từ trong hom giỏ chui ra
Đã toan gánh vác sơn hà chị ơi
Định đem cái lạt buộc người
Khổ thay ông lão vịt trời phải chăn
27. Quang Dũng
“Sông Mã xa rồi tây tiến ơi”
Về làm xiếc khỉ với đời thôi
Nhà đồi một nóc chênh vênh lắm
Sống tạm cho qua một kiếp người
Áo sờn thay chiếu anh về đất
Mây đầu ô trắng, Ba vì xanh
Gửi hồn theo mộng về tây tiến
“Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
28. Mai Ngữ
Tưởng chuyện như đùa hoá ra thật
Biết ông sòng phẳng tự bao giờ
Cái con thò lò quay sáu mặt
Vồ hụt mấy lần ông vẫn trơ
29. Nguyễn Khải
Cha và con và… họ hàng và…
Hết bay mùa thóc lẫn mùa lạc
Cho nên chiến sĩ thiếu lương ăn
Họ sống chiến đấu càng khó khăn
Tháng Ba ở Tây nguyên đỏ lửa
Tháng tư lại đi xa hơn nữa
Đường đi ra đảo đường trong mây
Những người trở về mấy ai hay
Xung đột mỗi ngày thêm gay gắt
Muốn làm cách mạng nhưng lại dát
30. Hoàng Trung Thông
Đường chúng ta đi trong gió lửa
Còn mơ chi tới những cánh buồm
Từ thuở tóc xanh đi vỡ đất
Đến bạc đầu sỏi đá chửa thành cơm
31. Chính Hữu
Tấm áo hào hoa bạc gió mưa
Anh thành đồng chí tự bao giờ
Trăng còn một mảnh treo đầu súng
Cái ghế quan trường giết chết thơ.
32. Thanh Tịnh
Bao năm ngậm ngải tìm trầm
Giã từ quê mẹ xa dòng Hương giang
Bạc đầu mới biết lạc đường
Tay không nay lại vẫn hoàn tay không
Mộng làm giọt nước ôm sông
Ôm sông chẳng được, tơ lòng gió bay.
33. Chu Văn
Một con trâu bạc già nua
Nhờ cơn bão biển thổi lùa lên mây
Trâu ơi ta bảo trâu này
Quay về đất mặn kéo cày cho xong.
34. Ngô Tất Tố
Tài ba thằng mõ cỡ chuyên viên
Chia xôi chia thịt lại chia quyền
Việc làng việc nước là như vậy
Lộn xộn cho nên phải tắt đèn.
35. Nam Cao
Anh còn đôi mắt ngây thơ
Sống mòn sao vẫn đợi chờ tương lai
Thương cho Thị Nở ngày nay
Kiếm không đủ rượu làm say Chí Phèo.
36. Xuân Thủy
Xoắn mãi dây tình thơ bật ra
Paris thì thích hơn ở nhà
Đông y ắt hẳn hơn tây dược
Xe tải không bằng xe Vonga
Trên đời kim cương là quý nhất
Thứ đến tình thương dân nghèo ta
Em chớ chê anh già lẩm cẩm
Còn hơn thằng trẻ lượn Honđa.
37. Lưu Trọng Lư
Em không nghe mùa thu
Mùa thu chỉ có lá
Em không nghe rừng thu
Rừng mưa to gió cả
Em thích nghe mùa xuân
Con nai vờ ngơ ngác
Nó ca bài cải lương.
38. Nguyễn Khoa Điềm
Một mặt đường khát vọng
Cuộc chiến tranh đi qua
Rồi trở lại ngôi nhà
Cất lên ngọn lửa ấm
Ngủ ngon a Kai ơi
Ngủ ngon a Kai à…
39. Nguyễn Kiên
Anh Keng cưới vợ tháng mười
Những đứa con lại ra đời tháng năm
Trong làng kháo chuyện rì rầm
Vụ mùa chưa gặt thóc đã nằm đày kho.
40. Anh Thơ
Ấy bức tranh quê đẹp một thời
Má hồng đến quá nửa pha phôi
Bên sông vải chín mùa tu hú
Khắc khoải kêu chi suốt một đời.
41. Xuân Thiều
“Đôi vai” thì gánh lập trường
Đôi tay sờ soạng con đường cuối thôn
Nghe anh kể chuyện đầu nguồn
Về nhà thấy mất cái hồn của em.
42. Nguyễn Thị Như Trang
Nhá nhem khoảng sáng trong rừng
Để cho cuộc thế xoay vần hơn thua
Xác xơ mầu tím hoa mua
Lửa chân sóng báo mây mưa suốt ngày.
43. Bùi Đức Ái (Anh Đức)
Chị Tư Hậu đẻ ra anh
Ví như hòn đất nặn thành đứa con
Biển xa gió dập sóng dồn
Đất tan thành đất chỉ còn giấc mơ.
44. Nguyễn Thế Phương
Đi bước nữa rồi đi bước nữa
Phấn son mưa nắng đã tàn phai
Cái kiếp đào chèo là vậy đó
Đêm tàn bến cũ chẳng còn ai.
45. Vũ Trọng Phụng
Đã qua đi một thời giông tố
Qua một thời cơm thầy cơm cô
Còn để lại những thằng Xuân tóc đỏ
Vẫn nghênh ngang cho đến tận bây giờ.
46. Xuân Thiêm
Thơ ông tang tính tang tình
Cây đa bến nước mái đình vườn dâu
Thân ông mấy lượt lấm đầu
Miếng mồi danh lợi mắc câu vẫn thèm.
47. Đào Hồng Cẩm
Bắt đầu từ lão nghị hụt
Cầm dao giết mạng người
Chị Nhàn phải đi bước nữa
Lấy đại đội trưởng của tôi
Cuộc đời mấy phen nổi gió
Phải đem tổ quốc thề bồi
Lần này ông ra ứng cử
Chắc hẳn là trúng nghị viên thôi.
48. Nguyễn Quang Sáng
Ông Năm Hạng trở về đất lửa
Với chiếc lược ngà vượt Trường sơn
Bỗng mùa gió chướng vừa nổi dậy
Ông biến thành thằng nộm hình rơm.
49. Hoàng Văn Bổn
Có những lớp người đi vỡ đất
Mùa mưa không trồng lúa trồng ngô
Lại gieo hạt bông hường bông cúc
Trên mảnh đất này hoa héo khô.
50. Phù Thăng
Chuyện kể cho người mẹ nghe
Biển lửa bốc cháy bốn bề tan hoang
Đứa con nuôi của trung đoàn
Phá vây xong lại chết mòn trong vây.
51. Nguyễn Thị Ngọc Tú
Đất làng vừa một tấc
Bao nhiêu người đến cày
Thóc giống còn mấy hạt
Đợi mùa sau sẽ hay
52. Vũ Cao
Sớm nay nhấp một chén trà
Bâng khuâng tự hỏi đâu là núi đôi
Những người cùng làng với tôi
Muốn sang đèo trúc muộn rồi đừng sang
53. Phan Tứ (Lê Khâm)
Bên kia biên giới anh sang
Trước giờ nổ súng về làng làm chi
Mẫn và tôi tính chi li
Gia đình má Bảy lấy gì nuôi anh.
54. Nguyễn Huy Tưởng
Anh chẳng còn sống mãi
Với thủ đô luỹ hoa
Để những người ở lại
Bốn năm sau khóc oà.
55. Thu Bồn
Chim Chơ rao cất cánh ngang trời
Tình như chớp trắng cháy liên hồi
Đám mây cánh vạc tan thành nước
Mà đất ba dan vẫn khát hoài.
56. Bùi Hiển
Sinh ra trong gió cát
Đất Nghệ an khô cằn
Bao nhiêu năm “nằm vạ”
Trước cửa Hội Nhà văn.
57. Võ Huy Tâm
Đem than từ vùng mỏ
Về bán tại thủ đô
Bị đập chiếc cán búa
Hoá ra thằng ngẩn ngơ.
58. Nông Quốc Chấn
Tưởng anh dọn về làng xưa
Ngờ đâu về tận thủ đô nhận nhà
Sướng cái bụng lắm lắm à
Đêm là đèo gió, ngày là hồ Tây.
59. Thế Lữ
Với tiếng sáo thiên thai dìu dặt
Mở ra dòng Thơ Mới cho đời
Bỏ rừng già về vườn bách thú
Con hổ buồn lặng lẽ trút tàn hơi.
60. Nguyễn Minh Châu
Cửa sông cất tiếng chào đời
Rồi đi ra những vùng trời khác nhau
Dấu chân người lính in mau
Qua miền cháy với cỏ lau bời bời
Đọc lời ai điếu một thời
Tan phiên chợ Giát hồn người về đâu?
61. Phạm Huy Thông
Nếu Trương Lương không thổi địch sông Ô
Liệu Hạng Vũ có lên ngôi hoàng đế
Nhưng buồn thay đã đánh mất Ngu Cơ
Đời chẳng còn gì, và thơ cũng thế.
62. Giang Nam
“Xưa tôi yêu quê hương vì có chim có bướm”
“Có những ngày trốn học bị đòn roi”
Nay tôi yêu quê hương về có ô che nắng
Có ghế ngồi viết những điệu thơ vui.
63. Bằng Việt
Nhen lên một bếp lửa
Mong soi gương mặt người
Bỗng cơn giông nổi đến
Mây che một khung trời
Đất sau mưa sụt lở
Mầu mỡ trôi đi đâu
Còn trơ chiếc guốc võng
Trăng mài mòn canh thâu.
64. Nguyễn Trọng Oánh
Một chút hương thơm trải bốn mùa
Mười năm lăn lội chốn rừng già
Quay về không chịu ơn mưa móc
Đất trắng mưa rồi đất lại khô.
65. Nguyễn Xuân Sanh
Xưa thơ anh viết không người hiểu
“Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”
Nay anh chưa viết người đã hiểu
Sắp sáng thì nghe có tiếng gà.
66. Thâm Tâm
“Người đi, ờ nhỉ, người đi thật”
Đi thật nhưng rồi lại trở về
Nhẹ như hạt bụi, như hơi rượu
Mà đắm hồn người trong tái tê.
67. Nguyễn Huy Thiệp
Không có vua thì làm sao có tướng
Nên về hưu vẫn phải chết tại chiến trường
Kiếm sắc chém bao nhiêu đầu giặc
Để vàng tôi trong lửa chịu đau thương.
68. Phùng Quán
Hồn đã vượt Côn đảo
Thân xác ở trong lao
Bởi nghe lời mẹ dặn
Nên suốt đời lao đao.
69. Tố Hữu
Ta đi tới đỉnh cao muôn trượng
Mắt trông về tám hướng phía trời xa
Chân dép lốp bay vào vũ trụ
Khi trở về ta lại là ta
Từ ấy tim tôi ngừng tiếng hát
Trông về Việt Bắc tít mù mây
Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt
Máu ở chiến trường, hoa ở đây.
70. Dương Thu Hương
Tay em cầm bông bần ly
Bờ cây đỏ thắm làm chi não lòng
Chuyện tình kể trước lúc rạng đông
Hoàng hôn ảo vọng vẫn không tới bờ
Thiên đường thì quá mù mờ
Vĩ nhân tỉnh lẻ vật vờ bóng ma
Hành trình thơ ấu đã qua
Hỡi người hàng xóm còn ta với mình.
71. Hữu Thỉnh
Cùng đoàn quân anh đi tới thành phố
Bị lạc đường về Hội Nhà văn
Ờ nhỉ bao giờ quay trở lại
Với năm anh em trên một chiếc xe tăng.
72. Trần Bạch Đằng(Hưởng Triều, Hiểu Trường, Ng.Trương Thiên Lý)
Ván bài lật ngửa tênh hênh
Con đường thiên lý gập ghềnh mãi thôi
Thay tên đổi họ mấy hồi
Vẫn chưa tới được chân trời mộng mơ
73. Nguyễn Duy
Mẹ và em đang ở đâu
Giữa vùng cát trắng đêm thâu gió lùa
Ổ rơm teo tóp ngày mùa
Xác xơ thân lúa vật vờ thân tôi
Bờ tre kẽo kẹt liên hồi
Bầu trời vuông với một ngôi sao dời
Đánh thức tiềm lực suốt đời
Ai? Chẳng ai đáp lại lời của tôi.
74. Nguyễn Mạnh Tuấn
Anh đã đứng trước biển
Cù lao Chàm kia rồi
Những khoảng cách còn lại
Xa vời lắm anh ơi.
75. Trần Mạnh Hảo
Ôi thằng Trần Mạnh Hảo
Đi phỏng vấn Chí Phèo
Lão chết từ tám hoánh
Đời mày vẫn gieo neo
Còn cái lão Bá Kiến
Đục bản in thơ mày
Bao giờ mày say rượu?
Bao giờ mày ra tay?
76. Hoàng Cầm
Em ơi buồn làm chi
Em không buồn sao được
Quan họ đã vào hợp tác
Đông Hồ gà lợn nuôi chung
Bên kia sông Đuống em trông
Tìm đâu thấy lá diêu bông hỡi chàng.
77. Lê Lựu
Người về đồng cói người ơi
Phía ấy mặt trời mọc lại
Một thời xa vắng, xa rồi
Phủ Khoái xin tương oai oái
Ở đời gặp may hơn khôn
Nào ai dám ghen dám cãi
Người đã đi Mỹ hai lần
Biết rồi, khổ lắm, nói mãi
78. Vũ Quần Phương
Anh đứng thành tro… em có biết
Hôm qua lại gặp chuyến xe bò
Vẫn anh đi trong vầng trăng cũ
Áo đỏ bên cầu đợi ngẩn ngơ.
79. Hữu Loan
Ôi màu tím hoa sim
Nhuốm tím cuộc đời dài đến thế
Cho đến khi tóc bạc da mồi
Chưa làm được nhà
còn bận làm người
Ngoảnh lại ba mươi năm
Tìm mấy nghìn
chiều hoang
biền biệt
80. Lý Văn Sâm
Kòn Trô dấn bước đường chinh chiến
Nửa gánh giang hồ nửa ái ân
Ngàn sau sông Dịch còn tê lạnh
Tráng sĩ có về với bến xuân.
81. Tản Đà
Văn chương thuở ấy như bèo
Thương cụ gồng gánh trèo leo tận trời
Giấc mộng lớn đã bốc hơi
Giấc mộng con suốt một thời bơ vơ
Ước chi cụ sống tới giờ
Chợ trời nhan nhản tha hồ bán văn.
82. Lưu Quang Vũ
Cũng muốn tin ở hoa hồng
Tin vào điều không thể mất
Cả tôi và cả chúng ta
Đứng trong đầm lầy mà hát
Ông không phải là bố tôi
Con chim sâm cầm đã chết
Ông không phải là bố tôi
Con chim sâm cầm ai giết?
83. Hà Minh Tuân
Bốn mươi tuổi mới vào đời
Ăn đòn hội chợ tơi bời xác xơ
Giữa hai trận tuyến ngu ngơ
Trong lòng Hà nội bây giờ ở đâu?
84. Minh Huệ
Vỡ lòng câu thơ viết
Mời bác ngủ bác ơi
Đêm nay bác không ngủ
Nhà thơ ngủ lâu rồi
85. Văn Cao
Thiên thai – từ giã về dương thế
Nhắc chi ngày ấy buồn lòng ta
Sân đình ngất ngưởng ngôi tiên chỉ
Uống rượu say rồi hát quốc ca
86. Ma Văn Kháng
Khi xuôi anh mang theo
Đồng bạc trắng hoa xòe
Với một mối tình sơn cước
Mùa lá rụng trong vườn
Năm này qua năm khác
Đám cưới vẫn không thành
Vì giấy gía thú chửa làm xong
87. Vũ Bão
Sắp cưới bỗng có thằng phá đám
Nên ông chửi bố chúng mày lên
Đàu chày đít thớt đâu còn ngán
Không viết văn thì ông viết phim.
88. Hồ Dzếnh
Biết mấy mươi chiều khói thuốc bay
Quê nhà vẫn lẩn khuất trong mây
Lui về ký ức chân trời cũ
Uống chén rượu buồn không dám say.
89. Hoàng Phủ Ngọc Tường
Trăm năm ông phủ… Ngọc Tường ơi
Cái nợ lên xanh rũ sạch rồi
Cửa Việt tung hoành con sóng vỗ
Sông Hương lặng lẽ chiếc thuyền trôi
Sử thi thành cổ buồn nao dạ
Chuyện mới Đông hà tái nhợt môi
Từ biệt chốn xưa nhiều ánh lửa
Trăm năm ông phủ… Ngọc Tường ơi!
90. Phạm Thị Hoài
Dẫu chín bỏ làm mười
hay mười hai cũng mặc
Chẳng ai dung thiên sứ đất này
Dụ đồng đội vào trong mê lộ
Rồi bỏ đi du hí đến năm ngày.
91. Thanh Thảo
Giặc dã yên rồi
Về xoay khối vuông Ru bích
Đoán vận rủi may
Thưa quý vị, xin mời
Xanh tím trắng đỏ vàng đều rõ hết
Ta cùng vào cuộc chơi.
Không gian bốn năm chiều,
thời gian xin tuỳ thích
Đảo lộn tùng phèo thật gỉa trắng đen
“Tôi như cục xà bông thứ thiệt”
Cứ đổ rượu vào
hình quý vị sẽ hiện lên.
92. Trần Dần
Người người lớp lớp
xông ra trận
Cờ đỏ
mưa sa
suốt dặm dài
Mở đợt phá khẩu
tiến lên
nhất định thắng
Lô cốt mấy tầng
đè nát vai
Dẫu sông núi cỏ cây làm chứng
Hồn vẫn treo trên
Vọng hải đài.
93. Khương Hữu Dựng
Ba lô trên vai từ đêm mười chín
“Một tiếng chim kêu sáng cả rừng”
Thì cứ khắc đi rồi khắc đến
Sao còn ngồi đấy cụ già Khương?
94. Bùi Minh Quốc
Tuổi hai mươi xung phong lên Tây bắc
Nguyện hi sinh chiến đấu dưới cờ
Lại xung phong vào Nam đánh giặc
Với bà mẹ đào hầm đầu bạc phơ phơ
Hoà bình rồi tiến lên đổi mới
Bất ngờ ngã ngựa chốn non cao
Dẫu thân thể mang đầy thương tích
Thì cuộc đời vẫn đẹp sao
Tình yêu vẫn đẹp sao
95. Ý Nhi
Trái tim với nỗi nhớ ai
Như cây trong phố đứng hoài chờ trăng
Như người đàn bà ngồi đan
Sợi dọc thì rối, sợi ngang thì chùng.
96. Yến Lan
Ra đi từ bến My Lăng
Bao năm dấu kín ánh trăng trong lòng
Tuổi già về lại bến sông
Trăng xưa đã lớn, phải chong đèn dầu
97. Phan Thị Thanh Nhàn
Dấu một chùm thơ trong chiếc khăn tay
Em hăm hở đi tìm người trao tặng
Những kẻ phong lưu, những tên du đãng
Mấy ai biết hương thầm của cô gái xóm đê.
98. Trần Đăng Khoa
Chú dế góc sân hồn nhiên ca hát
Hát thành thơ như nước triều lên
Khi khôn lớn lại hồn nhiên đi giữa
“Biển một bên và em một bên”.
99. Hoàng Lại Giang
Người đàn bà một thời tôi ao ước
Trên vành đai Mỹ những năm xưa
Tình yêu đã lụi tàn cùng ký ức
Nhưng còn đây tội lỗi đến bao giờ?
100. Xuân Sách (Tự hoạ)
Cô giáo làng tôi đã chết rồi
Một đêm ra trận đất bom vùi
Xót xa đình Bảng người du kích
Đau đớn Bạch đằng lũ trẻ côi
Đường tới chiến công gân cốt mỏi
Lối vào lửa sởn tóc da mồi
Mặt trời ảm đạm quê hương cũ
Ở một cung đường rách tả tơi.
Nhà xuất bản Văn học
Các chân dung không thể hiện hình hài quan sát từ bên ngoài - như mọi bức vẽ bằng cọ, ảnh chụp của Họa sĩ, nghệ sĩ Nhiếp ảnh. Xuân Sách ‘’vẽ’’ CDNV bằng lời thơ, ‘’bắt’’ người thưởng thức phải’ “Giải mã’’, suy nghĩ… tìm… liên tưởng… những từ ngữ trong câu thơ, đối chiếu với các tác phẩm của tác gỉa đã xuất bản, rồi từ đó suy ra: Bài Thơ ‘’vẽ’’ ai? Đây là chân dung văn nghệ sĩ nào?
Những đối tượng được Xuân Sách ‘’vẽ’’ đều là những tác gỉa có danh, nổi tiếng, có tác phẩm hiện diện trên văn đàn.Việt Nam trong vòng trên 60 năm (tính từ khi Tản Đà xuất hiện 1924 tới 1992 – CDNV được in ấn). Nếu không có danh, không có tác phẩm gía trị, người đọc sẽ không thể nhận diện được tác gỉa’’bức vẽ’’.
CDNV khắc họa hình hài người nghệ sĩ thật đậm nét, sắc sảo, có hồn. Cũng đồng thời, qua đó nhắc lại, gợi mở cho người đọc, người xem những khía cạnh nổi trội về tư cách của đối tượng, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm rồi suy gẫm về những điều ẩn chứa bên trong cuộc đời của từng tác giả (bức vẽ), gây hứng thú cho người đọc, kích thích sự tìm tòi, tiếp cận tác phẩm của đối tượng.
Thơ Chân Dung của Xuân Sách vừa là Thơ, vừa là Họa. Trong Thơ có Họa, trong bức họa tràn đầy chất thơ. Đọc thơ ông, người đọc phải suy nghĩ, tìm hiểu rồi khi tìm ra... trào dâng, rung lên cảm xúc… Trong trí tưởng người đọc hiện ra chân dung của người được vẽ thật sống động trên nền những bối cảnh của bức tranh cuộc đời họ…
Tác phẩm của ông được khá nhiều người dựa vào rồi thể hiện CDNV theo cách của họ, đưa ra những mô típ mới để tạo ra một sân chơi thi phú đầy hứng khởi... Tuy nhiên, tác phẩm của Xuân Sách vẫn giữ nguyên giá trị nguyên thủy: Thâm sâu, trí tuệ, nghệ thuật!
Sưu tầm.
CHÂN DUNG 100 NHÀ VĂN QUA CÁI NHÌN CỦA NHÀ THƠ XUÂN SÁCH
1. Hồ PhươngTrên biển lớn mênh mông sóng nước
Ngó trông về xóm mới khuất xa
Cỏ non nay chắc đã già
Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem.
2. Nguyễn Đình Thi
Xung kích tràn lên nước vỡ bờ
Đã vào lửa đỏ hãy còn mơ
Bay chi mặt trận trên cao ấy
Quên chú nai đen vẫn đứng chờ.
3. Tô Hoài
Dế mèn lưu lạc mười năm
Để O Chuột phải ôm cầm thuyền ai
Miền tây sen đã tàn phai
Trăng thề một mảnh lạnh ngoài đảo hoang.
4. Nguyên Hồng
Bỉ vỏ một thời oanh liệt nhỉ
Sóng gầm sông Lấp mấy ai hay
Cơn bão đến động rừng Yên thế
Con hổ già uống rượu giả vờ say
5. Nguyễn Công Hoan
Bác Kép Tư Bền rõ đến vui
Bởi còn tranh tối bác nhầm thôi
Bới tung đống rác nên trời phạt
Trời phạt chửa xong bác đã cười.
6. Nguyễn Tuân
Vang bóng một thời đâu dễ quên
Sông Đà cũng muốn đẩy thuyền lên
Chén rượu tình rừng cay đắng lắm
Tờ hoa lại trót lỡ ưu phiền.
7. Huy Cận
Các vị La hán chùa Tây phương
Các vị gày quá tôi thì béo
Năm xưa tôi hát vũ trụ ca
Bây giờ tôi hát đất nở hoa
Tôi hát chiến tranh như trẩy hội
Không nên xấu hổ khi nói dối
Việc gì mặt ủ với mày chau
Trời mỗi ngày lại sáng có sao đâu!
8. Xuân Diệu
Hai đợt sóng dâng một khối hồng
Không làm trôi được chút phấn thông
Chao ơi ngói mới nhà không mới
Riêng còn chẳng có, có gì chung.
9. Tế Hanh
Quá tuổi hoa niên đã bạc đầu
Tình còn dang dở tận Hàng Châu
Khúc ca mới hát sao buồn thế
Hai nửa yêu thương một nửa sầu.
10. Chế Lan Viên
Điêu tàn ư? Đâu chỉ có điêu tàn
Ta nghĩ tới vàng son từ thuở ấy
Chim báo bão, lựa chiều cơn gió dậy
Lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi
sắc phù sa
Thay đổi cả cơn mơ,
ai dám bảo con tầu không mộng tưởng
Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng
Lòng ta cũng như tầu, ta cũng uống
Mặt anh em trong suối cạn Hội nhà văn
11. Nguyễn Thi
Trăng sáng soi riêng một mặt người
Chia ly đôi bạn cách phương trời
Ước mơ của đất anh về đất
Im lặng mà không cứu nổi đời.
12. Kim Lân
Nên danh nên giá ở làng
Chết về ông lão bên hàng xóm kia
Làm thân con chó xá gì
Phận đành xấu xí cũng vì miếng ăn.
13. Tú Mỡ
Một nắm xương khô cũng gọi mỡ
Quanh năm múa bút để mua cười
Tưởng cụ vẫn bơi dòng nước ngược
Nào ngờ trở gió lại trôi xuôi.
14. Bùi Huy Phồn (Đồ Phồn)
Phất rồi ông mới ăn khao
Thơ ngang chạy dọc bán rao một thời
Ông đồ phấn, ông đồ vôi
Bao giờ xé xác để tôi ăn mừng.
15. Hoài Thanh
Vị nghệ thuật nửa cuộc đời
Nửa đời sau lại vị người ngồi trên
Thi nhân còn một chút duyên
Lại vò cho nát lại lèn cho đau
Bình thơ tới thuở bạc đầu
Vẫn chưa thể tất nổi câu nhân tình
Giật mình mình lại thương mình
Tàn canh tỉnh rượu bóng hình cũng tan
16. Vũ Tú Nam
Vốn cùng nhân dân tiến lên
Mùa đông năm ấy bỏ quên cờ đào
Con về nấp bóng ca dao
Giật mình nghe một tiếng chào: Văn Ngan
17. Hữu Mai
Hỏng đôi mắt phải đâu là mất hết
Trong cặp còn hồ sơ điệp viên
Ông cố vấn chẳng sợ gì cái chết
Cao điểm cuối cùng quyết chí xông lên.
18. Đỗ Chu
Đám cháy ở sau lưng
Đám cháy ở trước mặt
Than ôi mày chạy đâu
Dưới vòm trời quen thuộc
Đốt bao nhiêu cỏ mật
Không bay mùi thơm tho
Càng hun càng đỏ mắt
Quay về thung lũng cò
19. Xuân Quỳnh
Mải hái hoa dọc chiến hào
Bỏ quên chồi biếc lúc nào không hay
Thói quen cũng lạ lùng thay
Trồng cây táo lại mọc cây bạch đàn
20. Phạm Tiến Duật
Trường sơn đông em đi hái măng
Trường sơn tây anh làm thơ cho lính
Đời có lúc bay lên vầng trăng
Lại rơi xuống chiếc xe không kính
Thế đấy! giữa chiến trường
Nghe tiếng bom cũng mạnh!
21. Nguyễn Thành Long
Thao thức năm canh nghĩ chẳng ra
Trò chơi nguy hiểm đấy thôi mà
Lặng lẽ giữa khoảng trong xanh ấy
Để mối đùn lên đến lúc già.
22. Đào Vũ
Trời thí cho ông vụ lúa chiêm
Ông xây sân gạch với xây thềm
Con đường mòn ấy ông đi mãi
Lưu lạc đâu rồi mất cả tên
23. Nguyễn Bính
Hai lần lỡ bước sang ngang
Thương con bướm đậu trên giàn mồng tơi
Trăm hoa thân rã cành rời
Thôi đành lấy đáy giếng thơi làm mồ.
24. Nguyễn Văn Bổng
Nhọc nhằn theo bước con trâu
Hỡi người áo trắng nông sâu đã từng
Mỗi bước đi một bước dừng
Mà sao vẫn lạc giữa rừng U minh.
25. Nguyên Ngọc
Mấy lần đất nước đứng lên
Đứng lâu cũng mỏi cho nên phải nằm
Hại thay một mạch nước ngầm
Cuốn trôi đất Quảng lẫn rừng Xà nu
26. Vũ Thị Thường
Từ trong hom giỏ chui ra
Đã toan gánh vác sơn hà chị ơi
Định đem cái lạt buộc người
Khổ thay ông lão vịt trời phải chăn
27. Quang Dũng
“Sông Mã xa rồi tây tiến ơi”
Về làm xiếc khỉ với đời thôi
Nhà đồi một nóc chênh vênh lắm
Sống tạm cho qua một kiếp người
Áo sờn thay chiếu anh về đất
Mây đầu ô trắng, Ba vì xanh
Gửi hồn theo mộng về tây tiến
“Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
28. Mai Ngữ
Tưởng chuyện như đùa hoá ra thật
Biết ông sòng phẳng tự bao giờ
Cái con thò lò quay sáu mặt
Vồ hụt mấy lần ông vẫn trơ
29. Nguyễn Khải
Cha và con và… họ hàng và…
Hết bay mùa thóc lẫn mùa lạc
Cho nên chiến sĩ thiếu lương ăn
Họ sống chiến đấu càng khó khăn
Tháng Ba ở Tây nguyên đỏ lửa
Tháng tư lại đi xa hơn nữa
Đường đi ra đảo đường trong mây
Những người trở về mấy ai hay
Xung đột mỗi ngày thêm gay gắt
Muốn làm cách mạng nhưng lại dát
30. Hoàng Trung Thông
Đường chúng ta đi trong gió lửa
Còn mơ chi tới những cánh buồm
Từ thuở tóc xanh đi vỡ đất
Đến bạc đầu sỏi đá chửa thành cơm
31. Chính Hữu
Tấm áo hào hoa bạc gió mưa
Anh thành đồng chí tự bao giờ
Trăng còn một mảnh treo đầu súng
Cái ghế quan trường giết chết thơ.
32. Thanh Tịnh
Bao năm ngậm ngải tìm trầm
Giã từ quê mẹ xa dòng Hương giang
Bạc đầu mới biết lạc đường
Tay không nay lại vẫn hoàn tay không
Mộng làm giọt nước ôm sông
Ôm sông chẳng được, tơ lòng gió bay.
33. Chu Văn
Một con trâu bạc già nua
Nhờ cơn bão biển thổi lùa lên mây
Trâu ơi ta bảo trâu này
Quay về đất mặn kéo cày cho xong.
34. Ngô Tất Tố
Tài ba thằng mõ cỡ chuyên viên
Chia xôi chia thịt lại chia quyền
Việc làng việc nước là như vậy
Lộn xộn cho nên phải tắt đèn.
35. Nam Cao
Anh còn đôi mắt ngây thơ
Sống mòn sao vẫn đợi chờ tương lai
Thương cho Thị Nở ngày nay
Kiếm không đủ rượu làm say Chí Phèo.
36. Xuân Thủy
Xoắn mãi dây tình thơ bật ra
Paris thì thích hơn ở nhà
Đông y ắt hẳn hơn tây dược
Xe tải không bằng xe Vonga
Trên đời kim cương là quý nhất
Thứ đến tình thương dân nghèo ta
Em chớ chê anh già lẩm cẩm
Còn hơn thằng trẻ lượn Honđa.
37. Lưu Trọng Lư
Em không nghe mùa thu
Mùa thu chỉ có lá
Em không nghe rừng thu
Rừng mưa to gió cả
Em thích nghe mùa xuân
Con nai vờ ngơ ngác
Nó ca bài cải lương.
38. Nguyễn Khoa Điềm
Một mặt đường khát vọng
Cuộc chiến tranh đi qua
Rồi trở lại ngôi nhà
Cất lên ngọn lửa ấm
Ngủ ngon a Kai ơi
Ngủ ngon a Kai à…
39. Nguyễn Kiên
Anh Keng cưới vợ tháng mười
Những đứa con lại ra đời tháng năm
Trong làng kháo chuyện rì rầm
Vụ mùa chưa gặt thóc đã nằm đày kho.
40. Anh Thơ
Ấy bức tranh quê đẹp một thời
Má hồng đến quá nửa pha phôi
Bên sông vải chín mùa tu hú
Khắc khoải kêu chi suốt một đời.
41. Xuân Thiều
“Đôi vai” thì gánh lập trường
Đôi tay sờ soạng con đường cuối thôn
Nghe anh kể chuyện đầu nguồn
Về nhà thấy mất cái hồn của em.
42. Nguyễn Thị Như Trang
Nhá nhem khoảng sáng trong rừng
Để cho cuộc thế xoay vần hơn thua
Xác xơ mầu tím hoa mua
Lửa chân sóng báo mây mưa suốt ngày.
43. Bùi Đức Ái (Anh Đức)
Chị Tư Hậu đẻ ra anh
Ví như hòn đất nặn thành đứa con
Biển xa gió dập sóng dồn
Đất tan thành đất chỉ còn giấc mơ.
44. Nguyễn Thế Phương
Đi bước nữa rồi đi bước nữa
Phấn son mưa nắng đã tàn phai
Cái kiếp đào chèo là vậy đó
Đêm tàn bến cũ chẳng còn ai.
45. Vũ Trọng Phụng
Đã qua đi một thời giông tố
Qua một thời cơm thầy cơm cô
Còn để lại những thằng Xuân tóc đỏ
Vẫn nghênh ngang cho đến tận bây giờ.
46. Xuân Thiêm
Thơ ông tang tính tang tình
Cây đa bến nước mái đình vườn dâu
Thân ông mấy lượt lấm đầu
Miếng mồi danh lợi mắc câu vẫn thèm.
47. Đào Hồng Cẩm
Bắt đầu từ lão nghị hụt
Cầm dao giết mạng người
Chị Nhàn phải đi bước nữa
Lấy đại đội trưởng của tôi
Cuộc đời mấy phen nổi gió
Phải đem tổ quốc thề bồi
Lần này ông ra ứng cử
Chắc hẳn là trúng nghị viên thôi.
48. Nguyễn Quang Sáng
Ông Năm Hạng trở về đất lửa
Với chiếc lược ngà vượt Trường sơn
Bỗng mùa gió chướng vừa nổi dậy
Ông biến thành thằng nộm hình rơm.
49. Hoàng Văn Bổn
Có những lớp người đi vỡ đất
Mùa mưa không trồng lúa trồng ngô
Lại gieo hạt bông hường bông cúc
Trên mảnh đất này hoa héo khô.
50. Phù Thăng
Chuyện kể cho người mẹ nghe
Biển lửa bốc cháy bốn bề tan hoang
Đứa con nuôi của trung đoàn
Phá vây xong lại chết mòn trong vây.
51. Nguyễn Thị Ngọc Tú
Đất làng vừa một tấc
Bao nhiêu người đến cày
Thóc giống còn mấy hạt
Đợi mùa sau sẽ hay
52. Vũ Cao
Sớm nay nhấp một chén trà
Bâng khuâng tự hỏi đâu là núi đôi
Những người cùng làng với tôi
Muốn sang đèo trúc muộn rồi đừng sang
53. Phan Tứ (Lê Khâm)
Bên kia biên giới anh sang
Trước giờ nổ súng về làng làm chi
Mẫn và tôi tính chi li
Gia đình má Bảy lấy gì nuôi anh.
54. Nguyễn Huy Tưởng
Anh chẳng còn sống mãi
Với thủ đô luỹ hoa
Để những người ở lại
Bốn năm sau khóc oà.
55. Thu Bồn
Chim Chơ rao cất cánh ngang trời
Tình như chớp trắng cháy liên hồi
Đám mây cánh vạc tan thành nước
Mà đất ba dan vẫn khát hoài.
56. Bùi Hiển
Sinh ra trong gió cát
Đất Nghệ an khô cằn
Bao nhiêu năm “nằm vạ”
Trước cửa Hội Nhà văn.
57. Võ Huy Tâm
Đem than từ vùng mỏ
Về bán tại thủ đô
Bị đập chiếc cán búa
Hoá ra thằng ngẩn ngơ.
58. Nông Quốc Chấn
Tưởng anh dọn về làng xưa
Ngờ đâu về tận thủ đô nhận nhà
Sướng cái bụng lắm lắm à
Đêm là đèo gió, ngày là hồ Tây.
59. Thế Lữ
Với tiếng sáo thiên thai dìu dặt
Mở ra dòng Thơ Mới cho đời
Bỏ rừng già về vườn bách thú
Con hổ buồn lặng lẽ trút tàn hơi.
60. Nguyễn Minh Châu
Cửa sông cất tiếng chào đời
Rồi đi ra những vùng trời khác nhau
Dấu chân người lính in mau
Qua miền cháy với cỏ lau bời bời
Đọc lời ai điếu một thời
Tan phiên chợ Giát hồn người về đâu?
61. Phạm Huy Thông
Nếu Trương Lương không thổi địch sông Ô
Liệu Hạng Vũ có lên ngôi hoàng đế
Nhưng buồn thay đã đánh mất Ngu Cơ
Đời chẳng còn gì, và thơ cũng thế.
62. Giang Nam
“Xưa tôi yêu quê hương vì có chim có bướm”
“Có những ngày trốn học bị đòn roi”
Nay tôi yêu quê hương về có ô che nắng
Có ghế ngồi viết những điệu thơ vui.
63. Bằng Việt
Nhen lên một bếp lửa
Mong soi gương mặt người
Bỗng cơn giông nổi đến
Mây che một khung trời
Đất sau mưa sụt lở
Mầu mỡ trôi đi đâu
Còn trơ chiếc guốc võng
Trăng mài mòn canh thâu.
64. Nguyễn Trọng Oánh
Một chút hương thơm trải bốn mùa
Mười năm lăn lội chốn rừng già
Quay về không chịu ơn mưa móc
Đất trắng mưa rồi đất lại khô.
65. Nguyễn Xuân Sanh
Xưa thơ anh viết không người hiểu
“Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”
Nay anh chưa viết người đã hiểu
Sắp sáng thì nghe có tiếng gà.
66. Thâm Tâm
“Người đi, ờ nhỉ, người đi thật”
Đi thật nhưng rồi lại trở về
Nhẹ như hạt bụi, như hơi rượu
Mà đắm hồn người trong tái tê.
67. Nguyễn Huy Thiệp
Không có vua thì làm sao có tướng
Nên về hưu vẫn phải chết tại chiến trường
Kiếm sắc chém bao nhiêu đầu giặc
Để vàng tôi trong lửa chịu đau thương.
68. Phùng Quán
Hồn đã vượt Côn đảo
Thân xác ở trong lao
Bởi nghe lời mẹ dặn
Nên suốt đời lao đao.
69. Tố Hữu
Ta đi tới đỉnh cao muôn trượng
Mắt trông về tám hướng phía trời xa
Chân dép lốp bay vào vũ trụ
Khi trở về ta lại là ta
Từ ấy tim tôi ngừng tiếng hát
Trông về Việt Bắc tít mù mây
Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt
Máu ở chiến trường, hoa ở đây.
70. Dương Thu Hương
Tay em cầm bông bần ly
Bờ cây đỏ thắm làm chi não lòng
Chuyện tình kể trước lúc rạng đông
Hoàng hôn ảo vọng vẫn không tới bờ
Thiên đường thì quá mù mờ
Vĩ nhân tỉnh lẻ vật vờ bóng ma
Hành trình thơ ấu đã qua
Hỡi người hàng xóm còn ta với mình.
71. Hữu Thỉnh
Cùng đoàn quân anh đi tới thành phố
Bị lạc đường về Hội Nhà văn
Ờ nhỉ bao giờ quay trở lại
Với năm anh em trên một chiếc xe tăng.
72. Trần Bạch Đằng(Hưởng Triều, Hiểu Trường, Ng.Trương Thiên Lý)
Ván bài lật ngửa tênh hênh
Con đường thiên lý gập ghềnh mãi thôi
Thay tên đổi họ mấy hồi
Vẫn chưa tới được chân trời mộng mơ
73. Nguyễn Duy
Mẹ và em đang ở đâu
Giữa vùng cát trắng đêm thâu gió lùa
Ổ rơm teo tóp ngày mùa
Xác xơ thân lúa vật vờ thân tôi
Bờ tre kẽo kẹt liên hồi
Bầu trời vuông với một ngôi sao dời
Đánh thức tiềm lực suốt đời
Ai? Chẳng ai đáp lại lời của tôi.
74. Nguyễn Mạnh Tuấn
Anh đã đứng trước biển
Cù lao Chàm kia rồi
Những khoảng cách còn lại
Xa vời lắm anh ơi.
75. Trần Mạnh Hảo
Ôi thằng Trần Mạnh Hảo
Đi phỏng vấn Chí Phèo
Lão chết từ tám hoánh
Đời mày vẫn gieo neo
Còn cái lão Bá Kiến
Đục bản in thơ mày
Bao giờ mày say rượu?
Bao giờ mày ra tay?
76. Hoàng Cầm
Em ơi buồn làm chi
Em không buồn sao được
Quan họ đã vào hợp tác
Đông Hồ gà lợn nuôi chung
Bên kia sông Đuống em trông
Tìm đâu thấy lá diêu bông hỡi chàng.
77. Lê Lựu
Người về đồng cói người ơi
Phía ấy mặt trời mọc lại
Một thời xa vắng, xa rồi
Phủ Khoái xin tương oai oái
Ở đời gặp may hơn khôn
Nào ai dám ghen dám cãi
Người đã đi Mỹ hai lần
Biết rồi, khổ lắm, nói mãi
78. Vũ Quần Phương
Anh đứng thành tro… em có biết
Hôm qua lại gặp chuyến xe bò
Vẫn anh đi trong vầng trăng cũ
Áo đỏ bên cầu đợi ngẩn ngơ.
79. Hữu Loan
Ôi màu tím hoa sim
Nhuốm tím cuộc đời dài đến thế
Cho đến khi tóc bạc da mồi
Chưa làm được nhà
còn bận làm người
Ngoảnh lại ba mươi năm
Tìm mấy nghìn
chiều hoang
biền biệt
80. Lý Văn Sâm
Kòn Trô dấn bước đường chinh chiến
Nửa gánh giang hồ nửa ái ân
Ngàn sau sông Dịch còn tê lạnh
Tráng sĩ có về với bến xuân.
81. Tản Đà
Văn chương thuở ấy như bèo
Thương cụ gồng gánh trèo leo tận trời
Giấc mộng lớn đã bốc hơi
Giấc mộng con suốt một thời bơ vơ
Ước chi cụ sống tới giờ
Chợ trời nhan nhản tha hồ bán văn.
82. Lưu Quang Vũ
Cũng muốn tin ở hoa hồng
Tin vào điều không thể mất
Cả tôi và cả chúng ta
Đứng trong đầm lầy mà hát
Ông không phải là bố tôi
Con chim sâm cầm đã chết
Ông không phải là bố tôi
Con chim sâm cầm ai giết?
83. Hà Minh Tuân
Bốn mươi tuổi mới vào đời
Ăn đòn hội chợ tơi bời xác xơ
Giữa hai trận tuyến ngu ngơ
Trong lòng Hà nội bây giờ ở đâu?
84. Minh Huệ
Vỡ lòng câu thơ viết
Mời bác ngủ bác ơi
Đêm nay bác không ngủ
Nhà thơ ngủ lâu rồi
85. Văn Cao
Thiên thai – từ giã về dương thế
Nhắc chi ngày ấy buồn lòng ta
Sân đình ngất ngưởng ngôi tiên chỉ
Uống rượu say rồi hát quốc ca
86. Ma Văn Kháng
Khi xuôi anh mang theo
Đồng bạc trắng hoa xòe
Với một mối tình sơn cước
Mùa lá rụng trong vườn
Năm này qua năm khác
Đám cưới vẫn không thành
Vì giấy gía thú chửa làm xong
87. Vũ Bão
Sắp cưới bỗng có thằng phá đám
Nên ông chửi bố chúng mày lên
Đàu chày đít thớt đâu còn ngán
Không viết văn thì ông viết phim.
88. Hồ Dzếnh
Biết mấy mươi chiều khói thuốc bay
Quê nhà vẫn lẩn khuất trong mây
Lui về ký ức chân trời cũ
Uống chén rượu buồn không dám say.
89. Hoàng Phủ Ngọc Tường
Trăm năm ông phủ… Ngọc Tường ơi
Cái nợ lên xanh rũ sạch rồi
Cửa Việt tung hoành con sóng vỗ
Sông Hương lặng lẽ chiếc thuyền trôi
Sử thi thành cổ buồn nao dạ
Chuyện mới Đông hà tái nhợt môi
Từ biệt chốn xưa nhiều ánh lửa
Trăm năm ông phủ… Ngọc Tường ơi!
90. Phạm Thị Hoài
Dẫu chín bỏ làm mười
hay mười hai cũng mặc
Chẳng ai dung thiên sứ đất này
Dụ đồng đội vào trong mê lộ
Rồi bỏ đi du hí đến năm ngày.
91. Thanh Thảo
Giặc dã yên rồi
Về xoay khối vuông Ru bích
Đoán vận rủi may
Thưa quý vị, xin mời
Xanh tím trắng đỏ vàng đều rõ hết
Ta cùng vào cuộc chơi.
Không gian bốn năm chiều,
thời gian xin tuỳ thích
Đảo lộn tùng phèo thật gỉa trắng đen
“Tôi như cục xà bông thứ thiệt”
Cứ đổ rượu vào
hình quý vị sẽ hiện lên.
92. Trần Dần
Người người lớp lớp
xông ra trận
Cờ đỏ
mưa sa
suốt dặm dài
Mở đợt phá khẩu
tiến lên
nhất định thắng
Lô cốt mấy tầng
đè nát vai
Dẫu sông núi cỏ cây làm chứng
Hồn vẫn treo trên
Vọng hải đài.
93. Khương Hữu Dựng
Ba lô trên vai từ đêm mười chín
“Một tiếng chim kêu sáng cả rừng”
Thì cứ khắc đi rồi khắc đến
Sao còn ngồi đấy cụ già Khương?
94. Bùi Minh Quốc
Tuổi hai mươi xung phong lên Tây bắc
Nguyện hi sinh chiến đấu dưới cờ
Lại xung phong vào Nam đánh giặc
Với bà mẹ đào hầm đầu bạc phơ phơ
Hoà bình rồi tiến lên đổi mới
Bất ngờ ngã ngựa chốn non cao
Dẫu thân thể mang đầy thương tích
Thì cuộc đời vẫn đẹp sao
Tình yêu vẫn đẹp sao
95. Ý Nhi
Trái tim với nỗi nhớ ai
Như cây trong phố đứng hoài chờ trăng
Như người đàn bà ngồi đan
Sợi dọc thì rối, sợi ngang thì chùng.
96. Yến Lan
Ra đi từ bến My Lăng
Bao năm dấu kín ánh trăng trong lòng
Tuổi già về lại bến sông
Trăng xưa đã lớn, phải chong đèn dầu
97. Phan Thị Thanh Nhàn
Dấu một chùm thơ trong chiếc khăn tay
Em hăm hở đi tìm người trao tặng
Những kẻ phong lưu, những tên du đãng
Mấy ai biết hương thầm của cô gái xóm đê.
98. Trần Đăng Khoa
Chú dế góc sân hồn nhiên ca hát
Hát thành thơ như nước triều lên
Khi khôn lớn lại hồn nhiên đi giữa
“Biển một bên và em một bên”.
99. Hoàng Lại Giang
Người đàn bà một thời tôi ao ước
Trên vành đai Mỹ những năm xưa
Tình yêu đã lụi tàn cùng ký ức
Nhưng còn đây tội lỗi đến bao giờ?
100. Xuân Sách (Tự hoạ)
Cô giáo làng tôi đã chết rồi
Một đêm ra trận đất bom vùi
Xót xa đình Bảng người du kích
Đau đớn Bạch đằng lũ trẻ côi
Đường tới chiến công gân cốt mỏi
Lối vào lửa sởn tóc da mồi
Mặt trời ảm đạm quê hương cũ
Ở một cung đường rách tả tơi.
Nhà xuất bản Văn học
Đám mổ bò
Đám mổ bò
Phạm Lưu Vũ
Đúng
cái xóc thứ tám mươi mốt, lão Sướng choàng tỉnh. Nằm trong xe, lão với
tay vớ sợi dây thừng, giật mũi cho con bò dừng lại rồi trèo xuống khỏi
thùng xe. Lão dắt con bò cùng chiếc xe tới một gốc cây bên kia đường,
cột lại tử tế, đoạn bước sang quán mụ cả Nẫm, hỏi mua gói thuốc lào.
Mặt
trời đã lên nửa con sào, dân làng đi làm đồng hết, tưởng trong quán
không có ai. Té ra có cả mấy người đang ngồi lố nhố trên chiếc phản kê
phía trong quán. Lão Sướng hơi giật mình nhận ra những gương mặt quen
thuộc, vội cất tiếng: “chào các ông ạ”. Người ngồi trong cùng, dựa lưng
vào tường, quay mặt ra phía ngoài là Tưởng – Bí thư. Hai bên là Dần,
Chấn – trưởng, phó công an xã. Chấn còn là cháu họ của lão, gọi lão bằng
chú. Một người ngồi quay lưng ra cửa quán, không cần nhìn mặt, lão
Sướng cũng nhận ra đó là Lý – chủ tịch. Bốn người không ai để ý đến lão.
Hình như họ đang mải đang chơi bài.
Mụ cả Nẫm
đưa cho lão Sướng gói thuốc lào và nhận từ tay lão tờ giấy bạc lẻ, nhàu
nát còn ấm hơi người. Chiếc ti vi treo trong quán vọng ra từng tràng
những tiếng hò reo náo nhiệt. Đang có tường thuật bóng đá của giải ngoại
hạng Anh. Lão Sướng quay người chui ra khỏi quán, bước về phía chiếc
xe, loay hoay mở nút sợi dây thừng. Phía trong quán, chủ tịch Lý vừa
quật một quân bài xuống chiếu, vừa hỏi bí thư Tưởng:
- Thế nào bí thư ? Trận này tôi bắt Ác-se-nan, chấp một trái đấy.
Bí thư Tưởng đang nhìn hút theo con bò của lão Sướng, buột miệng nói:
- Được thôi, thì tôi bắt Chen-xi vậy.
Chủ tịch Lý hỏi tiếp.
-
Nhai gà, vịt mãi cũng chán mồm. Tuần trước đánh cược con chó nhà lão
Cử, anh em được bữa cờ tây ra trò. Trận này bí thư cược gì nào ?
Vẫn mải nhìn con bò cùng lão Sướng đang thong thả rời khỏi tầm mắt, bí thư Tưởng lại buột miệng nói:
- Cược con bò kia của lão Sướng. Chắc không ?
Chủ
tịch Lý ngoái đầu nhìn cái phần mông núng nính của con bò vừa đi khuất,
nuốt nước bọt đánh ực một cái, cũng buột miệng reo lên:
-
Ối Trời! Được con bò ấy mà thịt thì tuyệt hảo. Chắc quá. Nào – bắt tay.
Thằng Dần và thằng Chấn chứng kiến nhé. Phen này có thịt bò ngon chén
rồi.
Trưởng, phó công an xã Dần, Chấn thấy vụ cá
cược có mùi hấp dẫn, lập tức hưởng ứng. Bốn người hỉ hả bắt tay nhau.
Mụ cả Nẫm cũng xen vào:
- Tôi đăng kí toàn bộ bạc nhạc đấy nhé, với lại bốn cái cẳng. Bấy nhiêu làm phở chín cũng bán được cả tuần chứ không ít…
Trưởng công an Dần nhanh nhảu ngắt lời mụ:
- Bạc nhạc thì được. Song bốn cẳng thì mụ đừng có mà nằm mơ. Cái đó để anh em vất vả chúng nó nhậu.
Phó công an Chấn tỏ ra hăng hái:
-
Em xin chịu trách nhiệm về bộ da. Bộ da ấy tha hồ lành lặn, chắc chắn
chất lượng cao. Bọn thuộc da Vĩnh Cửu trên huyện cứ gọi là lác mắt hột.
Cái này bán mới được giá. Năm ngoái ta kiếm được năm bộ cả da trâu lẫn
da bò, mang bán cho họ thành ra quen biết từ đó đến nay, lại học được
chút kiến thức xem da các kiểu.
Bí thư Tưởng gật gù:
-
Lâu lắm không được ăn thịt của giống bò tuyền ăn cỏ. Cái thứ thịt bò
nuôi bằng thức ăn tăng trọng bây giờ ăn như thịt giả. Thịt tái kiểu gì
mà nhợt nhạt, rũ rượi như thịt thằng chết trôi, nước máu chảy ra ều ễu.
Thịt ấy nếu không dai ngoách thì cũng bở như đất vách, ăn tuyệt chẳng
thấy cái mùi gây gây, béo ngậy đặc trưng của bò đâu.
Chủ tịch Lý nịnh khéo:
-
Cả xã đều kính nể kiến thức về bò của bí thư. Đến như mấy anh lãnh đạo
huyện, được nghe cái lý luận phân tích về bò của bí thư còn thèm rỏ rãi
mà bảo: “Loại bò ấy chỉ có ở thời bao cấp, thuở còn hợp tác xã. Chứ thời
này, kiếm đâu ra thứ thịt bò ăn tuyền cỏ ấy mà xơi…”
Bí thư Tưởng được thể, bèn tiếp tục bài giảng:
-
Các ông nên biết, thịt loại bò ăn tuyền cỏ này tươi rất lâu. Cứ móc cả
tảng mà treo lên xà nhà, để đến tận ngày hôm sau, các cơ trong tảng thịt
vẫn còn giật giật, giật giật… Sờ tay vào có cảm giác nó dính dính, hút
hút, mặt thịt đỏ sậm, lóng lánh ánh kim. Phía bên dưới tuyệt không một
giọt nước máu nào nhỏ xuống. Thịt ấy thái mỏng, ngang thớ mà tái thì
tuyệt cú, ăn vừa ngọt vừa giòn, cứ như thể nó tan ra trong miệng. Tảng
càng lớn, tươi càng lâu. Thịt tươi hút nước vào nên vừa khô vừa dính,
đến khi nào tiết nước máu ra là hết tươi. Thịt bò kị nhất cắt vụn, cắt
vụn không tươi lâu. Phải ăn đến đâu, xẻo đến đấy mà thái. Nếu tay chân,
dao thớt cứ sạch khô, không hề dây một giọt máu nào, thì thịt như thế
mới đạt tiêu chuẩn.
Mọi người vừa nghe vừa thèm đến nóng cả mặt. Chủ tịch Lý bái phục:
-
Vậy bất luận ai thắng cược, thì hai quả mông cứ xin nhường nhà bí thư.
Nhà tôi xin tảng vai vậy. Bắp biếc chia cho cánh Công an, Mặt trận. Đầu,
đuôi chia Hội phụ nữ… Riêng bộ lòng đánh chén tại chỗ.
Bí thư Tưởng tỏ ra khiêm tốn:
-
Được cái mông ấy thì nhà tôi chỉ cần một quả cũng thừa mứa ra rồi. Quả
mông kia đem biếu các anh lãnh đạo huyện, các anh ấy cũng rất thèm xơi
loại thịt bò thời bao cấp như thế này. Ăn những thứ thời bao cấp hiện
đang là một cái mốt ẩm thực. vả lại các ông quên là lâu nay ta chẳng
“nói năng” gì, huyện đang có “vấn đề” với ban lãnh đạo xã ta à. Liệu có
“yên” vị mà mơ thịt bò ăn cỏ được mãi không ?
Trưởng công an Dần hớn hở vừa quật đánh đét một quân bài xuống chiếu, vừa nói:
- Nhất trí với ý kiến của cả chủ tịch lẫn bí thư. Vậy xin bí thư cho phương hướng giải quyết, đồng thời quyết định ngày ạ.
Bí thư Tưởng kết luận.
-
Cái ấy giao cho bên công an, dân phòng các anh lo, triển khai ngay ngày
mai càng tốt, không nên hoãn sự sung sướng lại. Nhớ lên kế hoạch thật
chu đáo, phải làm sao cho nhân dân luôn tâm phục, khẩu phục mới được…
Bất ngờ phó công an Chấn lại tỏ ra ngập ngừng:
-
Em thấy có chỗ hơi khó. Trận trước, con chó của lão Cử thì ta vu cho là
chó dại, bắt giết thịt thì được rồi. Nhưng còn con bò này… chả lẽ bảo
nó là bò điên ?
Trưởng công an Dần lập tức ngắt lời:
-
Chú bởi thật thà nên kém sáng kiến. Chú không biết lão Sướng chuyên trị
ngủ trong xe, mặc cho con bò tự kéo về làng hay sao ? Thế thì có khó
gì, bò cũng phải chấp hành luật lệ giao thông chứ… Thôi! Chú vì có họ
với lão Sướng nên việc ấy để anh giải quyết. Cứ làm đúng tinh thần chỉ
đạo của bí thư là được rồi.
Lão Sướng đánh chiếc
xe bò vào tận trong làng, nhà lão ở cuối xóm Con Chó. Làng xóm vắng
tanh vì người lớn ra đồng, trẻ con đi học, chỉ có những ông già, bà lão ở
nhà. Về đến nhà, lão tháo con bò ra khỏi xe, dắt nó ra sau vườn, cột
dưới gốc một cây nhãn, quẳng cho nó một ôm cỏ rồi rửa ráy chân tay, vào
nhà chuẩn bị đánh một giấc ngủ bù đến trưa. Trước khi đi ngủ, lão không
quên kéo một điếu thuốc lào theo thói quen. Sáng nay, lúc ra khỏi chợ
lão mới nhớ ra rằng gói thuốc trong người đã hết, nên mới phải dừng lại
mua ở quán mụ cả Nẫm.
Ngày nào cũng vậy, cứ ba
giờ sáng là lão Sướng thức dậy, đánh chiếc xe bò của mình chở hàng cho
mấy bà thầu rau, quả trong làng lên chợ Huyện bán. Chợ cách làng năm sáu
cây số, chiếc xe phải đi mất gần hai tiếng. Quãng đường đầy những ổ
voi, ổ bò mà lão đã thuộc nằm lòng. Từ làng lên tới chợ có đúng tám mươi
mốt cái ổ voi như thế. Mỗi khi lăn bánh qua, chiếc xe bị quăng bên này,
quật bên kia như muốn hất mọi thứ đang cõng trên lưng xuống đường. Lão
gọi đó là những cái xóc. Tám mươi mốt ổ voi là tám mươi mốt cái xóc. Lúc
đi trời còn tối, gặp những cái xóc ấy lão phải để ý giữ cho hàng hoá
khỏi rơi, miệng nhắc mấy bà hàng rau đi bộ theo phải cẩn thận kẻo bước
hụt. Lúc quay về thì nhẹ nhàng xe không, vả lại trời đã sáng. Lão cứ
việc khoanh tròn trong thùng xe mà thiu thiu ngủ, mặc kệ cho con bò kéo
chiếc xe đi. Lão ngủ trong xe rất tài, ngủ mà vẫn không quên, vẫn đếm
được chính xác từng cái xóc trong giấc mơ màng. Tới đúng cái xóc thứ tám
mươi mốt là lão tỉnh dậy, nắm sợi dây thừng vắt vắt cho con bò rẽ vào
trong làng. Trăm ngày như một, không bao giờ lão ngủ quên trong xe. Con
bò và chiếc xe là nguồn sống chính của nhà lão gồm bà vợ già, mắt mũi
kèm nhèm và hai đứa con dâu dở người đã mấy chục năm nay, suốt ngày thờ
thẫn, lúc lên cơn thì xé quần xé áo, lăn lộn cả ra vườn. Chồng chúng nó
chết trong chiến tranh, một thằng được công nhận liệt sĩ. Chính nhờ món
tiền tuất liệt sĩ ấy của nó mà lão sắm được con bò, sắm từ hồi nó còn là
một con bê mới đẻ. Một thằng bị ngưới ta làm thất lạc giấy tờ thành ra
mất trắng, chả có danh hiệu với tiêu chuẩn tiêu chiếc gì.
Lão
Sướng chưa kịp đi ngủ thì có tiếng gọi to tướng của một anh dân phòng
ngoài ngõ, mời lão lên ngay trụ sở dân phòng của xóm để làm việc. Lão
Sướng giật thót người. Có việc gì mà phải lên trụ sở dân phòng? Xưa nay
nhà lão ăn ở tử tế, chẳng phiền hà đến ai. Hai đứa con dâu dở hơi chỉ
suốt ngày tự nhăn nhở với nhau quanh vườn, rủ nhau điên những cái điên
hiền lành như bùn đất. Cả con bò cũng được lão đích thân chăn dắt, không
để phá lúa hay hoa màu của nhà nào. Càng nghĩ không ra, lão Sướng càng
sốt ruột, đành vội vã chạy tới trụ sở dân phòng.
Trụ
sở dân phòng trấn ngay đầu xóm. Đó là một căn phòng ba mét nhân ba mét
trơ trọi, đội mái tôn nhọn hoắt như cái chóp nón. Đẳng – trưởng xóm đang
ngồi sau một cái bàn gỗ bọc phoọc – mi – ca trắng lở lói, hai bên là
hai anh dân phòng mặt non choẹt, ngồi im như pho tượng. Trưởng xóm một
tay giở quyển sổ, tay kia lăm lăm chiếc máy tính nhỏ, bảo lão Sướng:
- Tôi mời ông đến nộp bổ sung phí giao thông đường làng. Nhà ông còn mấy suất chưa đóng.
Lão Sướng giật nẩy người, ngớ ra.
- Tôi đã đóng đầy đủ cả quý rồi kia mà. Bây giờ mới đầu tháng tư?
Trưởng xóm ôn tồn giải thích:
-
Xã mới có điều chỉnh, không như những năm trước chỉ thu theo đầu người.
Từ năm nay, phí giao thông áp dụng cả với vật nuôi và phương tiện cho
công bằng, có danh mục đóng dấu đỏ kèm theo đây. Con bò nhà ông bốn
chân, thu bằng hai suất người. Chiếc xe cũng hai suất, tổng cộng tám
suất. Mỗi suất cân rưỡi thóc một tháng, trừ số đã đóng theo cách tính
như mọi năm, vị chi là…
- Các anh biết thừa đấy,
hai đứa con dâu dở người nhà tôi có bao giờ thò mặt ra đường đâu. Thế
mà cũng phải đóng phí giao thông. – Lão Sướng nhăn nhó.
- Mặc kệ, ai bảo các bà ấy cũng là người. – Trưởng xóm lý luận.
Như chợt nhớ ra điều gì, lão Sướng vội vàng thắc mắc:
- Còn con bò, tôi tưởng phí giao thông đã tính trong thuế đồng rồi cơ mà?
-
Thuế đồng thực ra mới chỉ tính trên số diện tích cỏ nó gặm hàng năm. –
Trưởng xóm kiên trì giải thích – Nuôi bò, nuôi trâu kể từ năm nay còn
phải đóng phí môi trường, bởi nó hay ỉa rơi vãi trên đường. Phí môi
trường của bò mười lăm cân thóc một năm.
- Nó ỉa đến đâu, tôi nhặt đến đấy. Chứ có khiến ai phải ngửi hộ đâu. – lão Sướng cố cãi.
-
Đề nghị ông ăn nói cho cẩn thận. – Trưởng xóm nhắc nhở rồi tiếp tục mớ
lý luận của mình – Lấy gì đảm bảo rằng ông nhặt sạch trăm phần trăm,
không sót lại mẩu phân nào trên đường? Thế còn nó đái rong thì sao? Dễ
thường ông cũng hứng được chắc.
Lão Sướng hết cách cãi, đành lần túi móc ra một nắm giấy bạc lẻ, vừa đưa cho trưởng xóm, vừa năn nỉ:
- Tôi chỉ còn ngần này, chắc chưa đủ. Còn thiếu bao nhiêu, các anh thư cho đến chiều, để tôi hỏi vay trước mấy bà hàng rau.
- Được thôi! – Trưởng xóm dễ dãi – nhưng ông nhớ tự giác đấy, đừng để chúng tôi phải gọi.
Từ
trụ sở dân phòng ra về, trong lòng lão Sướng cứ có cái gì tức anh ách.
Lão chẳng lạ gì cả tam đại nhà cái thằng Đẳng – trưởng xóm kia. Nó ngày
bé cũng là thằng ăn cắp ăn trộm, học hành dốt đặc cán mai, sở dĩ được
làm trưởng xóm là nhờ trên người ta tưởng nhớ đến bố nó. Bố nó còn ít
hơn lão mấy tuổi, ngày trước cũng làm chức trưởng xóm trưởng thôn gì
đấy. Bỗng một hôm, dân làng phát hiện bố nó treo cổ tự tử ở ngay cây đa
đầu làng. Chẳng ai hiểu vì cái gì mà khiến lão phải quyên sinh. Lục
trong túi lão, người ta chỉ thấy một mẩu giấy nhỏ ghi vỏn vẹn năm chữ
với một cái dấu ba chấm: “Vì nhân dân quên mình…”. Lá thư tuyệt mệnh
ngắn ngủi ấy của lão ta làm cho mọi người nhức đầu, nghĩ mãi không ra.
Ai cần lão phải quên mình theo kiểu ấy cơ chứ. Về sau, dân làng rỉ tai
nhau truyền đi một cách giải thích khác xem ra cũng có lý. Té ra trước
đó, lão ta ứng cử hội đồng nhân dân xã nhưng bị trượt, dân quên không
bầu lão…
Lão Sướng vừa về đến nhà thì bà Cổn ở xóm Con Lợn tìm đến có việc. Bà bảo:
- Biết bác ngày nào cũng lên chợ Huyện, tôi sang gửi bác ngày mai mua hộ mấy cái nón rộng vành về đội ban đêm.
Lão Sướng tròn mắt ngạc nhiên:
- Sao lại phải đội nón ban đêm, sợ phải gió à ?
Bà Cổn chép miệng:
- Nào ai sợ phải gió phải giếc gì. Ma quỷ còn chả sợ nữa là.
- Thế thì đội nón làm gì? – Lão Sướng rõ ràng chưa hiểu.
Bà Cổn nhả miếng trầu ra cầm trên tay, thong thả giải thích:
-
Chả là dạo này, tối tối các ông ấy hay tụ tập chè chén trong nhà mụ Goá
Len ở xóm Con Mèo. Mấy lần rồi, chẳng hiểu say xỉn đến mức nào mà lúc
về ngang ngõ nhà tôi, các ông ấy phát rồ rủ nhau trèo lên cây nhãn nhà
lão Trạch, mỗi ông leo ra một chạc cây rồi ỉa đái đầy cả xuống đường, có
tay còn nôn thốc, nôn tháo nữa. Bà cháu tôi đi về qua bị dây hết cả
quần áo. Xóm Gà, xóm Vịt cũng có mấy người từng bị cứt rơi xuống đầu như
thế. Thành ra bây giờ, ban đêm có việc ra đường ai cũng phải đội nón.
Nào ai biết các ông ấy đang phát rồ trên cái cây nào để mà đề phòng…
- Thế sao lúc ấy bà không mắng cho họ một trận – lão Sướng bảo.
Bà Cổn nhìn lão như nhìn một người ngoài hành tinh:
-
Bác biết họ là ai rồi mà còn dám nói thế à. Tức mấy cũng phải ngậm
trong miệng. Lôi thôi họ nhân đà say, sai người bắt giải về uỷ ban thì
có mà khốn. Nói thế thôi, chứ chẳng ai lại đi chấp những người say làm
gì.
Thì ra là vậy. Lão Sướng biết ngay việc này
đầu têu ở cái anh bí thư Tưởng. Lão biết anh ta từ hồi còn nhỏ, hắn có
thói quen hay ỉa trên cây, rất mê ỉa trên cây. Nhà anh ta có cây sung lả
ra bờ ao, cả nhà quanh năm trèo lên cây sung ấy ỉa xuống ao để nuôi cá.
Sau này lớn lên, anh ta ra gánh vác việc làng, việc xã, thói quen ấy
dần dần không còn. Song con người ta không biết thế nào mà nói trước
được. Nhất là những lúc say xỉn, không làm chủ được ý nghĩ của mình nữa
thì cái bản năng xưa nó lại trỗi dậy chưa biết chừng. Còn những tay kia,
chắc là a dua, nịnh nọt anh bí thư cho có hội, có phường vậy thôi.
Bà
Cổn về lâu rồi mà lão Sướng cứ suy nghĩ vẩn vả mãi về cái vụ dân làng
phải đội nón đi đêm kia. Liên hệ với việc phải đóng phí môi trường của
con bò, trong đầu lão chợt bật lên một ý nghĩ phản kháng ngầm rất chi
là… hả lòng hả dạ. Rằng cứ theo như ý nghĩa của cái phí môi trường kia,
thì đáng lẽ bọn họ phải đóng mỗi người bằng ba bốn suất con bò nhà lão…
Song đó chỉ là ý nghĩ thôi, thế cũng đủ hả lắm rồi, đố bao giờ lão dám
nói ra mồm.
Lão Sướng ngủ bù một giấc đến giữa
trưa thì thức dậy, cùng vợ con ăn qua loa mấy bát cơm dưa mắm rồi dắt bò
ra cánh đồng chăn, vừa chăn, lão vừa tranh thủ cắt ít cỏ, hoặc vơ lá
lảu về cho con bò ăn đêm. Không như những dân chuyên nuôi bò thịt, lão
tuyệt đối không cho con bò của mình ăn thức ăn tăng trọng. Thứ ấy tuy có
làm cho nó béo tốt, tăng cân. Nhưng chỉ là béo bệu, rất mau xuống sức,
và nhất là không thể kéo nặng được. Chiều về, lão không quên tắm rửa, kì
cọ cho toàn thân nó sạch óng dưới ráng chiều. Lão chăm chút cho con bò
còn hơn cả bản thân lão. Những ngày mùa đông tháng giá, không đun nước
tắm cho nó được thì lão tắm khan. Lão cẩn thận dùng bàn chải, chải kĩ
từng xăng ti mét vuông mình mẩy xuống đến tận bốn chân con bò, không để
một mẩu bùn đất hoặc một con ve nhỏ bé nào bám vào. Được chăm sóc kĩ
càng như thế, con bò của lão lúc nào cũng khoẻ mạnh, béo mượt. Ai trông
thấy nó cũng thích mắt, thèm thuồng.
Lão Sướng
là người chỉ sướng ở mỗi cái tên. Đời lão đã gặp nhiều mất mát, nhất là
mất đứt cả hai thằng con trai, đến nỗi vợ lão khóc lòa cả hai mắt. Hai
đứa con dâu trời xui đất khiến thế nào, lại nhất tề rủ nhau cùng dở
người để lão phải nuôi báo cô. May mà lão sắm được cỗ xe với con bò, lại
có việc quanh năm thành ra ngày cũng kiếm được vài cân gạo, đủ cho bốn
kiếp người với một kiếp bò đắp đổi lần hồi. Cuộc đời nhờ vào những cái
tẻ nhạt đâm ra lại có vẻ yên bình, mặc dù sự mất mát đã biến thành những
vết sẹo to lớn biết đi. Lão chẳng còn cái thú nào khác ngoài việc sáng
nào cũng thiu thiu đếm những cái xóc trong giấc mơ từ chợ Huyện về làng.
Một… Hai… Ba… Bốn… Năm… Tám mươi mốt cái lúc đi, lại tám mươi mốt cái
lúc về… Cứ như thể trời đã khoán sẵn những cái xóc ấy cho số phận của
lão. Mỗi lần chiếc xe lắc qua lắc lại, mài người lão mấy cái xuống sàn,
chiếc máy đếm đâu đó trong đầu lão lại ghi nhớ cái số đếm ấy vào một
giấc mơ nhẹ nhàng, tới đúng số tám mươi mốt là về đến làng…
Có
tiếng người quát tháo dưới đường làm lão Sướng giật mình, ra khỏi cơn
mơ màng. Chiếc xe và con bò của lão đã đột ngột dừng lại, điều chưa từng
xảy ra bao giờ. Lão ngủ quên chăng ? Không thể nào. Giấc mơ vừa rồi
nhắc cho lão biết chắc chắn rằng vừa mới qua cái xóc thứ sáu mươi, còn
hai mươi mốt cái xóc nữa mới về đến làng. Có chuyện gì vừa xảy ra. Lão
vội vàng mắt nhắm mắt mở, lập cập trèo xuống khỏi thùng xe.
Sáu
bảy người toàn công an, dân phòng đang quây quanh chiếc xe và con bò
như vừa đội đất chui lên, dẫn đầu là Dần – trưởng công an xã.
-
Con bò của ông vi phạm luật lệ giao thông, gây tai nạn nghiêm trọng. –
Trưởng công an Dần vừa dõng dạc nói với lão Sướng, vừa chỉ tay sang phía
vệ đường, rồi lại chỉ vào gầm chiếc xe.
Lão
Sướng nhìn theo cánh tay chỉ của trưởng công an xã. Bấy giờ lão mới
hoảng hồn khi thấy một người đang nằm thu lu, hai tay ôm đầu, cố rặn ra
mấy tiếng rống như bò rống. Con bò thì vẫn im lặng, ngơ ngác không hiểu
những con người hiện hữu đây đang làm cái trò gì. Sau lưng nó, một chiếc
xe máy Trung Quốc nằm chắn ngang, vừa vặn chạm hai bánh của nó vào hai
bánh của cỗ xe bò, khéo như có người khiêng đặt vào vậy.
Có
cái gì không bình thường ở cái gã đang nằm rống bên vệ đường kia. Chẳng
biết nó là con cái nhà ai? Lão Sướng tiến tới chỗ gã, định cúi xuống
nâng nó dậy. Ngay lập tức, một bàn tay túm vai lão kéo lại:
- Yêu cầu ông không được động đến nạn nhân. Đây không phải việc của ông – tiếng một công an viên.
Lão Sướng còn chưa kịp có phản ứng gì thì trưởng công an Dần đã nhanh nhẹn phân công:
-
Tính mạng nhân dân là quan trọng. Hai đồng chí khẩn trương chở nạn nhân
đi trạm xá cấp cứu. Một đồng chí đo đạc, đánh dấu hiện trường. Còn lại
theo tôi áp tải chủ xe cùng tang vật về trụ sở uỷ ban để giải quyết.
Cả
người, xe và con bò cùng bị dong về trụ sở uỷ ban. Lão Sướng bị tống
vào một căn phòng cuối dãy nhà ngang, có một công an viên ngồi canh
ngoài cửa, chờ lập biên bản, khám nghiệm hiện trường. Hồi lâu sau,
trưởng công an Dần cho dẫn lão lên, đặt trước mặt lão một xấp biên bản
đã thảo sẵn. Trưởng công an xã vừa đọc, vừa giải thích vào tai lão:
-
Theo kết quả khám nghiệm hiện trường, con bò của ông lưu thông lấn sang
phần đường dành cho chiều ngược lại. Theo luật, ông bị phạt hai trăm
ngàn đồng, giữ phương tiện (cả con bò và chiếc xe) hai mươi ngày. Đề
nghị ông kí vào biên bản thay cho con bò.
Sự
việc đã hai năm rõ mười. Lão Sướng có muốn cãi cũng không được, đành cầm
bút nguệch ngoạc vào tờ biên bản, mặt mũi tái xanh như tàu lá. Trưởng
công an xã chờ cho lão kí xong xuôi, mới nói tiếp:
-
Riêng vụ tai nạn gây ra cho người và chiếc xe kia, chúng tôi còn chờ
kết quả giám định phương tiện, xác minh thương tật thì mới tính toán
được mức bồi thường. Vì vậy chúng tôi buộc phải giữ ông lại uỷ ban để
chờ giải quyết.
Lão Sướng nghe đến đó thì hoảng
lạnh cả sống lưng. Bấy giờ lý trí của lão mới có vẻ dần dần được khôi
phục. Lão cất giọng xin xỏ:
- Xin các ông chiếu cố hoàn cảnh tôi là gia đình liệt sĩ…
-
Tôi biết, tôi biết! – Trưởng công an xã vội ngắt lời – Chính vì thế
trong biên bản không ghi ông là người vi phạm luật giao thông, cũng
không ghi ông là người gây ra tai nạn, mà tất cả là do con bò. Thậm chí
lúc tai nạn xảy ra, ông còn đang ngủ khì nữa kìa. Có điều ông là chủ của
con bò thì phải bồi thường thay cho nó là lẽ đương nhiên. Chúng tôi
giải quyết bất cứ việc gì cũng nghĩ đến tình trước, lý sau…
Lão
Sướng nhìn con bò đang bị buộc dưới trời nắng chang chang mà đứt từng
khúc ruột. Khuôn mặt già nua, đầy nếp nhăn của lão ràn rụa nước mắt. Đến
trưa thì bà vợ lòa của lão được báo đã mang cỏ lên cho con bò, mang cả
cơm cho lão. Lão cố trệu trạo nhai, cố nghèn nghẹn nuốt những miếng cơm
trộn lẫn nước mắt, nhơn nhớt như được chan bằng canh rau đay, rau mồng
tơi.
Quá trưa thì Chấn – phó công an xã mò tới.
Lão Sướng mừng rỡ như bắt được vàng, đầu lão loé lên một tia hy vọng.
Lão vội vã thều thào:
- Cháu xem có cách nào cứu con bò, cứu chú với Chấn ơi !
Phó công an Chấn cố làm ra vẻ thiểu não, ngồi xuống bên lão bảo:
-
Gay lắm chú ạ. Con bò lưu thông trái đường, phạt hai trăm thì chịu rồi,
giữ hai mươi ngày thì cháu có thể xin giảm bớt được. Song còn cái vụ
bồi thường kia, nghe nói bị gãy hai dẻ xương sườn. Chưa biết họ đòi bao
nhiêu.
Khoảng giữa buổi chiều, trưởng công an Dần lại cho dẫn lão lên. Dần thông báo luôn:
-
Báo để ông mừng. Tai nạn không gây nguy hiểm đến tính mạng. Nạn nhân
chỉ bị gãy hai dẻ xương sườn. Chiếc xe cũng đã có kết quả giám định hư
hỏng. Đây là yêu cầu bồi thường của người bị hại, công an chúng tôi để
hai bên tự giải quyết với nhau. Nếu phía bên kia đồng ý bãi nại, chúng
tôi sẽ cho ông về.
Lão Sướng ù cả tai khi nghe
đến số tiền phải bồi thường. Năm triệu cho tiền thuốc men, bốn triệu sửa
chữa chiếc xe máy Trung Quốc. Cộng cả tiền phạt là chín triệu hai. Đời
lão chưa bao giờ có món tiền to đến thế, gần bằng ba con bò… Lão luống
cuống đến mức lăn đùng ra khỏi ghế, chẳng biết phải trả lời thế nào.
Trưởng công an xã hất hàm, hai công an viên phải túm lão dậy, dìu xuống
căn phòng lúc nãy để lão nằm mà nghĩ cho bình tĩnh.
Xâm xẩm tối, phó công an Chấn đến dúi vào tay lão cái bánh bao rồi bảo:
-
Cháu năn nỉ mãi, họ mới đồng ý không đòi tiền tiếc gì cả, chỉ phải đền
con bò cho họ là xong xuôi chú ạ. Thôi thì cũng là cái vận cái hạn, đó
là cái giá rẻ nhất, ngoài ra không còn cách nào khác. Chú cứ suy nghĩ
đi. Nếu chịu mất con bò thì lập tức cháu bảo họ thả chú về nhà…
Mất
con bò ? Lão Sướng chưa bao giờ dám nghĩ đến điều đó. Mất con bò là mất
đứt nguồn sống duy nhất của cả nhà lão. Vợ chồng già và hai đứa báo cô
kia chỉ còn cách dắt nhau lên chợ Huyện ăn xin. Lão đau quá, ân hận quá.
Giá lão đừng có cái thú mơ màng đếm những cái xóc kia, mà điều khiển
con bò cho cẩn thận. Từ nay, dù có muốn lão cũng không còn cơ hội được
đếm những cái xóc ấy trong giấc mơ nữa rồi. Bò ơi! Con trai ơi! cha có
lỗi với các con, có lỗi với số phận của cha, của cả ba người đàn bà đang
sống kiếp đời thừa kia… Bây giờ còn biết làm thế nào ? Lão chợt nhớ hôm
nọ ở chợ, có một bà già trỏ lão mà bảo: “ông năm nay cẩn thận kẻo gặp
phải hạn to…”. Đời lão chẳng bao giờ tin vào sự bói toán, huống chi năm
nay lão đã ngoài bẩy mươi, các cụ ngày trước bảo đó là cái tuổi hết
trạch, quỷ thần đã tha rồi, còn phải kiêng kị gì nữa. Rốt cuộc lão vẫn
gặp hạn ở cái xóc thứ sáu mươi…
Sáng sớm hôm
sau, khi phó công an Chấn mở cửa phòng thì lão Sướng đã rũ ra như một
tấm giẻ rách, khuôn mặt nhăn nhúm đen sạm lại, ngô nghê y hệt hai đứa
con dâu lão lúc lên cơn. Biện pháp giữ người quả nhiên có tác dụng. Phó
công an Chấn vồn vã:
- Chú đồng ý rồi chứ ? Vậy chú điểm chỉ vào tờ giấy này, rồi cháu bảo họ đưa chú về nhà.
Lão
Sướng có còn con đường nào để mà chọn nữa đâu. Vả lại, lý trí của lão
đã kịp chia tay với lão từ đêm hôm qua rồi. Một con bò, chứ mười con bò
đối với lão bây giờ cũng thế. Sân uỷ ban hôm nay nhộn nhịp khác thường.
Chính quyền, các ban ngành, đoàn thể… tề tựu không sót một ai. Tiếng
trưởng công an Dần oang oang gọi người này, quát người kia, phân công
công việc túi bụi. Bản thông báo về vụ tai nạn có kí tên, đóng dấu của
trưởng công an xã dán la liệt khắp nơi. Con bò của lão Sướng đã được dắt
ra cột ở giữa sân. Trước mặt nó là một chiếc búa tạ và một cái chậu to
tổ bố. Có mấy người cởi trần trùng trục, bắp thịt cuồn cuộn đang huơ lên
những con dao bầu sáng loáng.
Lão Sướng như
người mộng du bước qua chỗ con bò. Nó bị bỏ đói suốt đêm qua, giờ đang
cố rống lên những tiếng rống cuối cùng, những tiếng rống âm u đã bắt đầu
nhuốm mùi tanh tanh của địa ngục. Lão cụp mắt, không dám nhìn thẳng vào
nó nữa. Cứ như thế, lão lầm lũi bước đi, hai bên là hai anh dân phòng
có nhiệm vụ hộ vệ lão về đến tận nhà. Đang đi, chợt nghe phía sau có một
tiếng “bộp” khô khốc, ngay sau đó là một cái gì vừa đổ vật xuống. Tiếng
rống đã im bặt. Đất dưới chân như bị rung lên, tiếng “bộp” kia vừa
giáng vào gáy con bò, hay là giáng vào gáy lão. Lão Sướng tối sầm mắt
lại, giơ hai tay lên trời rồi lảo đảo khuỵu xuống. Sau lưng lão, sân uỷ
ban tưng bừng không khí đình đám, bấy giờ mới thực sự diễn ra một đám mổ
bò.
Đám mổ bò hôm ấy náo nhiệt đến tận trưa.
Sau khi chia phần đâu đấy, bộ lòng bò vĩ đại được chế biến tại chỗ cho
những người lâu nay vất vả vì việc dân, việc xã liên hoan chè chén với
nhau suốt cả buổi chiều, lại còn say sưa ca hát đến tận nửa đêm…
Mờ
sáng hôm sau, trên con đường quen thuộc từ làng lên chợ Huyện, người ta
thấy có bốn bóng người lầm lũi dắt nhau đi. Không ai khác, chính là lão
Sướng, bà vợ lòa và hai đứa con dâu dở hơi. Bốn người cùng túm vào một
đoạn dây thừng do lão Sướng nắm một đầu dây. Lão dẫn họ lên chợ để đổi
sang kiếp ăn xin. Nhưng lão còn phải đếm lại một lần cuối cùng, không
phải trong giấc mơ, lần lượt tám mươi mốt cái xóc này nữa, thì mới tới
được cái đích ăn xin của kiếp mình, kiếp vợ lão, và hai đứa con dâu báo
cô của lão…
2005
P. L. V.
Hậu sự của ngôi biệt thự
Hậu sự của ngôi biệt thự
Minh Diện

Quá giờ động quan mấy phút, tang chủ vẫn chưa cắt người bưng bát nhang và di ảnh, Trưởng ban tang lễ đành kéo hai thanh niên vào làm việc đó.
Có tiếng lao xao phản đối:
- Sao lại làm thế?
- Con cháu đâu mả để người ngoài bưng bắt nhang?
- Thằng Hoàng, thằng Thắng đâu?
Tiếng nhạc đồng loạt tấu lên át tiếng xôn xao. Người nhà đòn hấp tấp khiêng linh cữu người quá cố đặt lên xe tang. Đúng lúc đó, Hoàng và Thắng, hai đứa cháu nội người quá cố từ phòng trong bước ra, đầu không đội khăn tang, mặt câng câng, ngực ưỡn ra như thách thức. Hai đứa bước thẳng ra đường không thèm ngoái lại nhìn quan tài ông nội.
Người nằm trong quan tài ấy là ông Bộ, sau gần hai năm bị tai biến, ra đi ở tuổi 93. Ông là một cán bộ lão thành, 70 tuổi đảng, chức vụ lúc nghỉ hưu ngang bộ trưởng, nên tang lễ ông được cơ quan tổ chức rất trang nghiêm. Chỉ có điều không có người bưng bát nhang.
Ông Bộ có hai người con trai, hai người con gái,đều có bằng cấp và là cán bộ đảng viên, có vai vế trong xã hội, cháu nội, cháu ngoại đông đúc, du học nước ngoài đàng hoàng. Vợ ông từng là bí thư đảng ủy một trường đại học, hiện đang sở hữu căn hộ sang trọng ở Phú Mỹ Hưng. Nói chung gia đình ông thuộc loại quyền cao chức trọng, giàu sang phú quý. Không hiểu tại sao đám tang ông lại để xảy ra lủng củng như vậy?
Là người đồng hương với ông Bộ có mặt trong đám tang, tôi cảm thấy rất buồn. Trên đường từ Nghĩa trang thành phố về, tôi tò mò hỏi anh Thao, đại diện Hội đồng hương trong ban tang lễ, anh Thao chép miệng bảo:
- Vàng! Cũng do vàng mà ra cả!
Rồi anh Thao kể cho tôi nghe chuyện tranh giành vàng trong gia đình ông Bộ.
Ông Bộ sinh năm 1920, tham gia cách mạng từ năm 17 tuổi. Sau cách mạng tháng Tám, ông hoạt động trong lĩnh vực kinh tài của đảng. Ông vào Nam từ năm 1970, và năm 1975, cầm đầu một cơ quan vào tiếp quản Sài Gòn.
Cơ quan ông được giao một ngôi biệt thự ở đường Tú Xương để đặt trụ sở làm việc. Ngôi biệt thự nằm ở vị trí đắc địa, kiến trúc hiện đại, tiện nghi sang trọng, trong khuôn viên ba ngàn mét vuông, kín cổng cao tường cây xanh bóng mát, là trụ sở công ty của một tư sản mại bản, một “ông vua” trong ngành công nghiệp thực phẩm chế độ cũ, đi di tản để lại.
Với lý do ngôi biệt thự quá rộng, cơ quan sử dụng không hết, ông Bộ bố trí cho vợ con mình chuyển từ Hà Nội vào ở ba bốn phòng. Ông bảo làm như vậy để tiết kiệm cho nhà nước, cơ quan khỏi phải thuê nhà cho gia đình ông ở.
Nhưng chả bao lâu, thì mọi người hiểu ra thủ đoạn của vị lão thành cách mạng! Ông Bộ chuyển cơ quan đi nơi khác, dành toàn bộ ngôi biệt thự cho gia đình ông. Là thủ trưởng một cơ quan kinh tài, quan hệ rộng, uy tín cao, ông lảm việc ấy dễ như trở bàn tay, bố bảo thằng nào dám ho he thắc mắc!
Gia đình ông Bộ chiếm ngôi biệt thự, nhưng trên danh nghĩa, núp bóng “ở nhà Nhà nước”. Ngôi biệt thự ấy do Sở nhà đất quản lý. Tiền thuê nhà do cơ quan ông Bộ trả. Tiền điện, tiền nước, thậm chí tiền đổ rác cũng do cơ quan chịu. Hỏng chỗ nào Sở nhà đất phải lên kế hoạch, bỏ tiền sửa chữa. Rất đều đặn, cứ sáu tháng một lần, cơ quan quản lý lại tổ chức một đoàn kiểm kê tài sản. Từ cái vại muối dưa sứt mẻ trong bếp, cái ghế đá gãy chân ngoài gốc cây, đến chiếc đàn Piano bóng lộn trong phòng khách, kiểm kê tuốt. Từ ngôi biệt thự đến các loại tài sản ấy là của Nhà nước cả đấy! Mỗi loại đều có danh mục đàng hoàng trong sổ sách, và có một mảnh giấy bằng hai ngón tay, ghi ngày tháng kiểm kê, đánh giá tỷ lệ phần trăm còn lại, đại diện đảng, chính, công, thanh cùng ký tên vả đóng dấu đỏ choét dán vào. Lãng phí không biết bao nhiêu là tiền bạc công sức cho cái chính sách bao cấp kiểu đười ươi giữ ống nứa !
Rồi cũng như nhiều khác, ông Bộ được mua hóa gíá ngôi biệt thự. Nói mua cho có vẻ sòng phẳng, thực ra chẳng khác gì biếu không. Cái gọi là giá của Nhà nước, thực chất là của các vị chức quyền đề ra để “hóa” cho nhau, hóa công thành tư!. Giá rẻ hơn bèo, lại bớt đầu, bớt đuôi, trừ ngược trừ xuôi theo tiêu chuẩn, chế độ gần hết.
Ông Bộ được ưu tiên lão thành cách mạng này, thâm niên tuổi đảng này, cán bộ cao cấp này... Nên ngôi biệt thự và khuôn viên đất gần ba ngàn mét vuông, chỉ phải trả số tiền tương đương 50 lượng vàng. Số tiền ấy lại được ghi nợ, khi thanh toán đã mất giá nhiều lần. Rốt cục, ngôi biệt thự giá thị trường hàng ngàn lạng vàng, ông Bộ chỉ mất ba chục lạng.
Người chủ cũ, di cư từ Bắc vảo năm 1954, phải mất 18 năm làm ăn mới xây được ngôi biệt thự ấy. Còn Đỗ Cao Trí, một viên tướng mà báo chí chúng ta không tiếc lời bêu xấu là giàu ngất trong hàng ngũ tướng tá Quân lực Việt Nam cộng hòa nhờ tham nhũng và buôn lậu ma túy, thì chỉ có một ngôi biệt thự 200 m2 ở cư xá Bắc Hải.
Trong “ Tuyên ngôn cộng sản” ngày 21-2-1848 có đoạn: “Trong cuộc cách mạng ấy, những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ. Họ sẽ giành được cả thế giới!”
Ông Bộ tham gia cách mạng năm 17 tuổi với hai bàn tay trắng. Sau giải phóng miền Nam ông được hàng ngàn lạng vàng. Ông không mất gỉ, nhưng nhân dân ta đổ quá nhiều xương máu, hàng triệu người dân vẫn không có đất dể sinh sống, khó khăn về nhà ở...
Cũng như nhiều người khác, ông Bộ không nghĩ tới điều đó. Ông rất chóng quên lúc hàn vi, ngoảnh mặt làm ngơ trước những người từng cưu mang mình. Ngôi biệt thự kín cổng cao tường không bao giờ tiếp những người nghèo.
Hình như có một sự báo ứng nhãn tiền. Gia đình ông không mấy khi yên ả, mà sóng gió luôn nổi lên, bốn người con đều rắc rối chuyện hôn nhân.
Người con gái đầu tên là Hiền sinh năm 1950, phó tiến sỹ kinh tế, chồng là đại tá quân đội. Hai người có hai đứa con, một trai một gái, và đã có cháu nội, cháu ngoại. Thế mà khi bà Hiền sang cộng hòa Séc công tác một năm tằng tịu ngay với một chàng trai kém mình mười hai tuổi, làm um sùm, phải ly hôn ông đại tá. Người con trai thứ hai tên Vinh, sinh năm 1952, lấy người vợ đầu sinh được một con trai. Năm 1980, Vinh sang Liên Xô học, ở lại làm luận án tiến sĩ, yêu một người cùng nhóm, đã có chồng con. Cuộc đánh ghen xuyên quốc gia nháo nhào, kết quả Vinh bỏ vợ, ả kia bỏ chồng lấy nhau, sinh được đứa con gái thì mắc bệnh suy thận. Người con gái thứ ba tên Hà, sinh năm 1957, là nhà giáo lấy chồng cũng là nhà giáo, sinh được một con gái, thì ly dị. Bà Hà lấy người khác sinh thêm một đứa con trai, chồng ngoại tình, lại bỏ kiếm chồng khác. Người con trai út tên Quang, sinh năm 1960, theo ngành công an, đã lên tới trung tá nhưng bỏ, ra làm kinh tế, đời vợ trước cũng là một sỹ quan công an, sinh được một con trai, đời vợ sau là một ca sĩ phòng trà ăn diện ngất ngưởng, bồ bịch khó đếm..
Các con cháu ông Bộ bám riết lấy ông. Dù có vợ, có chồng, có con, có cháu, nhà cửa khang trang, họ vẫn nhập hộ khẩu với ông, vẫn ở chung ngôi biệt thự Tú Xương. Hai người con dâu đã ly dị chồng cũng dứt khoát không cắt hộ khẩu và không rời khỏi căn phòng cũ. Tuy không lấy chồng khác, nhưng thình thoảng lại dẫn bồ bịch về ăn ở với nhau công khai trêu ngươi ông bà Bộ.
Khi ông Bộ còn đương chức đương quyền, bổng lộc đến ngôi biệt thự Tú Xương như nước chảy chỗ trũng. Những ngày lễ tết, rượu ngoại người ta biếu xếp chật hầm rượu, phong bao không đếm xuể. Khách khứa toàn cỡ tai to mặt lớn, quyền hành trong tay, ra vào nườm nượp. Chỉ cần ngồi cạnh bố tiếp khách, mở lời một câu, nâng bi người này, phạt góc kẻ kia, xin cho người này vào chỗ này, người khác vào chỗ kia, rồi học hành, thi cử, đề bạt, đặc biệt moi các dự án, quy hoạch... là kiếm chác hàng xấp đô la. Thực tình nhiều khi ông Bộ không biết những trò ma giáo ấy, nhưng nếu biết ông cũng lơ đi, hoặc bất quá cũng nói vài lời làm phép.
Tiền bạc đến dễ bao nhiêu thì nó cũng ra đi nhanh bấy nhiêu. Con cái ông Bộ hốt tiền như nước, nhưng vào đằng trôn nôn đằng miệng. Ông Vinh thì vợ suy thận, chạy thận chán phải thay, vẫn èo uột không ra người. Ông Quang bị viên gan, hết sang Singapore lại sang Quảng Châu, Trung quốc ném tiền cho mấy gã lang Tàu. Nhưng phá tiền tàn bạo phải kể đến quý tử Hoảng của ông Vinh, quý tử Thắng của ông Quang và các công chúa của bà Hiền, bà Hà.
Ông Bộ nghỉ hưu, bổng lộc mất dần, các cuộc thăm viếng chỉ còn hình thức chiếu lệ. Từ khi ông bị tai biến, phài ngồi xe lăn, thì phòng ông vắng tanh vắng ngắt như cái nhà mồ. Ngoài bà Bộ chỉ có người giúp việc ngày đêm ở bên cạnh lo ăn uống thuốc thang và lau chùi cho ông.
Trái lại những chuyện tai tiếng bay vào như bầy nhặng. Chuyện ông dùng thủ đoạn chiếm ngôi biệt thự, chuyện ông tham nhũng, nâng người này, đạp người kia đến chuyện gái gú. Có chuyện thật, có chuyện bịa, đa số ít xít ra nhiều làm bệnh ông thêm trầm trọng. Lúc còn chức quyền được nghe toàn những lời ca ngợi, khi thất thế vể vườn, phải nghe chửi rủa, ông Bộ mới ngộ ra sự thối nát chốn quan trường, nhưng đã muộn. Ông lo sợ chính con cháu ông sẽ chà đạp lên ông, tranh giành tài sản, nên đã nói với vợ ý định cùa mình là bán ngôi biệt thư đi, phân chia cho từng thành viên trong gia đình, tránh hậu họa về sau.
Theo ý chồng, bà Bộ bán ngôi biệt thự, chia cho bốn người con ruột mỗi người 1.000 lạng vàng, hai người con dâu đã ly dị mỗi người 500 lạng, còn lại bà mua căn hộ ở Phú Mỹ Hưng đưa ông Bộ xuống đó sống những ngày cuối cùng của cuộc đời và gửi ngân hàng để bản thân mình dưỡng già.
Cứ tưởng bỗng dưng được một đống vàng như vậy thì “những đứa con của gấu mẹ vĩ đại” sẽ hoan hỉ nắm tay nhau và rước kiệu hồng ông Bộ đến nhà mới, nào ngờ cuộc chiến tranh bùng nổ.
Cô con gái bà Hiền lên tiếng:
- Phải chia đều cho tất cả mọi người, không phân biệt gái trai, già trẻ!
Ông Vinh nói:
- Con này láo! Mày coi cá mè một lứa à?
Ông Quang tiếp:
- Ngôi biệt thự là tiêu chuẩn của ông. Quyền ông bà cho ai bao nhiêu hưởng bấy nhiêu!
Cô con gái bà Hiền đốp lại:
- Cậu sai rồi! Nếu không có ngần này thành viên trong gia đình thì tết người ta mới cấp ngôi biệt thự to dùng cho ông, hiểu chửa?
Hai người con dâu mỉn cười ký nhận 500 lạng vàng, làm như không tranh chấp. Ngờ đâu họ chơi một cú lật kèo độc địa!
Theo hợp đồng, khi nào toàn thể gia đình ông Bộ chuyển đi, thì bên mua mới thanh toàn hết tiền cho bên bán. Nắm được thóp đó, Hoàng, và Thắng tư vấn cho mẹ nhân 500 lạng vàng, rồi án binh bất động không di chuyển, đòi chia thêm 500 lạng. Hai đứa cháu nội ông Bộ đã dùng cái thủ đoạn mà ông đã dùng hơn ba chục năm trước để chiếm ngôi biệt thự.
Cuộc tranh chấp khốc liệt. Ông Vinh, ông Quang, bà Hiền, bà Hà một phe, hai người con dâu đã ly dị một phe. Phe ông Vinh cho rằng đã ly dị, không có quyền hưởng thừa kế của bố mẹ chồng. Phe vợ cũ ông lại cho rằng, tuy li dị nhưng họ không lấy chồng khác, vẫn ở ngôi nhà này, nuôi con khôn lớn, và con họ là cháu đích tôn ông Bộ.
Những đứa cháu nội, ngoại lên tiếng, đứa ủng hộ phe này, đứa ủng hộ phe kia nháo nhào. Cha mẹ, vợ con, bà cháu, anh em lao vảo mổ xẻ, tranh chấp, giành giựt nhau. Luật sư phe này bác điều luật của luật sư phe kia nêu ra. Hòa giải hết phiên này phiên khác bất thành. Cuối cùng đưa nhau ra Tòa.
Phiên tòa ấy, bên nguyên là Hoàng con ông Vinh, Thắng, con ông Quang, bên bị là ông Bộ, bà Bộ. Hai ông bà tóc bạc phơ đối diện trước pháp đình với hai đứa cháu đích tôn. Bà Bộ còn tỉnh táo lau được những giọt nước mắt trên hai gò má nhăn nheo, ông Bộ ngồi trên chiếc xe lăn, không gượng nổi cái cổ để nhìn hai đứa cháu mặt câng câng,và không cất được một lời. Tại phiên tòa, Hoàng và Thắng bị bác đơn kiện, hai đứa tuyên bố từ bố và ông bà nội vì đối sử bất công với chúng.
Ông Bộ chết, Hoàng và Thắng ở nước ngoài vội vã bay về, ra tối hậu thư, yêu cầu bà Bộ làm văn bản giao căn hộ Phú Mỹ Hưng và số vàng gửi trong ngân hàng cho chúng. Đổi lại, Hoàng và Thắng sẽ bãi bỏ lời tuyên bố ở phiên tòa, đội khăn tang, bưng bát nhang, cầm di ảnh ông Bộ. Hai bên, một lần nữa không hòa giải được, và hai đứa cháu nội không đội tang.
Câu chuyện đám tang ông Bộ có lẽ không phải là cá biệt. Trong xã hội ngày nay không thiếu những người rồi sẽ phải trả giá như ông Bộ. Trớ trêu là: Dù sao, họ vẫn có một lý lịch về đời hoạt động của một cộng sản chân chính, suốt đời hy sinh cống hiến...và "vui sau cái vui của thiên hạ".
Minh Diện
Chết Ngoài Kế Hoạch
Chết Ngoài Kế Hoạch
Trần Khải Thanh Thuỷ
“…Chết sông chết suối, ngờ đâu chết đuối đọi đèn..…
Thằng cháu tôi đi bộ đội bốn năm, bảy tháng, lù lù dẫn xác về. Chưa kịp nhập
hộ khẩu, đã sinh cờ bạc, số đề, rượu chè, rồi thất tình, đau khổ... Một buổi
trưa nó nốc rượu say mèm và gục mặt chết ở vũng nước tiểu của mình. Trần Khải Thanh Thuỷ
“…Chết sông chết suối, ngờ đâu chết đuối đọi đèn..…
Gom góp họ hàng được gần ba trăm ngàn, tôi tức tốc đạp xe lên cửa hàng huyện, nơi chuyên bán áo quan, xô màn:
- Chị... chị làm ơn...
Chị bán hàng mặt lạnh như tiền:
- Hết rồi bác ạ!
- Kia thây... - tôi lặng người, rón rén chỉ vào đống áo quan trước mặt.
Chị ta bảo:
- Của quý bốn đấy, bác ạ, quý ba bán hết từ ba hôm nay rồi. Tuần sau bác lại.
Tôi kêu lên:
- Trời ơi... có mà đau đẻ chờ sáng giăng...
Thông cảm với bộ dạng nhớn nhác, chán chường của tôi, chị bán hàng nói với giọng thông cảm:
- Thôi, thế này vậy, bác chịu khó đạp xe lên huyện xin chữ ký chứng thực, đề nghị linh động giải quyết, rồi về đây cháu bán cho...
Nhưng rồi thấy tôi cứ đứng lặng, tưởng như đang phải nói chuyện với thây ma, chị bán hàng gắt:
- Kìa, đi đi chứ bác. Quãng chục cây số nữa thôi... Nhưng bác nhớ phải quay về xã viết đơn và xin dấu má thật đầy đủ đấy.
Gần sáu mươi tuổi đầu, bao lần đối mặt với cái chết, chưa bao giờ tôi trải qua tâm trạng bực bội và căng thẳng đến mức này... Xếp cả chồng tiền gần ba trăm ngàn, tháo luôn cả chiếc đồng hồ Citizen màu vàng chanh đặt lên quầy, tôi bảo:
- Đây, để làm tin, đề nghị chị linh động giải quyết, chứ sức vóc tôi không đạp nổi ba chục cây số nữa đâu.
- Ấy chết, không được. - chị ta nguây nguẩy - có chỉ thị của trên rồi. Quý ba này chúng cháu chỉ được phép bán 2000 cái, mà đã vượt mức trên hai chục cái rồi... Khổ! Sao bác không chịu khó đến từ tuần trước? Sang quý tư cháu hụt chỉ tiêu trên giao thì khốn.
- Thế... - tôi ngơ ngác -... chị nói... nói thế... có nghĩa là... cháu tôi chết ngoài kế hoạch?
- Vâng, có thế cháu mới yêu cầu bác phải có chứng thực của địa phương và giấy xác nhận của huyện chứ.
Lại còn thế nữa... Như cái xác không hồn, tôi lừ đừ dắt xe ra, đầu nhức buốt.
***
Tôi quay điện thoại.
- A lô...
- Gì đấy - đầu dây bên kia có tiếng đáp khẽ kèm theo một tiếng gắt... Thủ trưởng đi họp rồi.
- Đề nghị... - tôi lớn tiếng
Mặc thái độ nôn nóng của tôi, người bên kia, giọng còn trẻ lắm, lên giọng:
- Đại sự quốc gia bố già ơi... Tuần sau bố quay lại nhá!
- Trời ơi...! - tôi rên lên, tưởng đất dưới chân sụp lở hàng mảng.
- Khổ lắm... đã bảo đại sự quốc gia mà lị - giọng anh ta càng lúc càng thêm chớt nhả - Bố không chờ được đâu. Mà chờ cũng chẳng để làm gì. Thủ trưởng không giải quyết đâu. Trừ có cái chết.
- Dạ... - tôi đổi sợ thành mừng, líu lưỡi - Chết ạ?... Vâng, thế thì trường hợp này của tôi đúng là chết, chết thật đấy ạ... Cháu tôi...
- Mẹ bố khỉ - hắn cười khành khạch - Cháu bố thì liên quan gì đến đây?
- Nhưng... - tôi chưng hửng
- Định hối lộ hả?... Bắt cóc thủ trưởng về tận quê ăn cỗ cơ đấy... Dịp khác nhé. Hắn tuyên bố.
Tôi đột ngột nổi cơn lôi đình.
- Không còn dịp nào hết!
- Bố cưới hay thằng cháu bố chẳng hạn?
Nghe tiếng máy xập, tôi thất vọng đạp xe ra về, cảm giác rõ hai đầu gối củ lạc sắp long ra đến nơi.
***
Đúng giờ ngọ hôm sau mọi ước muốn của tôi rồi cũng được thực hiện (cũng may, cuộc họp chỉ kéo dài... có một ngày). Nhờ sự "ngoài kế hoạch" của thằng cháu, tôi được dịp tham quan một lô phòng ban và nhận diện không biết bao nhiêu "ngài đáng kính".Hoá ra từ cái váy quan liêu đẻ ra lắm ban bệ, chức tước thật. Chả trách thằng cháu tôi chưa kịp nhập hộ tịch đã nóng lòng chui đầu ra khỏi váy để rồi rơi tọt xuống đất đen theo kiểu "ngoài kế hoạch" thế này.
Hộc tốc đưa giấy về nhà tôi mới ngã ngửa... Dưới hàng loạt chữ ký và con dấu đo đỏ ở phía dưới là dòng chữ "Đề nghị xem xét lại". Hoặc "Chờ xác minh"... Thì ra vì cuống, vì cái bệnh quên không đeo kính, vì cái đầu u mê, nên khi ở trụ sở công an xã bước ra tôi đã không chịu xem lại, xem thật kỹ cho chắc ăn. Tưởng đơn thuần là giấy chứng thực báo tử, ai ngờ họ còn ghi thêm mấy dòng nghi vấn:
"Chết không rõ lý do. Công an địa phương đang tiến hành điều tra".
Tôi vò đầu, bứt tai, muốn dựng xác cháu lên mà đánh cho hả giận. Cái ngữ nó sống báo hại bố mẹ, chết báo hại chú... Hai ngày trời đạp xe giữa trời nắng chang chang như đổ lửa với sáu bận đi về hơn trăm cây số có ít đâu... trời ơi! Trời có mắt không hả trời? Hay trời cũng mắc bệnh quan liêu nốt?
Nhìn nét mặt chưng hửng của tôi, thằng cả kịp hiểu ra tất cả, nó dúi tút thuốc lá và cả bọc chè vài cân vào tay tôi, rồi giục:
- Bố chịu khó quay lại chỗ công an xã, nói khó với các anh ấy, nhờ các anh ấy chứng thực cho.
Bảo họ ghi thật rõ vào. "Đã chết hẳn vì lý do thất tình do uống rượu"...
Chưa đủ, nó còn dặn thêm:
- Dù hoàn cảnh thế nào bố cũng phải giữ bộ mặt cho thật tươi tỉnh cho con nhờ... Chứ như người sắp đưa ma thế kia, bố ai dám nhận chè thuốc của bố?
Lại một ngày đạp xe, chầu chực, rút kinh nghiệm, lần này tôi thủ sẵn một bao thuốc trong túi và nụ cười thường trực... trên khoé miệng. Đến phòng ban nào cần chứng thực đóng dấu, tôi lập tức bấm bật lửa tanh tách và... vén môi cười xoè... Cuối cùng một dòng chữ loằng ngoằng nửa giun, nửa dế kiểu... bổ túc văn hoá lớp 3 của ông chủ tịch huyện cũng phải bò ra:
"Chết ngoài kế hoạch. Linh động giải quyết."
Cô bán hàng hôm xưa đã nghỉ. Thay cho cô là một thị trẻ hơn, cong cớn khi nhận xấp giấy từ tay tôi:
- Dấu má gì mà mờ thế này?
- Thì dấu của huyện mà chị!
- Huyện nào. Cháu bảo cái dấu ở giấy báo tử kia.
- Ô hay, cháu tôi chết thật mà chị.
- Biết thật hay giả??... Lần sau bác lưu ý rút kinh nghiệm. Dấu mờ thế này mà còn cầm lên đây là cháu bắt về xã xác minh lại đấy.
- Ô...
Vẫn biết tất cả sự lo lắng quan tâm cho sự ra đi của người đã chết chỉ có tác dụng an ủi với người sống. Còn "cát bụi lại trở về với cát bụi". Song "nghĩa tử là nghĩa tận". Tôi cố gắng chọn lấy một cái áo quan đèm đẹp, không nứt, không vênh, không hụt quá hoặc to quá. Khổ một nỗi đống gỗ hòm này quá dở. Không chứng nọ cũng tật kia.
Chị bán hàng thấy tôi có vẻ phân vân, phát bực:
- Thôi, bác ôm nhanh hộ cháu một cái đi. Còn nhiều thủ tục phải giải quyết lắm đấy!
- Vâng, - tôi vội vàng cầu cứu - Chị duyệt cho tôi ít xô màn tiêu chuẩn.
- Bác ra đầu phố mà mua. Hay chửa, đã "chết ngoài kế hoạch" còn đòi duyệt xô màn trong tiêu chuẩn.
Há miệng mắc quai, tôi đành chữa thẹn:
- Thôi được, chị cho tôi nộp tiền thuê xe.
- Chỉ xe tang thôi đấy bác nhớ. Công tác phục vụ tang lễ đã hoàn thành kế hoạch quý ba rồi, tất cả xe khách bây giờ được trên huy động vào đám cưới để làm kế hoạch ba hết. Mùa này là mùa cưới mà.
Run run cầm tấm hoá đơn thuê xe trên tay, tôi khật khưỡng đạp về nhà. Thằng cả bàn:
- Bố cứ ra công ty xe khách mà thuê. Những năm, sáu trăm người cơ mà. Phần lý do thuê bố cứ ghi đại là "đám cưới".
- Đồ...
Tôi trợn mắt, chưa kịp quát nó đã cười ngoác miệng chữa thẹn:
- Thì đang mùa cưới mà bố. Lên tận đấy mà nói lý do: thuê xe tang cho đám ma. Bố ai người ta dám...
***
Nhìn dòng chữ nguệch ngoạc "10 giờ sáng 25/8" trên hợp đồng, tôi giật thót mình:
- Ấy chết, bác linh động cho. Gia đình tôi nhỡ đã ba bốn hôm nay rồi, nóng nực thế này....
- Thì "ngoài kế hoạch" mà bác, Hợp đồng chúng em kín cả rồi, nể bác lắm đấy, nhưng mà chịu...
Thôi chịu khó chờ mấy hôm vậy, bác ạ. Có tốn kém thêm một chút, nhưng vui vẻ. Cả đời mới có một lần ấy mà. Nóng nực sợ thiu bác cứ quăng hết vào tủ lạnh là khỏi lo... Có ế ẩm nữa, bác cứ quay lại đây, anh em cánh xế chúng em xài giúp... Nhồi vào "tủ nóng" còn tốt hơn tủ lạnh đấy bác ạ.
Dở cười dở mếu tôi quay trở lại nhà.
Công việc liệm thi hài bắt đầu. Thay vì những tiếng thút thít, nỉ non, ai oán và lén giơ tay áo lên quệt nước mắt, người ta lẩm bẩm chửi lũ ruồi nhặng chết tiệt và lén giơ tay... bịt mũi, xua ruồi. Chiếc quan tài đèm đẹp tôi đã mất công chọn cả buổi sáng hoá ra quá chật so với thi thể người quá cố. Một phần vì thi hài "nóng nở ra", phần khác vì sản phẩm của công ty là "ngoài kế hoạch", nên những người gia công đóng hòm đã cố gắng tận dụng cả chiều rộng lẫn chiều dài tấm ván. May mà đặt được cháu nằm nghiêng.
Chết đâu phải đã hết. 10 giờ sáng, quang cảnh nhà anh chị tôi hệt như một đám "hát bội". Nửa bưng mặt khóc, nửa bưng miệng cười. Hai chàng tài xế văng tục chửi um. Thực hiện đúng hợp đồng, chàng Công ty xe khách vòng vo tìm nhà. Quay ra quay vào mấy lần thấy vẫn đúng số nhà ghi trên hợp đồng, nhưng không phải đám cưới mà là đám tang. Biết bị "ăn quả lừa" chàng ta làm toáng lên, một hai đòi huỷ hợp đồng. Chàng xe tang (dù đã được lót tay trước bao thuốc, chai rượu), nhân cơ hội cũng khăng khăng đòi huỷ hợp đồng luôn vì đã quá quy định những... bốn ngày. Chỉ khổ cho anh chị tôi, khóc con năm sáu ngày đã cạn kiệt cả nước mắt rồi, trước tình cảnh "không khóc không xong với chúng nó" này, đành phải chạy ra nỉ non, khóc lóc, hứa hẹn
"bồi thường đâu ra đó", nghe chừng tang thương hơn cả lúc khóc con.
Hai xe bon bon trên đường tới khu vực cổng nghĩa trang, cả mấy trăm con người đã quên dần "cõi thế", hướng cả vào cõi âm. Trạm dừng cuối cùng của mọi số kiếp sang hèn, đói khổ. Bỗng có tiếng quát giật giọng:
- Dừng lại!... dừng lại!
Anh lái xe khách khựng người trên vô lăng, cặp mắt đảo tứ phía, miệng lẩm bẩm:
- Lại chuyện gì nữa thế này?
Tôi giật mình, trước khi nhảy xuống phòng bảo vệ nghĩa trang còn kịp dõi đôi mắt về phía trước, nơi chiếc xe tang đã mất hút trong lòng nghĩa trang...
Trên xe đám đông hốt hoảng, nhốn nháo. Sẵn kinh nghiệm trong một tuần phục dịch, tôi... vén môi nở nụ cười thường trực và đánh bật lửa tanh tách... Hoá ra trăm sự tại cái chữ... hỉ này. Thật khỉ gió cái nhà anh tài. Xe đưa tang mà dám dán kín cả các hình thù nhảy nhót điên loạn, lại còn trương cả cái chữ hỉ to bằng... mả bố thằng ăn mày ngay đầu xe nữa. Có chết cha con người ta không?
Tài hùng biện, bao thuốc loại sang và chiếc bật lửa "bỏ quên" đã phát huy tác dụng. Chiếc thanh chắn từ từ được nâng lên, anh tài tăng hết ga đâm đánh xầm vào đít xe tang trước mặt.
Tôi cúi đầu, theo mọi người chui ra khỏi xe, cố nén một tiếng thở phào nhẹ nhõm. Bỗng từ đâu anh tôi chạy lại, như hiện về từ thế giới bên kia. Mặt xanh mét, líu cả lưỡi.
- Khổ thân tôi không. - anh nói - Cháu nó chưa có hộ khẩu, người ta bảo không được phép chôn ở đây.
Sau lưng tôi đám đông biến thành cuộc biểu tình, cãi cọ, giằng co, la ó. Mấy bà cô hờ:
- "Ôi cháu ơi... biết chết khổ, chết nhục thế này thì tội gì cháu chết cháu ơi!"
Chàng lái xe tang tức khí mở toang cửa, đuổi hết mọi người xuống, rú ga, lùi sát đít xe đựng áo quan vào tận cửa văn phòng, rồi nhảy xuống, văng tục:
- Mẹ chúng mày. Không để yên cho ông đi, ông khênh quan tài vào giữa văn phòng cho mà ngửi. Lúc nào ngán thì tự chôn. Xem chúng mày có dám ăn thịt nó không?
Nhìn theo dáng điệu tự tin của thằng cả nhà tôi đi vào phía trong, tôi thở ra một hơi nhẹ nhàng.
Đúng nửa tiếng sau, nó quay ra bấm tôi: "Xong rồi... Bố tưởng nhập khẩu cho người chết dễ hơn người sống chắc?..."
Nó dúi vào tận mặt tôi tấm thẻ mộ: Lô 38, khu II, số mộ 1078... Rồi lên giọng giảng giải: Bố ơi, đồng tiền đi trước bao giờ cũng khôn, bố ạ. Tháng trước con đưa ông bạn con ra đây, gia đình lóng ngóng không biết đường lo lót chu đáo, cho nên phải vào nằm trong khu nghĩa trang làm phúc. Ở đấy toàn tứ cố vô thân, chết đường, chết chợ cả thôi bố ạ. Người ta lại vừa bốc mộ xong, nước ngập trắng xoá, dép nhựa, giẻ rách, mảnh áo quan không tan rữa được nổi lềnh phềnh kín mặt hố. Thật đúng là thế giới của người chết nghèo... Vừa nãy con phải nhờ "Bác" ba lần đưa đường chỉ lối(!) chúng nó mới chịu cho anh ấy được ra ở lô II này đấy, ngay gần khu các vị lãnh đạo.
Hoá ra, trong thế giới vĩnh hằng của người đã chết đẳng cấp vẫn còn phân biệt, quy luật giá trị vẫn còn tác oai tác quái.
... Đúng nghi lễ của người Việt Nam, chiều hôm ấy anh chị tôi làm cơm cúng ba ngày, mời bạn bè, họ hàng và người đưa tiễn ở lại thắp nén nhang để cùng tưởng nhớ tới người đã khuất. Trong vòng khói nhang nghi ngút, tôi rợn người khi nghe thấy tiếng khóc thút thít của cháu.
- Làm sao? - tôi thì thầm hỏi cháu tôi - Cháu làm sao?
- Cháu khổ quá chú ơi!
- Biết rồi! Khổ, chết ngoài kế hoạch thì sướng làm sao được!
- Biết thế này thà cháu sống mang tiếng là thằng ăn tàn, phá hoại cho xong.
- Thôi, dẫu sao mọi việc cũng qua rồi. Cháu bây giờ yên ấm dưới suối vàng.
- Chưa qua đâu chú ơi... Hu...hu... hu, cháu không nằm ngửa được... hòm chật quá! Mà sao khi đắp mộ cháu chú không "chi đẹp" cho mấy thằng phu mộ để chúng nó trừng phạt cháu, đắp điếm qua loa, ẩu không chịu được, để đến nỗi bây giờ suốt dọc sống lưng và phía dưới chân cháu đất sụt từng mảng, hở toác hoác. Gió nghĩa trang lồng lộng, lạnh buốt sống lưng, chú ơi... hu... hu...
Tôi đâm bổ đến chỗ thằng cả đang ngồi "chén chú chén anh", lôi xềnh xệch nó đi trước con mắt ngơ ngác của cả nhà:
- Đi! Ra ngay nghĩa trang với tao. Chỉ có mày đi tao mới yên tâm. Sau này bố có làm sao, nhớ là bố chỉ trông cậy vào một mình mày thôi đấy, con ạ... Trời ơi! Chết mà còn khốn nạn khốn khổ thế này sao?!!
Sấp ngửa chạy ra chỗ dựng chiếc xe đạp cà tàng, thằng cả bảo:
- Bố ơi, đến lượt bố, bố nhớ phải chết trong kế hoạch đấy nhớ, cho chúng con nhờ, chứ ngoài kế hoạch thế này, khổ lắm...
Hà Nội cuối 1986
Trần Khải Thanh Thuỷ
Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013
"Sài gòn Xử Tử " Cuả Eddie Adams - Bức hình "giết một ông tướng"(TỘI NGHIỆP TƯỚNG NGUYỄN NGỌC LOAN)
Triển Lãm Tại Đại Học UT Austin
Triều Giang
- Lời xin lỗi và chuộc lỗi của Eddie Adams tưóng Nguyễn Ngọc Loan
- Bộ sưu tập trị gíá 7 tới 8 triệu đô la đã được tặng cho Đại học UT Austin
Để nói về tầm lợi hại của hình ảnh, người ta thường ví von: "một tấm hình bằng ngàn chữ viết". Nhưng đối với Eddie Adams, một phóng viên nhiếp ảnh của hãng thông tấn Mỹ Associate Press (AP), thì môt tấm hình của ông, như ông tự nhận định: đã "giết chết một vị tướng" và hơn thế nữa cũng chính bức hình này đã thay đổi cuộc diện của chiến tranh Việt Nam. Bức hình nổi tiếng đó, đã được ông đặt tên là "Sài Gòn Xử Tử" (Saigon Execution), hình chụp Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc gia, Nam Việt Nam đang chĩa súng vào đầu đặc công Việt Cộng Nguyễn văn Lém tay đang bị trói ngoặt phía sau, tại một góc đường Lý Thái Tổ, khu Chợ Lớn trong cuộc tổng tấn công tết Mậu Thân năm 1968. Nguyễn văn Lém trước đó đã giết ít nhất là 8 người trong đó có toàn bộ gia đình của một sĩ quan dưới quyền tướng Loan.
Sau khi bức hình được chụp, Nguyễn văn Lém bị bắn chết, Tướng Loan khoảng 3 tháng sau bị bắn gãy chân phải trong một trận chiến truy lùng cán binh CS vẫn còn đang ẩn núp tại ven đô. Ông được đưa sang Úc để chữa trị. Vì vết thương quá nặng, ông xin được chuyển sang bệnh viện quân đội Mỹ Walter Reed Army Medical Center tại Washington nhưng đã bị Quốc hội Mỹ từ chối nhiều lần. Chân phải của ông đã bị cưa. Năm 1975, trước khi Sài gòn thất thủ, ông có yêu cầu cho ông và gia đình ông được tị nạn tại Mỹ nhưng đã bị từ chối. Cuối cùng ông và gia đình đã được đưa ra khỏi Việt Nam bằng phi cơ của Việt Nam cùng với làn sóng người tỵ nạn. Ông và gia đình ông định cư tại tiểu bang Virginia, ông mở tiệm Pizza đề sinh sống. Ở đây, ông và gia đình cũng không được yên thân. Khi người địa phương biết được thân thế của ông, tiệm Pizza của ông đã mất rất nhiều khách và phải chịu nhiều cảnh khủng bố tinh thần như những cuộc vân động trục xuất ông và gia đình ra khỏi Mỹ với lý do ông là "tội phạm chiến tranh (war crime), hoặc một người nào đó đã để lại hàng chữ hăm doạ "Chúng tôi biết ông là ai" (We know who you are) trên bức tường trong nhà vệ sinh của tiệm. Ông Loan mất vì bệnh ung thư vào năm 1998, hưởng thọ 67 tuổi.
Riêng Eddie Adams, tấm hình của ông đã đưa ông lên đỉnh đài danh vọng của nghề nghiệp, ông đã được lãnh giải Pulitger Prize, giải thưởng cao quý nhất của ngành truyền thông Hoa Kỳ và tấm hình lịch sử của ông được bầu là một trong những tấm hình quan trọng nhất trong cuộc chiến VN. Có thể nói mỗi khi tên tuổi Eddie Adams được nhắc tới, người ta liên tưởng ngay tới bức hình "Sàigòn Xử Tử". Một bức hình khác cũng là một trong những bức hình gây nhiều ảnh hưởng vào thời này, đó là bức hình của một phóng viên nhiếp ảnh người Việt, ông Huỳnh Công Út, phóng viên của AP, còn có biệt hiệu là Nick Út chụp hình bé gái Phan Thị Kim Phúc, 9 tuổi, bị phỏng vì bom Napalm, trần truồng chạy trên đường lộ tại Trảng Bàng. Ông Nick Út cũng được giải Pulitzer Prize và bức hình của ông được chọn là hình của World Press Photo of the Year năm 1972.
"Bức hình đã nói dối vì chỉ nói một nửa của sự thật"
Nhưng tai ương chỉ thực sự đã xảy ra cho Việt Nam Cộng Hoà sau khi "Sàigon Xử Tử" được đưa lên báo chí Mỹ rồi trên toàn thế giới cùng với đoạn phim ngắn của đài truyền hình NBC chiếu toàn bộ cảnh xử tử. Dư luận thế giới và đặc biệt dư luận Mỹ đã đổi hẳn cách nhìn về chiến tranh VN và Việt Nam Cộng Hoà ngày càng mất dần sự hỗ trợ của người dân Hoa Kỳ. Những cuộc biểu tình chống chiến tranh trên đường phố, trong các trường đại học bắt đầu nổi dậy tạo những áp lực nặng nề cho chính phủ Hoa Kỳ và cuối cùng họ phải "rút lui trong danh dự" vào năm 1973, để mặc đồng minh Nam Việt Nam chiến đấu trong tuyệt vọng để cuối cùng rơi vào tay của Cộng Sản ngày 30 tháng 4 năm 1975. Sau cuộc chiến là cảnh hàng triệu người Việt Nam phải chạy trốn Cộng Sản và nhiều trăm ngàn người phải bỏ thây trên biển cả Thái Bình Dương, hàng triệu người bị cầm tù không hề được đưa ra tòa xét xử, và cả hai miền nam bắc Việt Nam hoàn toàn rơi vào gọng kềm sắt máu cuả nhà cầm quyền CS.
Eddie Adams sau đó đã bị ray rứt và thật sự hối hận vì bức hình của ông đã triệt tiêu tất cả danh dự của một vị tướng đã chiến đấu anh dũng và hy sinh một phần thân thể cho đất nước ông. Tướng Loan và gia đình của ông cũng đã phải chịu quá nhiều oan ức khi cuộc chiến đã qua, cũng chỉ vì bức hình.
Eddie đã phát biểu: "Ông Tướng giết Việt Cộng; tôi đã giết ông Tướng với chiếc máy hình của tôi. Cho tới bây giờ, hình ảnh vẫn là một thứ vũ khí mạnh nhất trên thế giới. Mọi người vẫn tin vào nó. Nhưng hình ảnh cũng nói dối, dù là ảnh thực không hề bị sửa chữa. Hình chỉ nói một nửa của sự thật… Điều mà bức hình "Sàigon Xử Tử" đã không nói lên, đó là: "Bạn sẽ làm gì nếu bạn là vị tướng trong thời điểm đó, nơi chốn đó, trong cái ngày nóng bỏng đó, bạn bắt được một tên địch mới vừa nổ tung một, hai, hoặc ba người Mỹ? Khi chụp tấm hình này, tôi chỉ muốn nói lên những gì đã xảy ra trong cuộc chiến, tôi không cố ý muốn hại bất kỳ ai."
Lời xin lỗi và chuộc lỗi của kẻ có lương tâm và trách nhiệm
Eddie sau đó đã tìm gặp Tướng Loan để xin lỗi trực tiếp. Tướng Loan đã không thù hận hay cay đắng, ông chấp nhận lời xin lỗi của Eddie và nói rằng "Ông chỉ làm phận sự của ông, cũng như tôi đã làm phận sự của tôi". Và trong cuộc phỏng vấn của báo chí khi có tin tướng Loan từ trần vào năm 1998, Eddie đã ca tụng Tướng Loan là một anh hùng.
Eddie Adams còn một nỗi hối hận khác đó là cuộc chiến đã đem lại một kết quả thảm khốc cho người dân Nam Việt Nam. Khác với hầu hết những người làm truyền thông Mỹ đã tìm được vinh quang nghề nghiệp bằng cuộc chiến VN và đã đóng góp không ít cho sự thất thủ của miền nam Việt Nam, cho đến hôm nay với bao thảm cảnh đã và đang xảy ra cho Việt Nam, họ vẫn chưa một lần nhìn lại việc làm của mình để nhận ra sự thật. Eddie Adams đã không chỉ hối hận và nói lời xin lỗi suông, ông đã tìm cách chuộc lỗi của mình bằng cách trở về biển Đông chụp những bức hình, một lần nữa gây xôn xao dư luận thế giới và nhất là Hoa Kỳ, những bức hình nói lên cảnh đau thương của người Việt Nam vượt biển đi tìm tự do trong cái chết để tìm sự sống.
Bức hình nổi tiếng được ông đặt tên là "Chiếc thuyền không có nụ cười" chụp hình một bà mẹ ôm đứa con đã chết cứng trong vòng tay, một đứa khác đang mệt lả sau lưng bà. Gương mặt của người phụ nữ diễn tả sự đau đớn tột cùng, và ánh mắt của bà nói lên tâm trạng của thuyền nhân; mỏi mệt, đau đớn, hoảng sợ, và tuyệt vọng. Ông đã dùng bức hình này để đặt tên cho bộ sưu tập mang tên "Con Thuyền Không Có Nụ Cười". Bộ sưu tập nói về thảm cảnh của thuyền nhân này đã được gửi lên Quốc hội Hoa Kỳ trong cuộc vận động cho việc Hoa kỳ chấp nhận người Việt tị nạn tại Hoa kỳ mở đầu cho cuộc di dân của gần 2 triệu người Việt Nam vào Mỹ trong gần 35 năm qua và còn đang tiếp diễn.
Tất nhiên, những đóng góp của Eddie trong cuộc vận động này chỉ là sự mở đầu, đã phải có nhiều cuộc tranh đấu gay go khác trong nhiều thời điểm khac nhau để cuộc di dân khổng lồ mà trong lịch sử người Mỹ chưa bao giờ dành cho bất kỳ cựu đồng minh nào trên thế giới. Phóng viên nhiếp ảnh Eddie Adams với lương tâm và trách nhiệm, ông đã can đảm nhận lỗi và chuộc lỗi. Và đã nhiều lần ông nói lên lòng mong mỏi của ông là được mọi người biết đến tên tuổi của ông bằng sưu tập "Con thuyền không có nụ cười" gồm những bức hình giúp người, chứ không phải bằng bức hình "Saigon Xử Tử", một bức hình đã hại người.
Triển lãm và chiếu phim về cuộc đời và tác phẩm của Eddie Adams tại Đại học UT Austin
Eddi Adams sinh năm 1933, mất năm 2004. Ông bắt đầu sự nghiệp nhiếp ảnh ảnh từ những năm còn học trung học tại Hensington, tiểu bang Pensylvania. Ông từng là nhiếp ảnh viên của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến trong chiến tranh Triều Tiên. Năm 1962, ông cộng tác với AP. Sau 10 năm ông đổi sang tuần báo Time. Năm 1976, ông trở lại làm việc cho AP và là phóng viên nhiếp ảnh duy nhất được giữ danh hiệu Thông tín viên đặc biệt của hãng thông tấn này. Từ năm 1980 tới khi ông mất vào năm 2004, ông làm nhiếp ảnh viên cho báo Parade chuyên cho tin về những nhân vật nổi tiếng, những vấn đề về sức khoẻ, và những tin đặc biệt cần biết. Trong suốt thời gian làm việc tại đây, hình của ông được chọn làm bìa cho trên 350 số báo. Ngoài Pulitzer Prize, Eddie nhận trên 500 giải thưởng nhiếp ảnh báo chí Hoa kỳ và trên toàn thế giới.
Di sản vĩ đại của ông bao gồm 200 bộ ảnh trải dài với slides, âm ảnh, hình, băng ghi âm, băng hình, bản tin, nhật ký, bản thảo. Bên cạnh phần lớn là những hình ảnh, tin tức về chiến tranh Việt Nam, còn có những bộ sưu tập ông đã bỏ nhiều thời gian và tim óc để thực hiện như bộ sưu tập nói lên cảnh nghèo tại Mỹ, những người homeless, Mẹ Teresa, hình ảnh về Brazil, những cuộc biểu tình chống chiến tranh và đặc biệt là hình ảnh của một số nhân vật nổi tiếng trong mọi lãnh vực cùng thời với ông như TT. Ronal Reagan, Filadel Castro, Clint Eastwood, Bette Davis, Bill Cosby,...
Tháng 9, 2009 vừa qua, quả phụ Alyssa Adams đã tặng toàn bộ di sản kể trên cho Đại học Texas (UT) tại Austin để đại học này thành lập một thư khố dùng làm tài liệu giảng dạy cho ngành nhiếp ảnh. Ông William Powers Jr., Viện trưởng Đại học UT tại Austin đã tuyên bố trong một thông cáo báo chí rằng:" Eddie Adams là một ký giả nhiếp ảnh với một thiên tài. Bộ sưu tập của ông đem đến cho đại học thêm một nguồn tài liệu vô giá để giúp chúng ta tìm hiểu về lịch sử Hoa kỳ vào thế kỷ 20 và đặc biệt cho ngành nhiếp ảnh báo chí. Chúng tôi thật mang ơn bà Alyssa Adams về món quà vĩ đại và quan trọng này." Ông Powers còn cho biết trị giá của bộ sưu tập này khoảng 7 tới 8 triệu đô la.
Đại học UT tại Austin đã thực hiện một cuộc triển lãm đầu tiên gồm 28 bức hình chọn lọc và một số hình bià của báo Parade để giới thiệu bộ sưu tập Eddie Adams. Cuộc triển lãm sẽ kéo dài tới ngày 16 tháng 1, năm 2010 tại The Dolph Briscoe Center for American History Research and Collection, tại số 1 đường University Station D1100, Austin, Texas, 78712. Giờ mở cửa từ 10 giờ sáng tới 5 giờ chiều từ thứ hai tới thứ sáu. Thứ bảy nếu không có football game hoặc là ngày lễ, sẽ mở cửa từ 9 giờ sáng tới 2 giờ chiều.
Một buổi chiếu phim "An Unlikely Weapon: The Eddie Adams Story", phim tài liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Eddie Adams sẽ được tổ chức tại Blanton Auditorium tại Edgar A Smith Building, Blanton Museum of Art, tại số 200 E. MLK Blvd. Austin, TX. 78701, vào lúc 6 giờ tới 8giờ 30 tối thứ tư 28 tháng 10 sắp tới với sự góp mặt và phát biểu của bà Alyssa Adams và một số nhân vật quan trọng khác. Nhân dịp này, người viết đã liên lạc để phỏng vấn bà Alyssa Adams để tìm hiểu sâu xa về những suy nghĩ và cảm tưởng của bà cũng như của chồng bà khi còn sinh tiền về chiến tranh VN, về con người VN và những trăn trở cũng như những điều khiến cho chồng bà thay đổi cái nhìn về chiến tranh VN.
Tháng 10/2009
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)