Thứ Tư, 1 tháng 9, 2010

BẠCH TUYẾT nghệ sĩ cải lương

Kỳ Nam - Xốc cờ

Kỳ Nam

Vừa ngay sau 1975, trên thềm một ga xe lửa, trong những người lính miền nam sống sót trở về, có anh trút ba lô ra, dưới đáy là lá cờ vàng nhạt màu với ba vằn đỏ. Anh nói đùa: - Cứ giữ làm kỷ niệm, biết đâu có lúc lại dùng, y như đánh bài 52 lá thôi, xốc một hồi, biết đâu lá cuối lại có cơ trồi lên mặt.

Mấy ngày gần đây, qua thông tin trong nước, được biết một nghệ sĩ muốn chuyển thể cải lương tập thơ “Nhật Ký Trong Tù” thành Trường Ca Hồ Chí Minh.

Bỗng dưng chúng tôi nhớ lại người lính thất trận năm nào và khái niệm “xốc cờ”.

Trong giới sân khấu thường gọi nghệ sĩ đó bằng biệt danh Chị Ba, có lẽ những ghi ghép này cũng kêu nhân vật chính bằng hai chữ đó cho tiện.

Theo bài phỏng vấn trên, Chị Ba cho biết đang cố làm kịp để chào mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội.

Mừng cái Đại Lễ đó, khá nhiều người mừng với nhiều mục đích khác nhau, ngoài những thành tâm yêu Hà Nội thật sự, không hiếm những người mừng Đại Lễ này vì danh, vì tiền.

Trường hợp của Chị Ba là một ẩn số, chúng tôi không muốn gán ghép tùy tiện, nhưng đoán gì thì đoán, bản thân cuộc đời Chị Ba đã gắn với một sự kiện khó ai quên được đó là hình ảnh của Chị Ba đã từng được chưng trong khu nhà được gắn tên Bảo tàng Tội Ác Mỹ-Ngụy (sau này đổi là Bảo tàng Chứng Tích Chiến Tranh). Ở tuổi đang xuân, Chị Ba ra tiền đồn hát cho lính Cộng Hòa nghe, hưng phấn sao đó chị đã làm một việc không ai ép buộc, mà có thể nói trước và sau Chị Ba không ai dám làm là tự chụp cái nón sắt mang lên đầu có dòng chữ yêu cầu hãy dội bom xuống vùng Bắc Việt.

Vào những năm 2000, Chị Ba sang Mỹ biểu diễn cho cộng đồng xem ở những khu casino giải trí, bị nhiều người chống đối, có bầu show lỗ đến độ phải bán nhà. Chị Ba bước lên sân khấu trong giai đọan đó bao giờ cũng chắp tay quỳ lạy khán giả như cám ơn đã cho Chị Ba được diễn. Chiếc nón có chữ “Bomb Bac Viet!” của Chị Ba được mang ra kể lại như một thành tích. Cộng đồng chống cộng nghe Chị Ba than: “Ngày 30 tháng 4, các anh chạy nhanh quá, BT theo không kịp, trận mưa bom ngày nào BT đòi thả trên đất Bắc đã dội xuống đời BT, BT lãnh đủ mọi hậu quả trù dập sau đó, bị cấm hát một thời gian”. Nghe thương như vậy, ai còn nỡ chống.

Suốt những năm sau, Chị Ba đi qua đi lại tung hoành hai bên, “xốc cờ” với tốc độ chóng mặt với thoắt vàng, thoắt đỏ. Chị Ba không biết những câu nói tưởng là vu vơ của Chị Ba để được lòng cả hai phía đều còn được ghi nhớ trong lòng những người khán giả vô danh. Với người trẻ tiếp xúc vì mê nghệ thuật dân tộc, Chị Ba cho nghe những ý tưởng báng bổ về cái xác nằm ở Ba Đình của du học sinh; với những nhạc công muốn về quê nhà cống hiến cuối đời, Chị Ba can sao dại vậy, đang ở xứ tự do, bao người thèm đi không được, nay sao lại chui đầu vào rọ; với những đồng nghiệp, Chị Ba chê họ thiếu lòng tự trọng khi không thuộc tuồng và hát nhép trong khi bản thân mình, tuổi lớn, hơi hụt, vẫn muốn duy trì danh tiếng ngày xưa, Chị Ba gian lận thường phải cầu viện máy hát thay mình. Nhiều khán giả Việt kiều về nước, cố tìm xem Chị Ba hát Tết lấy hên đầu năm, phải bỏ về nửa chừng vì Chị Ba cẩu thả buông tay cầm micro xuống trong lúc máy phát ra tiếng Chị Ba vẫn lồng lộng trên cao. Chiếu theo luật pháp trong nước hiện hành, hát kiểu đó bị coi là phạm pháp. Nhưng ai khác kia mới bị, Chị Ba thoải mái nhép miệng, cho băng phát lời thâu sẵn, vẫn không ai dám đụng tới Chị Ba.

Có lẽ một phần, Chị Ba đã là một biểu tượng văn hóa của một thời trước 1975 qua danh xưng Cải Lương Chi Bảo. Tài liệu về Sài Gòn trước 1975 có mặt Chị Ba chưng to gần với Hùng Cường.

Chính cái kiểu chưng hai tấm Chị Ba và Hùng Cường to gấp mấy người thật trong hai bộ đồ sexy trước rạp Quốc Thanh mà sau này nhà hát Cải Lương Trần Hữu Trang cũng cho chưng hai tấm hình Chị Ba và Ngọc Giàu trong trang phục Thái Hậu Dương Vân Nga như vậy để dễ bề bán vé.

Người tình họ Hoàng-Đức, VIP của VNCH không biết trôi giạt nơi đâu nhưng người tình “Hai mươi bốn giờ phép” của Chị Ba vẫn còn đây.

Sau 1975, với khách tới lui nhà chị toàn tướng tá công an và trí thức các lọai. Chính quyền mới cũng trân trọng Chị Ba lắm khi phong cho Chị Ba 4 chữ Nghệ Sĩ Ưu Tú và thường rước Chị Ba vào các ban giám khảo. Chuyện học hành của Chị Ba, nhiều sinh viên than phiền trong lúc họ làm luận án tốt nghiệp trầy trật, Chị Ba tuy chưa xong trung học trước 75, ì ạch té qua những đợt khảo hạch Anh Văn vẫn hiên ngang được mấy giáo sư đến tận nhà dạy và nhắm mắt làm ngơ lướt qua cho Chị Ba báo cáo tốt nghiệp. Có lần báo Tuổi Trẻ Cười kể chuyện vui có thật về Snow White và 7 chú lùn giáo sư bạc đầu đã cung kính đi thăm học trò Chị Ba trong ngày nhà giáo (thay vì trò phải đến thăm thầy), sau đó báo cũng được vỗ vai khuyên không nên đụng tới Chị Ba. Riêng Ban Việt ngữ của đài BBC, sau những thắc mắc của thính giả về cái bằng PhD của Chị Ba, dù đã có đủ hồ sơ về cái bằng này đã có được như thế nào, Chị Ba đã có mặt mấy ngày, dự lớp mấy giờ ở Viện Hòang Gia Kịch Nghệ trên đất Anh, vẫn chưa công bố sự thật này vì lý do nào thì thính giả chưa rõ lắm.

Giờ thì sau khi xuất hiện với tần suất dày đặc trước những lúc cần kinh doanh mình trên các phương tiện truyền thông trong ngoài nước (Cộng lẫn chống Cộng), lúc tuyên bố chuyển Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán, lúc được vinh danh như một kỷ lục gia chuyển kinh Phật, lấy danh nghĩa đi du lịch rồi đi hát có trên mấy mươi xuất ở các quán ăn, hí trường sòng bài mà các poster chưng hình còn đó, lấy cớ đem tiền về VN làm từ thiện để không đóng thuế cho Mỹ, đã có trong tay đất, nhà và mấy kiểng chùa trên hai đất Mỹ, Việt; chuyển sang giai đọan kinh tế khó khăn, các bầu show không săn đón những danh tiếng trước đây nay hết hơi phải dùng máy hát nhép nữa, Chị Ba lại cố xốc thêm một lần cờ nữa, để thất vọng thêm bao người từng yêu mến Chị Ba tài sắc một thời, lòng thiện giúp đời ít nhiều cũng có nhưng phải chăng vì coi cái ngã của mình lớn quá, mà hiện tại giống một nhân vật trong chuyện Kim Dung là Âu Dương Phong, phải đi chỏng ngược, đầu lộn dưới chân, nhiều khi nói mà cũng không hiểu mình nói gì, tác hại ra sao với chung quanh và cả chính mình.

Cũng là một trong những siêu sao vướng bệnh quên, từng đóng Kiều rồi, xin chị nhớ giùm câu:

Mai sau dù đến thế nào
Kìa gương nhật nguyệt, nọ đao quỷ thần.

Xưa không ai ép chị đội chiếc nón ấy, giờ cũng đừng nên đổ thừa có tham khảo các VIP đương thời. Nhắc chị thêm một chuyện nữa thôi, gần bẩy bó rồi, có xốc nhiều nước cờ xin chớ quên, cờ nào cũng có ít nhiều vết đỏ, đó là máu của dân lành vô danh vô tội sau các cuộc can qua, dội bom, thảm sát, bị hiếp đáp thác oan, hãy uốn lưỡi, uốn tay nhiều lần trước khi nói, viết và trước khi tự chụp các lọai nón lên đầu.

KỲ NAM

Thứ Ba, 17 tháng 8, 2010

Bai nay chac sap bi go xuong roi !!!Bài học lịch sử về sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô

Brezhnev trong một kỳ nghỉ ở Krym.

Báo Thời Nay - một ấn phẩm của báo Nhân Dân - mới đây đăng loạt bài viết về những bài học trong sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô. Bài dưới đây nói về tầng lớp đặc quyền gồm các cán bộ đảng viên cấp cao của nước này.

Vào một ngày mùa thu năm 1988, đột nhiên có hàng trăm, hàng nghìn nguời tụ tập bên ngoài của một cửa hàng ở thủ đô Matxcơva. Nguyên nhân gì đã khiến cho cửa hàng không phải là lớn này trở thành tâm điểm của dư luận?

Đây là một cửa hàng đặc biệt, chuyên phục vụ một số khách hàng đặc biệt, và hôm đó là ngày cuối cùng trước khi cửa hàng tuyên bố bị đóng cửa. Người dân Liên Xô gọi các khách hàng đặc biệt của cửa hàng đặc biệt này là những người thuộc tầng lớp đặc quyền. Tầng lớp đặc quyền này từng bước hình thành dưới thời Brezhnev và tiếp tục phát triển dưới thời Gorbachev; và đó là một chất xúc tác gây nên sự tan rã từ bên trong Đảng CS Liên Xô, là cũng một trong các nhân tố quan trọng thúc đẩy biến cố Liên Xô.

Sau Cách mạng Tháng Mười, chiến tranh và nạn đói đe dọa nghiêm trọng đối với chính quyền Xô Viết còn non trẻ. “Rồi sẽ có bánh mì và sẽ có tất cả”, câu nói đầy ấn tượng của Vasili trong bộ phim Lenin trong Tháng Mười đã trở thành câu nói thịnh hành một thời ở Liên Xô.

Ngày nay, người ta khó có thể tin rằng những người làm việc gần gũi với Lenin từng nhường nhịn, chia sẻ cho nhau chỉ một mẩu bánh mì, nhưng đây là sự thật của lịch sử. Nhà làm phim đã dựa vào một câu chuyện có thật hồi ấy để dựng nên tình tiết này trong phim. Năm 1918, chính quyền Xô Viết gặp phải một cuộc khủng hoảng lương thực. Tại một cuộc họp của UBND, Churuva lúc đó đang là Ủy viên nhân dân phụ trách vấn đề lương thực, bất ngờ bị ngất xỉu. Người ta phải khẩn cấp điều bác sĩ đến khám. Khám xong, bác sĩ kết luận, Churuva bị ngất xỉu do đói!

Là quan chức cao nhất phụ trách vấn đề lương thực của chính quyền Xô Viết, Churuva nắm trong tay quyền điều động hàng triệu, thậm chí hàng chục triệu tấn lương thực, nhưng lại không giữ cho riêng mình số thực phẩm đủ để no bụng. Ngay sau đó, Lenin kiến nghị xây dựng nhà ăn điều dưỡng để bảo đảm cho những đồng chí đang ngày đêm lo lắng cho nhân dân được no. Điều này hoàn toàn đúng và không có gì phải bàn cãi.

Nhà ăn điều dưỡng do Lenin khởi xướng năm ấy dần dần mở rộng thành cửa hàng cấp đặc biệt, rồi dần dần quy mô và số lượng của nó đã có sự thay đổi căn bản. Sau nửa thế kỷ, chỉ có những cán bộ đặc biệt cao cấp của Liên Xô mới có thể ra vào tòa nhà không hề có biển hiệu này. Đây là cửa hàng cung cấp đặc biệt lớn nhất Matxcơva.

Vào dịp cuối tuần, những chiếc xe hơi lũ lượt kéo đỗ trước của tòa nhà, chật kín cả dãy phố. Ở đây có đủ các loại hàng hóa xa xỉ của nước ngoài, như rượu brandy của Pháp, whisky của Scotland, thuốc lá thơm Mỹ, chocolate Thụy Sĩ, coffee của Italia, giầy da của Áo, len dạ Anh, máy thu thanh Đức, máy ghi âm Nhật Bản,... có cả các mặt hàng khan hiếm ở Liên Xô.

Báo chí đã nói công khai rằng, đối với những nhân vật thuộc tầng lớp trên thì chủ nghĩa Cộng sản đã được xây xong từ lâu! Chỉ riêng Matxcơva đã có hơn 100 cửa hàng như vậy.

Tầng lớp đặc quyền trong điện Kremlin có quy tắc riêng của mình, chức vụ càng cao đặc quyền càng lớn thì sự chênh lệch về đãi ngộ vật chất mà họ được hưởng so với dân thường càng lớn. Đương nhiên những người được hưởng đặc quyền này chỉ là một bộ phận rất nhỏ trong đội ngũ cán bộ Đảng CS Liên Xô. Thế nhưng thứ đặc quyền này phải chăng là căn nguyên đầu tiên của sự bất mãn xã hội mà tầng lớp này đã gây ra?

Thời kỳ Liên Xô vừa bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, mọi người phấn đấu gian khổ hướng tới một cuộc sống mới. Khi đang phải phấn đấu vất vả để thực hiện lý tưởng chung, xã hội không chấp nhận những hàng vi dành chiếm độc quyền, mưu lợi cá nhân. Vào lúc nhà nước, dân tộc đứng trước nguy cơ tồn vong, nếu nói cán bộ lãnh đạo Đảng CS Liên Xô có đặc quyền gì đó thì đó chính là xung phong ra trận, xả thân chiến đấu, tắm máu sa trường, lãnh đạo nhân dân đánh đuổi quân xâm lược trong tiếng réo hờn căm của Kachiusa.

Thời Stalin, yêu cầu của Đảng với cán bộ nhìn chung rất nghiêm khắc. Khi đó Liên Xô cũng đang phải đương đầu với môi trường chiến tranh tàn khốc và cả sóng to gió lớn của cuộc đấu tranh chính trị. Từng đoàn cán bộ, đảng viên đi ra tiền tuyến. Sự thay đổi cán bộ lãnh đạo diễn ra thường xuyên, tầng lớp đặc quyền không có cơ hội hình thành.

Sau khi lên nắm quyền, Khrushchev đã thực hiện chính sách “cán bộ đặc biệt” theo quy định tại Điều 25 - Điều lệ Đảng CS được Đại hội 22 của Đảng CS Liên Xô thông qua. Cán bộ đảng viên cần thay đổi thường xuyên. Tại các buổi bầu cử diễn ra tại tổ chức đảng cơ sở hàng năm đều có hàng loạt bí thư bị thay thế sau khi kết thúc nhiệm kỳ. Tỷ lệ thay đổi cán bộ lãnh đạo lên tới 60%. Bởi vậy, trong thời kỳ này Liên Xô vẫn chưa hình thành tầng lớp người thật sự được hưởng đặc quyền trong Đảng. Tầng lớp đặc quyền trong Đảng CS Liên Xô chỉ từng bước hình thành sau khi Brezhnev nắm quyền, nhất là vào giai đoạn cuối thời Brezhnev.

Tháng 4-1966, Đảng CS Liên Xô tổ chức Đại hội 23. Đây là Đại hội Đảng đầu tiên diễn ra sau khi Brezhnev nắm quyền điều hành công tác của Ban chấp hành trung ương. Đại hội đã sửa đổi Điều 25 trong Điều lệ Đảng. Brezhnev đặc biệt tâm đắc câu nói của một người có thời gian dài phụ trách công tác ý thức hệ trong Đảng rằng: “Sự ổn định của đội ngũ cán bộ là sự bảo đảm cho thành công”.

Brezhnev theo đuổi sự ổn định của đội ngũ cán bộ một cách phiến diện sau đó phát triển thành chế độ chức vụ. Thực chất là chế độ chức vụ suốt đời, áp dụng với cán bộ lãnh đạo. Các cán bộ cao cấp của Liên Xô như Brezhnev, Suslov đều qua đời khi còn đương chức. Chính sách cán bộ của Brezhnev đã khiến cho các thành viên trong tầng lớp lãnh đạo của Đảng CS Liên Xô gần như không có biến động trong suốt một thời gian dài. Tại Đại hội 23 của Đảng CS Liên Xô, số ủy viên tái đắc cử và liên nhiệm đạt tỷ lệ 79,4%. Tại Đại hội 25, không tính số ủy viên trung ương đã qua đời thì tỷ lệ Ủy viên trung ương liên nhiệm cao tới 90%.

Trong hai nhiệm kỳ Đại hội Đảng cấp tỉnh từ năm 1978 đến năm 1981, chỉ có năm trong số 156 vị trí bí thư tỉnh ủy có sự thay đổi về nhân sự. Đến mùa xuân năm 1978, độ tuổi bình quân của 58 vị phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng và bộ trưởng là 70. Thực tế này đã tạo ra một đội ngũ lãnh đạo già nua, đương chức suốt đời.

Hậu quả của chế độ cán bộ này là vừa khiến cho tầng lớp lãnh đạo thiếu đi sức sống vừa dễ hình thành một lực lượng hạt nhân trong tầng lớp đặc quyền. Xét về khách quan, chế độ cán bộ lãnh đạo suốt đời làm cho đội ngũ, tầng lớp đặc quyền không ngừng mở rộng, kéo theo sự không ngừng tăng lên cơ quan hành chính được lập ra để bố trí ngày càng nhiều cán bộ lãnh đạo.

Cuối những năm 70 của thế kỷ trước, số cơ quan cấp ban, bộ trực thuộc T.Ư Đảng CS Liên Xô lên tới 20. Trong đó, đại bộ phận trùng lặp với các cơ quan của chính phủ. Thậm chí tên gọi của những ban, bộ này cũng giống hệt nhau. Như Ban Nông nghiệp, Ban Công nghiệp quốc phòng, Ban Công nghiệp nặng và năng lượng, Ban Chế tạo cơ khí, Ban Văn hóa... Dưới thời Brezhnev, Đảng CS Liên Xô đã tạo đất cho tầng lớp đặc quyền sinh sôi, nảy nở. Nhiều cán bộ cấp cao không khỏi sửng sốt trước chế độ đãi ngộ đặc biệt mà họ được hưởng ngay sau khi được đề bạt.

Ligachev kể lại trong hồi ký rằng: Năm 1983, khi được bổ nhiệm làm Trưởng ban Tổ chức T.Ư Đảng CS Liên Xô, ngay ngày hôm sau ông đã được cấp một chiếc xe ôtô cao cấp. Khi ông yêu cầu thay cho mình một chiếc xe đẳng cấp thấp hơn một chút, không ngờ ông bị Chánh văn phòng T.Ư Đảng phê bình lại rằng: đồng chí làm như thế là một sự đòi hỏi đặc biệt, làm mất phong độ của cơ quan. Nếu không ở trong cuộc, người ta không thể tưởng tượng được những hưởng thụ do đặc quyền mang lại.

Dưới thời Brezhnev, con cái tầng lớp đặc quyền chỉ cần dựa vào địa vị đặc quyền của bố mẹ là có thể dễ dàng được vào học tại những trường đại học tốt nhất. Sau khi tốt nghiệp lại được nhận vào các ban, ngành ưu việt nhất, đồng thời nhanh chóng được nắm giữ những cương vị quyền lực quan trọng. Thậm chí, đặc quyền còn có thể trở thành “lá bùa hộ mệnh” để cán bộ lãnh đạo mặc sức tham nhũng mà không bị cản trở.

Rubanov, con rể của Brezhnev, đã dựa vào quyền thế của bố vợ, quan lộ phất như “diều gặp gió”. Chỉ trong vòng 10 năm, ông ta đã từ một sĩ quan cấp thấp trở thành thượng tướng, sau đó được bổ nhiệm làm Thứ trưởng thứ nhất Bộ Nội vụ. Trong thời gian này, ông ta đã tham ô, nhận hối lộ 650 nghìn rúp, gây ra vụ án “phò mã” chấn động cả nước. Còn Yuri, con trai Brezhnev thì được bổ nhiệm làm Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại thương Liên Xô khi còn rất trẻ.

Tháng 1/1982, tại sân bay Matxcơva, một công dân Liên Xô chuẩn bị lên máy bay ra nước ngoài du lịch, nhân viên hải quan đã tìm thấy một lượng lớn kim cương cất giấu trong chiếc túi bí mật trên người. Kết quả điều tra cho thấy, đây là sưu tập cá nhân của nữ huấn luyện viên dạy sư tử ở Rạp xiếc Trung ương. Sau đó không lâu, chuyên gia mỹ thuật và giám đốc của rạp xiếc bị bắt giữ. Người ta còn tìm thấy số kim cương trị giá khoảng 1 triệu USD và nhiều đồ vật quý giá khác tại nhà riêng của chuyên gia mỹ thuật và khoảng 500 nghìn bảng Anh cùng nhiều đồ trang sức, tác phẩm hội họa đắt tiền tại nhà riêng của giám đốc. Đáng nói là, những thứ này đều thuộc sở hữu của Galina - con gái Brezhnev.

Câu chuyện chưa dừng lại ở đó, vụ buôn lậu đồ trang sức, kim cương còn liên quan Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại thương Yuri. Vụ việc này lẽ ra thuộc thẩm quyền của Bộ Nội vụ xử lý, nhưng sau đó lại được chuyển sang cho Ủy ban An ninh quốc gia (KGB). Trong khi Phó Chủ tịch thứ nhất của KGB là Svigun, người trực tiếp chỉ đạo vụ án này lại là anh em cọc chèo với Brezhnev. Kết quả là, câu chuyện kết thúc ở đó. Con trai Brezhnev là Yuri và con gái của ông ta là Galina vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật.

Trong 17 năm giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Selokhov đã lợi dụng chức quyền, biến của công thành của tư. Ông ta không chỉ chiếm khu biệt thự cấp nhà nước lớn nhất của Bộ Nội vụ và nhà khách Bộ Nội vụ làm của riêng mà còn chiếm một tòa chung cư rất lớn ở số 24, phố Hensen. Một lượng lớn tài sản cá nhân của Selokhov và người nhà ông ta được cất giữ trong khu biệt thự cấp nhà nước và tòa chung cư này. Tại một khu biệt thự, chỉ tính thảm trải nhà đã xếp tới bảy tầng, dưới gầm giường nhét đầy những bức tranh sơn dầu của các danh họa Nga.

Thứ Sáu, 13 tháng 8, 2010

Nhân giống thành công khoai tây trong không khí : nguoi Viet gioi that

http://www.tienphong.vn/Thoi-Su/509617/Nhan-giong-thanh-cong-khoai-tay-trong-khong-khi.html

02:12
| 13/08/2010

Nhân giống thành công khoai tây trong không khí

TP - Sau hơn một năm tiến hành thử nghiệm, kỹ sư (KS) sinh học Lê Văn Cường (phường 8, TP Đà Lạt) đã nhân giống khoai tây thành công trong môi trường không khí (khí canh) chứ không trồng dưới đất theo cách thông thường.

Cây khoai tây tạo củ trong không khí
Cây khoai tây tạo củ trong không khí.

Đến nay KS Cường đã thử nghiệm nhân giống 3 vụ khoai tây theo công nghệ khí canh trên diện tích 500m² tại khu vực Đất Mới (TP Đà Lạt). Cây không trực tiếp trồng vào đất (địa canh) hoặc nhúng vào môi trường dung dịch (thủy canh) mà được đặt cố định trên một giá đỡ và rễ cây phát lộ hoàn toàn trong không khí. Nhờ bộ rễ lộ ra ngoài nên hoàn toàn chủ động điều khiển quá trình hình thành tia củ, nếu tia nhiều thì số lượng củ sẽ nhiều. Tuy nhiên để đủ độ tối cho cây phát triển củ, có thể che bộ rễ bằng thùng xốp và phủ bạt ni lông đen.

Định kỳ, KS Cường cho phun nước dưới dạng sương để kích thích rễ phát triển. Phân bón và chất dinh dưỡng được hòa tan trong nước và cũng tưới theo kiểu phun sương cho rễ cây hấp thụ. Toàn bộ quy trình chăm sóc cây đều thực hiện bởi hệ thống thiết bị máy móc hiện đại (máy bơm, bể chứa dinh dưỡng, các đường ống dẫn dinh dưỡng…) và được lập trình chi tiết trong máy tính.

Từ 5 đến 15 phút hệ thống tưới sẽ tự động phun mấy mươi giây; thời gian phun và số lần phun trong ngày được điều chỉnh hợp lý tùy theo độ tuổi, tình trạng sinh lý của cây và nhiệt độ môi trường bên ngoài. Nếu cây không hấp thụ hết dung dịch phun, có thể thu hồi, lọc, bổ sung để sử dụng cho lần sau. Nhờ vậy, trồng khoai tây bằng khí canh có thể giảm trên 90% chi phí về nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật.

Được đặt trong môi trường thoáng khí, bộ rễ dễ hô hấp, hấp thụ dinh dưỡng nên sinh trưởng nhanh hơn khi trồng dưới đất: Một gốc khoai tây trồng theo phương pháp này cho tới 20 - 25 củ giống, trong khi trồng trong đất trung bình chỉ từ 4 - 5 củ. Hệ số cây giống cũng được nhân nhanh và rẻ hơn nhiều so với phương pháp nhân cấy invitro:

Trong vòng một tháng, 1 cây khoai tây sẽ nhân ra từ 8 - 11 cây con và chỉ trên diện tích 1m² có thể tạo ra cả nghìn cây giống sạch bệnh khắc phục tình trạng khan hiếm cây giống mùa khoai tây chính vụ; chi phí sản xuất cây giống thấp hơn nhiều nhờ đầu tư ban đầu nhỏ hơn. Ngoài ra, công nghệ khí canh không sử dụng đất nên môi trường có độ sạch cao, cây ít bị nhiễm bệnh và cho ra sản phẩm củ giống sạch đúng chuẩn, có độ kháng bệnh cao.

Tuy nhiên, KS Cường cho biết vẫn đang tìm cách nâng cao năng suất bởi người chuyển giao công nghệ khí canh trong nhân giống khoai tây cho ông là GS.TS Nguyễn Quang Thạch (Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Sinh học Nông nghiệp, Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội) đã đạt từ 40 đến 70 củ giống/gốc khi triển khai đề tài nghiên cứu cấp nhà nước trong lĩnh vực này.

GS Thạch cùng các cộng sự đã dày công nghiên cứu công nghệ khí canh trong điều kiện Việt Nam suốt nhiều năm ròng. Ông đã chuyển giao công nghệ cho những người giàu kinh nghiệm trồng rau, củ sạch ở những vùng trọng điểm khoai tây của nước ta (Hà Nội và Lâm Đồng) như KS Cường để tiến hành thử nghiệm nhằm hoàn thiện quy trình trước khi ứng dụng rộng rãi ngoài thực tế sản xuất.

Từ những kết quả nghiên cứu và thử nghiệm khả quan nói trên, có thể hy vọng công nghệ khí canh tạo nên sự đột phá trong việc tạo củ giống gốc trong ngành khoai tây: Hạ giá thành, nhân giống với số lượng lớn; thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp công nghệ cao mới với năng suất cao, chất lượng tốt, sản phẩm sạch…

Kim Anh

Thứ Hai, 9 tháng 8, 2010

Na Uy sửa sách giáo khoa chiến tranh Việt Nam

Na Uy sửa sách giáo khoa chiến tranh Việt Nam

http://luongtamconggiao.wordpress.com/2010/08/10/na-uy-s%e1%bb%ada-sach-giao-khoa-chi%e1%ba%bfn-tranh-vi%e1%bb%87t-nam/
10.08.2010

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

Một bức hình nạn nhân cuộc thảm sát Mậu Thân nay đã được ghi chú chính xác lại, sau nhiều năm bị sách giáo khoa ở Na Uy gán cho vụ Mỹ Lai. Ðó là một thay đổi nhỏ, trong nhiều thay đổi, mà một bác sĩ gốc Việt cho là “cần chấn chỉnh trong sách giáo khoa” nước này.

Ðó là một bức hình khá quen thuộc. Người phụ nữ gầy gò, nắm chặt chiếc nón lá, vật vã khóc thương bên xác thân nhân mình. Ðây là bức hình quen thuộc mà rất nhiều người nhận ra là cảnh sau Tết Mậu Thân, tại cố đô Huế, khi người ta khám phá ra những nấm mồ tập thể chôn hàng ngàn nạn nhân bị Cộng Sản giết chỉ trong vài ngày chiếm đóng cố đô.

Nhưng, trên một cuốn sách giáo khoa của nhà xuất bản Cappelen, được sử dụng rất nhiều tại Na Uy, tấm hình này lại bị ghi chú khiến người đọc có cảm tưởng đây là nạn nhân vụ Mỹ Lai. Lỗi lầm quá rõ rệt này khiến hai người Na Uy gốc Việt lên tiếng, không phải chỉ vì bức hình đó, mà vì nhiều dấu hiệu thiên vị khác trong sách giáo khoa Na Uy.

Hai người này là ông Tạ Văn Thông và Bác Sĩ Nguyễn Ngọc Khang. Trên một bài tham luận đăng trên báo Aftenposten ngày 21 tháng 4, 2010, hai tác giả phân tích cả một nền giáo dục Na Uy, trong đó cuộc chiến Việt Nam được dạy mà không có một chút bóng dáng nào của người dân miền Nam Việt Nam.

Cuốn sách mà hai tác giả này chú trọng vào, là sách của nhà xuất bản Cappelen. Giống như ở Mỹ, ở Na Uy nhà nước không ép buộc dùng sách giáo khoa nào, mà tùy các trường quyết định, và Cappelen là một trong hai nhà xuất bản sách giáo khoa lớn nhất Na Uy.

“Thật là sai trái, theo chúng tôi, khi mà sách giáo khoa Na Uy lại trình bày chiến tranh Việt Nam như một cuộc chiến tranh Mỹ,” hai tác giả Tạ Văn Thông và Nguyễn Ngọc Khang viết. “Tình hình là như vậy, sách sử của nhà Cappelen in năm 2008 dùng cho trường trung học, với Kennedy, Johnson, Nixon và Martin Luther King. Về năm mà Mỹ mang quân tới Việt Nam và năm họ rút ra. Về số người Mỹ thiệt mạng tại đó.”

Chiến tranh Việt Nam không có Việt Nam

“Học sinh, vì vậy, được học hình ảnh người lính Mỹ và phóng viên Mỹ tiến về phía trước. Tại sao người miền Nam Việt Nam lại vắng mặt ngay trên đất nước của họ, mặc dù họ từng chiến đấu trong cuộc chiến ngày xưa đó, đánh nhiều trận đánh và hy sinh 250,000 người lính, so với 58,000 lính Mỹ?” – hai tác giả bài báo này viết.

Trong một cuộc phỏng vấn tại tòa soạn nhật báo Người Việt, Bác Sĩ Khang nói thêm về những điều không công bằng trong sách giáo khoa Na Uy: “Những trang viết về chiến tranh Việt Nam thì họ nói chẳng hạn chế độ Việt Nam Cộng Hòa tham nhũng, độc tài, không có gì tốt hơn, xong họ còn viết mấy hàng về cuộc thảm sát Mỹ Lai của Mỹ, xong rồi dường như để minh họa phần đó, họ in hình của người đàn bà này và họ ghi đây là người đàn bà đang khóc chồng sau một vụ thảm sát. Tuy họ không nói thẳng, cách họ làm khiến người đọc có cảm tưởng đây là hình từ vụ Mỹ Lai.”

Chiến tranh Việt Nam


Bác Sĩ Khang có một giả thiết về lý do tại sao người Mỹ xem nhẹ công lao của miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến đã qua. Giả thiết của ông dựa trên một lý thuyết của giới trí thức cấp tiến ở Mỹ, thuyết “Orientalism.”

Theo thuyết “Orientalism,” người phương Tây có cái nhìn lệch lạc về người phương Ðông, trong đó “họ không cho người phương Ðông là con người bình thường, có suy nghĩ, có hành động của một cá nhân như người phương Tây. Mặc khác, họ có hai cách nhìn nhận, một là thần thoại hóa con người phương Ðông, hai là hạ cấp hóa con người phương Ðông.”

Về thần thoại hóa, Bác Sĩ Khang cho rằng “họ thần thoại hóa phe Cộng Sản Việt Nam,” còn hạ cấp hóa, thì, theo ông, “họ hạ cấp hóa kẻ thù, họ nói bỏ bom vào thời kỳ đồ đá thì họ hạ cấp hóa kẻ thù Cộng Sản,” và hơn thế nữa, “họ hạ cấp hóa chính đồng minh của họ.”

Bác Sĩ Khang trích dẫn Giáo Sư Renny Christopher, Ðại Học Cal State Channel Island, và trong chuyến đi du lịch qua Mỹ, ông đã bỏ công ra lái xe lên Channel Island để phỏng vấn giáo sư này.

Chỉnh sửa tấm hình

Ngay sau khi viết bài tham luận, hai tác giả gởi bài viết tới nhà xuất bản Cappelen, và ngạc nhiên đạt được kết quả gần như ngay lập tức. Bác Sĩ Khang kể lại với Người Việt: “Chúng tôi gởi email tới nhà xuất bản… hỏi xin cho biết ý kiến về bài báo của chúng tôi. Ngày hôm sau nhà xuất bản trả lời.”

Bức hình nạn nhân vụ thảm sát Tết Mậu Thân, bị sách giáo khoa Na Uy gán cho Mỹ Lai, nay được đính chính nhờ sự can thiệp của hai tác giả Tạ Văn Thông và Nguyễn Ngọc Khang.


Nhà xuất bản cho biết: “Sau bài này, chúng tôi phải đi hỏi lại cơ quan cho chúng tôi hình và chúng tôi công nhận rằng lời của chúng tôi là sai.”

Họ sửa lại lời chú thích, và mới bắt đầu sửa trên Internet. Tuy nhiên, nhà Cappelen cũng báo với Bác Sĩ Khang, rằng “trong kỳ tái bản sắp tới chúng tôi sẽ sửa lại.”

Trong hàng chữ mới, ghi trên Internet, theo Bác Sĩ Khang: “Tôi có thấy họ nói là năm 1968, Cộng Sản tấn công Việt Nam Cộng Hòa và phía bên Mỹ lúc chiếm lại được Cố đô Huế họ thấy Cộng Sản giết mấy ngàn người dân sự bị cho là cộng tác với phía địch.”

Vui mừng với kết quả đạt được, hai tác giả tiếp tục viết cho nhà xuất bản khác. “Họ nói là chúng tôi sẵn sàng nghe ý kiến của các anh, các anh cứ viết một danh sách cho biết sử liệu nào chúng tôi viết có phần sai, chúng tôi sẽ đưa cho tác giả để tác giả xem xét ý kiến đó,” Bác Sĩ Khang kể lại.

Hai tác giả Tạ Văn Thông và Nguyễn Ngọc Khang cùng làm việc với hội người Việt tị nạn tại Na-Uy để tiếp tục thay đổi những điều chênh lệch trong sách giáo khoa Na Uy. Bác Sĩ Khang cho biết, khi thấy sách viết sai về Việt Nam: “Nhiều người nói thấy vậy cũng tức, cũng nói cho con biết cái nào đúng, cái nào sai, nhưng tôi chưa thấy người nào viết lên báo, phản đối về những điều viết sai trong sách giáo khoa. Hoặc có thể họ làm rồi nhưng tôi chưa biết tới.”

Chủ Nhật, 1 tháng 8, 2010

Tô Hải - Phấn đấu ký số 8: Tuyên giáo, cái ngành nghề gì vậy?

Tô Hải

Entry trước, tớ lấy hình tượng con ”kỳ đà bị cái đuôi của nó thọc vào họng" nhằm nói đến sự bất lực của các cơ quan lãnh đạo cao nhất, đặc trách văn hoá tư tưởng càng ngày càng bị cái đuôi văn hoá - văn nghệ của các vị ấy, đã coi các lời tuyên và giáo của các vị cao nhất nghành tuyên giáo chẳng có một ly ông cụ giá trị gì(!) bằng các hành động cụ thể trong sáng tác, biểu diễn, xuất bản (công khai và “chui”), bằng những lý lẽ bác bỏ công khai các lý luận kiên trì Mác-Lê đầy tội lỗi của các vị Mác-Lê-Mao tiền nhiệm và đương nhiệm! v.v...

Tưởng mình đã khá là… ”bạo phổi” Vậy mà... chỉ một tuần sau,đọc trên các trang web, blog... của các nhà văn (hầu hết đều có thẻ Đảng) trước thềm Đại Hội Nhà Văn lần VIII mới thấy các nhà văn trẻ (với tớ) ngày nay hơn hẳn lũ chúng tớ một vài cái đầu. Họ dám nói dám viết ra những điều mà cách đây 40 năm thì chỉ có mà... ”Cả nhà xuống hố”. Trước khi đọc entry mới của tớ, hãy vào những đường link sau đây để thêm tin tưởng vào chuyện "cái đuôi đang chẳng chịu cái đầu" là có thật đi đi các bạn.

http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://nguyentrongtao.org/tr%E1%BA%A7n-m%E1%BA%A1nh-h%E1%BA%A3o-ch%E1%BB%89-co-s%E1%BB%B1-th%E1%BA%ADt.xml

http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://nguyentrongtao.org/bui-minh-qu%E1%BB%91c-t%E1%BB%95-qu%E1%BB%91c-va-t%E1%BB%B1-do.xml

http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://nguyentrongtao.org/nhin-l%E1%BA%A1i-d%E1%BA%A1i-h%E1%BB%99i-vii-h%E1%BB%99i-nha-van-vi%E1%BB%87t-nam.xml

http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://nguyentrongtao.org/h%E1%BB%99i-nha-van-keu-g%E1%BB%8Di-doan-k%E1%BA%BFt.xml

http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://trangha.wordpress.com/2010/07/29/em-khong-phai-nha-van/

Sau đây, là chuyện về cái đầu:

TUYÊN GIÁO: CÁI "NGÀNH NGHỀ" GÌ DZẬY?

Ngày hôm nay, 1/8/2010, người ta kỉ niệm rình rang 80 năm (?) "truyền thống ngành tuyên giáo VN", một ngành mà có lẽ trên thế giới rất khó ai dịch nổi ra là ngành nghề gì nếu không hiểu nổi nội dung của 2 chữ Tuyên và Giáo của chủ nghĩa Mác-Lê! Nó không chỉ đơn thuần là Tuyên truyền (propagande) và Giáo Dục (éducation) như ở mọi xã hội không cộng sản.

Riêng tớ, gần cả cuộc đời, nằm trong cái cơ cấu văn nghệ, cái đuôi của "Con tắc kè tuyên giáo", tớ có đầy đủ kinh nghiệm xương máu và dẫn chứng không thể chối cãi là: con tắc kè tuyên giáo này, từ khi ra đời đã có truyền thống "xúi giục" mọi người dân Việt Nam đói khổ đứng lên để tiêu diệt đồng loại mình bằng khẩu hiệu "Trí, phú , địa, hào - đào tận gốc, trốc tận rễ". Bài "Ngày quốc tế đỏ" (1/8/1930) nếu đúng là bài tuyên và huấn đầu tiên như các ngài Huấn Tuyên đương đại thì không thật chính xác. Nó phải mở đầu bằng chính cái đường lối "Đào" và "Trốc" này mới thật là chính xác! Những Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và sau này là Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo cùng một loạt văn nghệ sĩ "phản động", "phản đảng", "phản bội tổ quốc" thuộc nhóm "nhân văn", "xét lại" là đường lối và hành động cụ thể mà tớ dám đoan chắc không một cán bộ tuyên giáo đương chức nào dám lưu lại trong "Viện Bảo Tàng Tuyên Giáo" mới mở cửa. Chẳng lẽ lại trương ra những hình ảnh, những văn bản, những cá nhân đã tuyên truyền, đã xúi dại con đấu cha, vợ đấu chồng, bạn bè, đồng chí đấu nhau, đưa nhau ra xử án và bắn bỏ hay sao? Tất cả đều có bàn tay của cái của cái con tắc kè Tuyên và Giáo cả đấy! Ông Tô Huy Rứa mới hôm qua còn khẳng định là "Ngành tuyên giáo luôn giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng". Không những thế, ông còn tuyên bố phải: "Kiên định những nguyên tắc cơ bản là nhân tố quyết định bảo đảm công tác tuyên giáo đúng hướng... Đồng thời kiên định phải đi liền với sáng tạo và phát triển" (???). Phải chăng ông nói: "Ôm chặt lấy chủ nghĩa Mác Lê để khi cần phải tiến thì tiến, khi cần sang trái, sang phải, tiến lên hoặc tháo lui thì ta sẵn sàng... thay đổi sắc màu... một cách... không buông rời... Đảng tính?". Nói tóm lại: Tuyên Giáo là một cái nghề sẵn sàng bẻ cong giọng lưỡi và ngòi bút để tuyên truyền và giáo dục một cách cưỡng bức cả triệu triệu con người phải nghĩ và làm theo những ý đồ và mục đích chính trị của một nhóm người, thậm chí của một cá nhân nào đó! Ai có ý nghĩ hành động khác với những gì Tuyên Giáo đã đề ra thì đều bị coi là "phản động", "phản tổ quốc". Những người cúi đầu, chịu đựng, giả vờ nghe theo, làm theo một cách cưỡng bức thì được coi là "tiến bộ" thậm chí được kết nạp vào đảng, được "đại diện ưu tú của giai cấp công nhân", được làm "đỉnh cao trí tuệ của nhân loại"! Cũng chẳng khó giải thích gì cái chuyện khi con tắc kè Tuyên Giáo đẩy mạnh phổ biến lá cờ búa liềm và hát hò lên những câu nửa Tây, nửa Ta: "Lành-té-na-xiò-na-à-a-a-lớ" sẽ là xà hôi tương lai", rồi động viên cả triêu người sắp chết đói bằng những câu "đấu tranh này là trận cuối cùng"... để.... "Bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay mình..." đã làm cho hàng triệu cái bộ xương người phá kho thóc, "lập quyền dân" rồi xung phong đi Vệ Quốc để "phanh thây uống máu quân thù!" mà.. "lòng có mong chi đâu ngày trở về", dù có "Da ngựa bọc thây lòng này vẫn vui" !

Trong "cải cách ruộng đất", trong "sửa sai" cái đuôi văn nghệ của con Tắc kè T-G còn "lá mặt lá trái" hơn gấp ngàn lần. Những ai đã vì sợ, vì hèn, đã phải "rặn" ra những "sáng tác" đứng hẳn về phía nông dân", "đánh xập uy thế chính trị của bọn địa chủ" làm sao có thể huỷ đi những "tội ác văn nghệ", những "tên tuổi đồng phạm" đang còn được lưu trữ bằng giấy trắng mực đen trên khắp thế giới ở cái thời đại Internet này?

Thế rồi, cũng chính cái con tắc kè đó lại bắt cái đuôi của nó phải ngoe nguẩy, phải đem các thành quả của cải cách ruộng đất vào hợp tác xã và cuối cùng là tài sản của toàn dân để rồi dần dần vào tay các "tập đoàn lợi ích" trong nước và nước ngoài. Không gì trâng tráo hơn là một kẻ đập phá cả ngôi nhà của mình đi, để rồi xây lại một ngôi nhà khác nghiêng ngả, lở loét, chẳng ra kiểu Tây lẫn kiểu Tàu, rồi lại tự mình vỗ ngực là "nhờ có tao phá nó đi nên bây giờ mày mới có cái nhà mới"! (lời của ông tổng Mười kể công đổi mới của Đảng.)

Những chuyện tréo ngoe nói láo, nói bậy, nói dối thường xuyên, liên tục ngày một công khai, trắng trợn hơn đã làm cái đuôi văn hoá văn nghệ từ im lặng, hoặc chịu đựng ngoe nguẩy theo hoặc nằm im cho đến cái ngày quê hương của chủ nghĩa Mác Lê đổ cái rụp. Lên gân, ú ớ, nguỵ biện, bịt tai, bịt mắt, nắm chắc tất cả các cơ quan ngôn luận, kiểm soát thông tin truyền thông không còn tác dụng khi internet ra đời! Cùng với chuyện Tổng Mạnh ôm hôn ông Medvedev và tuyên bố "đoàn kết hữu nghị truyền thống hợp tác" thì trên internet không thiếu gì những hình ảnh và lời tuyên bố của cái người ông Mạnh vưa ôm hôn là rằng: "Stalin là kẻ sát nhân," rằng: "tội ác của chủ nghĩa cộng sản là phải hồi tố không thời hạn" rồi ông ta cho quẳng nốt mấy cái tượng Lê nin còn xót lại vào sọt rác. Trí thức nào, văn nghệ sĩ nào có cái đầu và lương tâm mà chẳng... cười mỉm, cười ruồi, cười khểnh? Không thiếu người còn làm văn, làm thơ, viết trên blog về những lời nói và hành động "chửi bố nhau" giữa hai cảnh kỉ niệm ông Mác, ông Lê ở xứ Việt Nam với cảnh TBT NĐM ôm hôn người đã góp phần vào việc lật đổ hai thần tượng này chính ở trong nước của họ. Phải chăng đây là biểu hiện của sự "kiên trì" và "phát triển" mà ông trưởng ban Tuyên Giáo vừa đọc "đít cua" ngày 29/7 vừa qua, khi ngành của ông nhận bức "trướng" từ tay tiến sĩ lí luận Mác Lê nin Nguyễn Phú Trọng?

Riêng tớ ngồi xem 2 buổi truyền hình tại chỗ nhất là thấy mấy cảnh lia qua các "thành tích" trong Viện bảo tàng của ngành tuyên giáo, tớ bỗng thấy vô cùng xấu hổ vì cái quãng đời quá dài, gần 60 năm, làm cái đuôi của con tắc kè Tuyên Giáo nói trên.

QUÁ TRÌNH NHẬP VÀO CÁI ĐUÔI TẮC KÈ CỦA TỚ

Đây là những gì ở cái tuổi "sắp 84" này của tớ đang còn nhớ được:

- Từ 1949-1950: Đây là thời kì bắt đầu của "số mệnh khốn lịn" ,đưa đẩy tớ từ một anh sĩ quan tốt nghiệp chính quy trường Lục quân Trần Quốc Tuấn trở thành 1 anh lãnh đạo văn nghệ: "Nhạc sĩ, đảng viên, cấp uỷ, trưởng đoàn văn công!" Và từ đó muốn hay không muốn tớ đã trở thành một cái vẩy trong cái đuôi của Bộ máy tuyên huấn cơ sở. Nghĩa là bắt đầu chấp nhận làm một "kĩ sư tâm hồn vô sản" đi reo rắc tất cả những điều gì, bất kể đúng sai, mà cái đầu của con tắc kè đã chỉ đạo.

Chỉ đạo trực tiếp tớ lúc này là hai vị tớ còn nhớ rành rành có tên là Trần Sơn Hùng và Nguyễn Hải Hùng. Đến khoá 6 thì có thêm Vũ Kì Lân. Ba ông này, nếu còn sống, hãy tha thứ cho tôi nếu hôm nay tôi phải nói thật ra điều này: Cái đuôi văn nghệ bắt đầu sặc mùi Tàu khi chuyên gia Vu Bội Huyết sang nắm toàn bộ nhà trường để cải tổ từ đường lối tổ chức đến nội dung huấn luyện. Đặc biệt là việc xoá bỏ cái tên Trần Quốc Tuấn có từ khoá I, ở Tông (Sơn Tây) mà chỉ gọi là Lục quân II, có lẽ là việc mà cả ba ông Tuyên Giáo kể cả văn nghệ chúng tôi phải đắng cay, ngậm ngùi mà xoá nó đi trong lòng cũng như trên những tác phẩm cụ thể. Sau đó là việc khai tử hàng loạt những tiết mục, những tác phẩm mang màu sắc "tiểu tư sản". Toàn tập "Trường lục quân đang cần lính đánh Tây", "Tiếng kèn báo động" của tớ, hàng loạt vở kịch của Lộng Chương, Đinh Ánh... và còn nhiều thứ cải tổ nữa để đi tới cái cải tổ sau cùng là: Giải tán toàn bộ nhà trường và cái đoàn văn công bất trị của tớ.

- 1950- 1954: Tớ được điều động về một đoàn văn công đã nổi tiếng "Tàu hoá" sớm hơn tất cả. các đơn vị khác. (xin đọc entry "Một mùa xuân long trời lở đất") Ở đây cái "đuôi" còn "trung thành và kiên định" với cái đầu qua các cuộc đấu tranh, chỉnh huấn, chỉnh Đảng dữ dội hơn bất cứ nơi nào khác qua sự quản lý rất "lạp xường vô sản" của hai ông Tính và Hoạt. (Cả hai ông này tớ đều quên mất họ Nguyễn, họ Trần gì đó) Nhưng tớ còn nhớ như in hình dáng hai ông rất trí thức nhưng đã "đầu hàng giai cấp vô sản" một cách... đáng ngờ! Cả hai ông đều đeo kính cận, đều đọc sách Tây nhưng miệng nói ra chỉ toàn chính sách Tàu. Chỉ đạo cái đuôi văn nghệ, lúc tớ mới đến có các ông Đình Quang, Thanh Tịnh, Phùng Quán, Xuân Bình, Nguyễn Phiên, Đặng Văn Khoáng... dàn dựng toàn tiết mục Tàu. Kịch thì "Trúng tủ", múa thì "Ương Ca", "Bà Chu cho trứng". Hát thì ngợi ca "Thắm thiết tình Việt, Trung, Xô".... và tiếp tục sau này thì cái đuôi đó đã phát ra những tiếng "Hu ra!" ngợi ca "Cải cách ruộng đất muôn năm!" mãnh liệt, liều lĩnh và bố láo nhất để đến nỗi sau này, khi bị ại nhắc tới "những tác phẩm đẻ lấy được" trong giai đoạn này, thì... chính những người đẻ ra nó cũng phải thấy xấu hổ vì đã góp phần thúc đẩy cuộc "cách mạng long trời lở đất", giết người, cướp của chưa từng có trong lịch sử của loài người văn minh.

- Sau 1954: Đoàn văn công Bộ tư lệnh 4 tiến lên thành Văn công Quân khu 4 với sự cộng lại 4, 5 đoàn văn công sư đoàn mà tất cả đều là nghiệp dư loại 2, loại 3! Nhưng đúng thời điểm này ngoài Quân Đội đang xảy ra vụ "chống bọn phản động Nhân Văn". Thế là, cũng từ Trên, Tuyên Huấn Quân Đội do ông Võ Hồng Cương (Cục Tuyên Huấn) và Tổng Cục Trưởng CT Lê Quang Đạo đã phát động một phong trào "Chống chuyên môn thuần tuý", đồng thời học tập kinh nghiệm của bác Mao bên Tầu, bác Kim bên Triều xé lẻ các tổ chức văn nghệ quân đội thành những nhóm nhỏ, "hạ phóng ba cùng", lấy đại đội làm cơ sở, lấy ca múa và gây dựng phong trào văn nghệ làm chinh"! Tới tay ông tướng Hoàng Minh Thi, người có thành tích bỏ cả nhà n/s Phạm Duy vào chuồng trâu (PD thoát vì đi họp ở Việt Bắc) thì... Tan tành tất cả mọi tổ chức văn công văn nghệ quân đội đang có cấp lãnh đạo thì muốn tiến lên chính quy và hiện đại, nhưng có nhiều kẻ (đa số) như tướng Thi lại... kiên trì với phương châm "văn nghệ mãi mãi phải là văn nghệ công nông binh"! phải đại chúng "không hát bè bối, không kỹ thuật ba-lê, ba-lết, không tiến lên hợp xướng-giao hưởng nhiều bè nhiều bối nghe ồn ào như chợ vỡ... chẳng ai hiểu gì xất!!" Kết quả của đường lối này là: phá banh hết tất cả các đoàn nghệ thuật đang muốn tiến lên "chính quy và hiện đại"! Cho tới bây giờ, nhiều người cũ còn sót lại vẫn tiếc nuối mãi cái thời hoàng kim không bao giờ trở lại đó nữa! Cái đuôi lại bị cái đầu cắn cho tan nát, máu me đầm đìa!

- Thời kì năm 1960 cho tới khi về vườn: Tớ chuyển từ "văn nghê lính tráng" sang "văn nghệ dân sự" thì ôi thôi! Cả đám lông, đám vẩy trong cái đuôi văn nghệ cánh tớ đã trắng mắt ra vì thấy cái đầu nó chỉ đạo cái đuôi lung tung thiên địa quá. Vừa hôm qua, một vở kịch như "Câu chuyện iếc-cút", như "Lưu Bình, Dương Lễ" được ông X khen hết lời được quần chúng xếp hàng cả đêm để mua vé vào xem thì hôm sau được ông Y phán cho vài câu. Thế là... dẹp tiệm! Chỉ vì ông Y là bộ chính trị còn ông X chỉ mới là Trưởng ban Tuyên Giáo. Chẳng phải nói thì ai cũng rõ. Ông Y là ông Nguyễn Chí Thanh ông X chính là ông Lành tức Tố Hữu, Trưởng Ban Tuyên Huấn T.Ư đấy! Thời kỳ sau Nhân văn này, "tham mưu" cho ông Lành còn có cả một Vụ Văn Nghệ, quyền lực còn to hơn cả cái Bộ Văn Hoá gồm đủ các giới văn nghệ như Văn: có Hoàng Trung Thông kiêm vụ trưởng, Nhạc: có Tú Ngọc tốt nghiệp ný nuận ở Liên Sô về (sau còn được phong Tiến Sỹ), Sân khấu: có Đoàn Đức, Điện Ảnh: có Vũ Trọng v.v... và v v... Vậy mà cái đuôi văn nghệ nó vẫn làm cái đầu chẳng biết nên đổi mầu gì? Lý do với tớ rất đơn giản nhưng những con tắc kè thì lúng túng vì chưa tìm ra nổi đường đi nào cho phải để đổi mầu! Đài Mat-x-cơ-va, đài Bắc kinh vẫn được tiếp âm, báo Moscow news, Nhân dân nhật báo Bắc Kinh, tác phẩm của Soljelnysine, Tchoukrai, Kalatozov,... vẫn có ở cửa hàng ngoại văn Tràng Tiền! Bên cạnh những tranh in rẻ tiền "100 người như một mắt bi ve" là hàng loạt tranh đủ loại trường phái của Ba-Lan,các dàn nhạc, đĩa hát pop-rock của Đức, Bun, Ru, Tiệp, nhập vào gần như không mất tiền đã làm cho cái đuôi (thậm chí một bộ phận của cái đầu) gần như sáng ra một điều lâu nay cứ làm như... không biết. Đó là lùa tất cả giới trí thức - văn nghệ sỹ vào một cái đuôi không phải là chuyện đơn giản. Nhất là: Khi cái đầu càng ngày càng thấy thua cái đuôi về mọi mặt, chưa kể những mâu thuẫn cười ra nước mắt luôn xảy ra trong cái đầu! như một bộ phim, một cuốn tiểu thuyết được đề cao ở Trung Ương nhưng về đến địa phương thì tuyên huấn nơi đó cấm tiệt không được bén mảng (truờng hợp "Đi bước nữa" của Thế Phương, Thơ của Phạm Tiến Duật, và gần đây "Trăng Nghẹn" của Hoàng tường Phong). Cứ thế, cái đuôi dần dần bị quăng quật, bị bắt ngoe nguẩy lung tung, bị thương tật qúa nhiều, nên nó không chịu đươc nữa,... dẫn tới ngày nó nằm ỳ ra, trơ như đá, hoặc dữ dội quậy phá ngay giữa lòng con tắc kè!

- Riêng cái thời kỳ vào miền Nam,nằm trong cái đuôi Tuyên Huấn Trung Ương Cục và sau là Tuyên Huấn Thành uỷ, thì đã có quá nhiều entries, đặc biệt từ những entry viết về "Đi thăm giầu hỏi sướng" trở đi, kể chuyện về những "Sự thật Thật" mà tớ đã tham gia và chứng kiến... Xét thấy không cần thiết nói lại, nói dài làm gì. Hơn nữa, tớ cũng mong nhân dịp này các friends trẻ mới biết tớ, hãy bớt chút thì giờ đọc những dòng tâm huyết của tớ qua suốt 3 năm thiếu 20 ngày đã qua..

Tớ là người đã quyết tâm không nằm trong cái đuôi đó nữa nên tớ đành về hưu trước thời hạn một năm để ngẫm xem cái đuôi của nó ngoe nguẩy đến mức nào. Phải đợi đến cái tuổi sắp xuống lỗ tớ mới dám nói toạc móng heo ra rằng: cái đuôi nó đã thọc sâu vào miệng của cái đầu rồi đó. Không ai nói thẳng ra thì tớ xin mạn phép kết luận như sau: NGÀNH TUYÊN GIÁO LÀ MỘT CÁI NGÀNH CHẲNG CÓ NGHỀ NGHIỆP GÌ NGOÀI NÓI LƯƠN NÓI LẸO, NÓI DỐI, NÓI ĐÚNG THÀNH SAI, NÓI SAI THÀNH ĐÚNG, NÓI TRẮNG THÀNH ĐEN, NÓI ĐEN THÀNH TRẮNG, NÓI LẤY ĐƯỢC ĐỂ XÚI DẠI NGƯỜI TA ĐẤU TRANH GIAI CẤP, ĐI VÀO CHỖ CHẾT NHƯ ĐI TRẨY HỘI MÙA XUÂN... MÀ VĂN NGHỆ LÀ CÁI ĐUÔI, VŨ KHÍ ĐÁU TRANH GIAI CẤP ĐẮC LỰC NHẤT. CHO ĐẾN HÔM NAY, CÁI ĐUÔI ĐÓ NÓ KHÔNG CÒN NGHOE NGUẨY THEO CÁI ĐẦU NỮA RỒI.

Và đây, cuộc đối thoại của 2 nhà văn mới được đưa lên mạng lúc 7h38 phút ngày 31 tháng 7, của blog Nguyễn Trọng Tạo: "Các nhà lãnh đạo đất nước (phải) thấy nhà văn mở ra cho họ con đường phát triển, chấn hưng đất nước, chứ không phải xin họ tiền, xin họ làm cái đuôi chính trị." Nhà thơ Hữu Thỉnh (chủ tịch hội nhà văn): "Đúng! Đúng!"

Cảm ơn nhà văn-thơ-nhạc sỹ NTT đã giúp tôi chấm hết entry này!

Nguyễn Hưng Quốc - Tâm lý độc tài

Nguyễn Hưng Quốc

Tôi nghe, không phải một lần, mà là khá nhiều lần; từ không phải một người, mà là khá nhiều người, chủ yếu là những Việt kiều, vì thiện chí, về Việt Nam làm việc và có cơ hội tiếp xúc với nhiều người trong giới lãnh đạo, than thở: “Nói chuyện với giới lãnh đạo Việt Nam khó lắm. Khen thì mấy ổng cười toe toét. Nhưng chê, dù là chê những chuyện có vẻ hiển nhiên và với giọng điệu nhẹ nhàng nhất, mấy ổng cũng sa sầm mặt xuống ngay tức khắc. Sau đó muốn gặp lại cũng khó. Khó lắm!

Khi tôi kể lại những lời than thở trên cho một số bạn bè từ Việt Nam sang; mọi người - tất cả đều thuộc giới trí thức khá cao cấp, có người còn nắm giữ những chức vụ khá cao trong guồng máy hành chính - đều xác nhận. Họ thừa nhận, là, họ, chính họ, các trí thức và cán bộ trong nước, cũng không thể nói thẳng và nói thực với cấp trên: Không ai muốn nghe cả. Không những không muốn nghe, người ta còn giận. Nghĩ là mình lập trường không vững hay có ý đồ gì không tốt.

Nhưng, tôi để ý là, sau khi than thở hoặc thừa nhận như thế, tất cả, từ Việt kiều đến những người trong nước, đều cố biện minh: “Cũng tại mấy ổng già quá rồi. Người già thường khó tính.

Tôi không tin và cũng không thích những lời biện hộ kiểu đó. Tôi cho đó chỉ là một nguỵ biện. Lại là thứ nguỵ biện nguy hiểm. Nguỵ biện: Không phải người già nào cũng không thích nghe sự thực. Vả lại, phần lớn giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay cũng không thực quá già. Trên thế giới có vô số nhà lãnh đạo lớn tuổi mà vẫn thoải mái tiếp nhận những sự phê phán từ người khác. Nguy hiểm: Chính những sự nguỵ biện kiểu như thế đã dung dưỡng cho thái độ nhắm mắt và bịt tai của những người đang cần được nghe nói thực nhất.

Tôi muốn gọi đúng tên cái chứng không thích nghe về cái xấu, cái dở ấy: độc tài.

Lâu nay, nói đến độc tài (authorianism), chuyên chế (dictatorship) hay toàn trị (totalitarism), chúng ta thường nghĩ ngay đến cơ chế (mechanism), đến bộ máy khép kín và nặng nề của đảng và nhà nước. Đành là đúng. Độc tài (hay những thứ cùng loại đã kể), trước hết, là một cơ cấu quyền lực chỉ cho phép một người, hoặc một nhóm nhỏ, được quyền quyết định tất cả. Không có đối lập. Thậm chí, không có gì được độc lập, kể cả hai thành phần cần được độc lập nhất: tư pháp và truyền thông.

Tuy nhiên, độc tài không phải chỉ là vấn đề cơ chế.

Độc tài còn là vấn đề tâm lý. Tâm lý độc tài là tâm lý chỉ tin vào chính mình, chỉ muốn sử dụng quyền lực để bảo vệ niềm tin của mình, và từ chối nghe bất cứ một ý kiến gì khác với mình. Người độc tài, như thế, ở một trạng thái khá mâu thuẫn: một mặt, họ tự tôn, cho mình, chỉ có một mình mình, là đúng; nhưng mặt khác, lại thiếu tự tin: họ sợ những thách thức đến từ người khác; họ tránh đương đầu; họ không muốn hoặc không dám sử dụng lý trí để thuyết phục người khác và bênh vực cho quan điểm của mình.

Người độc tài, do đó, không phải là những người mạnh mẽ. Và họ cũng biết họ không mạnh mẽ. Biết, nên họ thích sử dụng những biện pháp phi-lý trí để áp đặt và cưỡng chế người khác bằng cách xây dựng những cơ chế bảo vệ cái quyền không dùng lý trí của mình. Cái cơ chế ấy không cần lý lẽ, hơn nữa, nhằm loại trừ mọi lý lẽ. Trong cơ chế ấy, chỉ có một nguyên tắc được vận hành: bạo lực.

Tâm lý độc tài, do đó, là tâm lý sùng bái bạo lực. Tâm lý độc tài nào cũng tìm kiếm và cố duy trì một cơ chế độc tài: với người chồng hoặc người bố có tâm lý độc tài, cơ chế ấy là quyền gia trưởng; với người lãnh đạo một quốc gia, đó là tính chất độc quyền. Cơ chế thuộc chính trị. Tâm lý thuộc văn hoá. Thay đổi cơ chế độc tài cần có những vận động chính trị mạnh mẽ và quyết liệt. Thay đổi tâm lý độc tài cần những cuộc vận động lâu dài và sâu sắc nhằm thay đổi cách nhìn và cách nghĩ. Trong cái gọi là cách nhìn và cách nghĩ ấy, có hai điều quan trọng nhất: chấp nhận sự khác biệt và chấp nhận đối thoại.

Đối thoại chứ không phải độc thoại.

Thang máy Phó Thủ tướng

Trương Duy Nhất

Năm ngoái, khoảng 10 khách mời và diễn giả không thể đáp máy bay tham dự hội nghị khoa học tại Phú Quốc dù đã mua vé cả tháng trước vì Vietnam Airlines đột ngột lấy chỗ của những hành khách này để dành/giành cho ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải và tùy tùng. Một số nhà khoa học khác may mắn đến được Phú Quốc thì bị “mời” đi khách sạn khác vì cái khách sạn mà họ đã đặt phòng, cũng cả tháng trước, phải dành/giành cho ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải và tùy tùng (http://tuanvannguyen.blogspot.com/2009/08/su-quan-lieu-cua-quan-chuc-cao-cap.html). Và bây giờ là Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng! Nhà báo Trương Duy Nhất thắc mắc: “Phó Thủ tướng chứ có phải vua đâu mà vào ngủ khách sạn cũng phải chặn một thang máy làm “chuyên khoang”, không dám đi chung với khách thường?”. Thưa nhà báo, quả thật Phó Thủ tướng không phải là vua (danh hiệu đó nên dành cho Thủ tướng chăng?) nhưng cũng là quan lớn dù có là quan lớn bị thịt đi nữa. Xưa cụ Hồ gay gắt và nhiều lần phê phán bệnh “quan cách mạng”. Than ôi, sau cuộc vận động rầm rộ “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” tốn bạc tỉ tiền thuế, mà tình hình vẫn thế ư? Hay cuộc vận động đó chỉ nhằm vào cán bộ cấp thấp và đám dân đen, chứ quan lớn thì dĩ nhiên không cần “học tập và làm theo” tấm gương đạo đức của Cụ?

Bauxite Việt Nam

Phó Thủ tướng chứ có phải vua đâu mà vào ngủ khách sạn cũng phải chặn một thang máy làm “chuyên khoang”, không dám đi chung với khách thường?

Phó Thủ tướng chứ có phải vua đâu mà vào ngủ khách sạn cũng phải chặn một thang máy làm “chuyên khoang”, không dám đi chung với khách thường?

11 giờ trưa 27-7-2010. Khách sạn Phương Đông, thành phố Vinh. Cửa vào thang máy có 3 khoang. Khoang chính giữa mở nhưng bị một tay bảo vệ mặc sắc phục vàng đứng ngáng giữa chặn lại. Vài người bước vào liền bị bảo vệ lôi ra. Tất cả khách muốn lên xuống phòng đều được hướng dẫn đứng xếp hàng chờ hai cửa khoang thang máy hai bên.

Tôi ngạc nhiên:

- Sao khoang giữa mở mà không cho ai vào?

Tay bảo vệ thật thà:

- Đây là chuyên khoang dành chờ Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng.

Cánh cửa khoang giữa mở sẵn kia bị chặn lại làm “chuyên khoang” gần một tiếng, từ 11 giờ đến gần 12 giờ trưa.

Bất ngờ.

Phó Thủ tướng chứ có phải vua đâu mà vào ngủ khách sạn cũng phải chặn một thang máy làm “chuyên khoang”, không dám đi chung với khách thường ?

Bảo vệ đứng gác chặn hướng dẫn khách lên xuống phòng bằng hai cửa bên. Khoang giữa mở sẵn nhưng làm “chuyên khoang” chờ dành cho Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng lên phòng ngủ.

Bảo vệ đứng gác chặn hướng dẫn khách lên xuống phòng bằng hai cửa bên. Khoang giữa mở sẵn nhưng làm “chuyên khoang” chờ dành cho Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng lên phòng ngủ.

Bảo vệ đứng gác chặn hướng dẫn khách lên xuống phòng bằng hai cửa bên. Khoang giữa mở sẵn nhưng làm “chuyên khoang” chờ dành cho Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng lên phòng ngủ.

Bảo vệ đứng gác chặn hướng dẫn khách lên xuống phòng bằng hai cửa bên. Khoang giữa mở sẵn nhưng làm “chuyên khoang” chờ dành cho Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng lên phòng ngủ.

T. D. N.

Nguồn: http://truongduynhat.vnweblogs.com/post/1545/245263