Thứ Bảy, 10 tháng 4, 2010

GIẬT MÌNH ...coi kỹ bài này đi

TS Cù Huy Hà Vũ: Tham vọng của TQ trong cuộc tranh chấp biển Đông quá rõ ràng

Tuần trước, Tiến sĩ Ralf Emmers thuộc Khoa Quan hệ Quốc tế Đại học Công nghệ Nanyang ở Singapore đưa ra với VOA một số ý kiến về cuộc tranh chấp biển Đông. Tuần này, Tiến sĩ Luật khoa Cù Huy Hà Vũ ở Hà Nội có một số nhận xét về ý kiến của Tiến sĩ Emmers và đưa ra các ý kiến riêng của ông liên quan đến cuộc tranh chấp này.

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Chia sẻ

Tin liên hệ

VOA: Thưa Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, ông nghĩ thế nào về nhận định “Biển Đông khó trở thành một điểm xung đột lớn ở Đông Á” của Tiến sĩ Emmers?

TS Cù Huy Hà Vũ: Nhận định này của Tiến sĩ Emmers hoàn toàn sai lầm bởi ông xuất phát từ những nhầm lẫn phải nói là rất nghiêm trọng.

Thứ nhất, ông ấy coi Trung Quốc cũng là một quốc gia Đông Nam Á khi nói về phản ứng của các nước Đông Nam Á “khác” trước sự gia tăng sức mạnh của hải quân Trung Quốc để từ đó cho rằng yêu sách của Trung Quốc đối với biển Đông hay vùng biển Đông Nam Á là có thể hiểu được.

Thứ hai, ông ấy cho rằng chỉ từ khi Trung Quốc chiếm bãi đá Vành Khăn (Mischief Reef) của Philippines bằng vũ lực vào năm 1995 thì Trung Quốc mới thực sự gây lo ngại cho các nước ven biển Đông trong khi hải quân Trung Quốc đã chiếm quần đảo Hoàng Sa do Việt Nam Cộng hòa quản lý vào ngày 19/1/1974 và đến tháng 3/1988 lại tiếp tục tiến đánh quần đảo Trường Sa và kết cục đã chiếm được một đảo nhỏ.

Thứ ba, ông ấy cho rằng sự gia tăng nhanh chóng sức mạnh hải quân của Trung Quốc không trực tiếp liên quan tới tranh chấp biển Đông mà là kết quả từ việc Trung Quốc đang trỗi dậy, trở thành một cường quốc trên thế giới, chủ yếu nhằm bảo đảm sự an toàn các tuyến hàng hải của nước này vận chuyển khoáng sản tự nhiên từ Trung Đông và châu Phi về. Nhận định này bản thân nó đã mâu thuẫn với việc Tiến sĩ Emmers thừa nhận Trung Quốc đánh chiếm bãi đá Vành khăn của Philippines, đó chưa kể trên thực tế hải quân Trung Quốc tập trung sắm tàu ngầm, tàu đổ bộ, thậm chí có kế hoạch đóng tàu sân bay – những phương tiện chiến tranh mang tính chất tiến công hơn là phòng thủ.

Tôi không cho rằng Tiến sĩ Emmers yếu kém đến mức mắc phải những nhầm lẫn rất không đáng có kể trên. Nghĩa là tôi ngờ Tiến sĩ Emmers đang phục vụ lợi ích của Trung Quốc với vai trò đánh lạc hướng hay ru ngủ sự cảnh giác của các nước ven biển Đông, Việt Nam trước hết, đối với tham vọng thật sự của cường quốc phương Bắc này.

VOA: Như Tiến sĩ nói, tương lai của biển Đông phụ thuộc vào tham vọng của Trung Quốc. Vậy theo ý ông, tham vọng đó là gì?

TS Cù Huy Hà Vũ:
Tham vọng của Trung Quốc biến biển Đông thành bộ phận lãnh thổ của nước này là quá rõ ràng với sơ đồ gồm 9 đoạn hình “lưỡi bò” bao trọn 80% diện tích biển Đông đi sát bờ biển của Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Brunei và Philippines mà họ gửi Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc ngày 7/5 năm ngoái, 2009.

Thực ra tôi cho rằng tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc về phương Nam không chỉ dừng lại đó bởi sự bành trướng trên biển Đông suy cho cùng cũng chỉ là bàn đạp để nước này bành trướng trên đất liền. Thực vậy, một khi Trung Quốc đã kiểm soát hoàn toàn biển Đông thì việc đặt các nước ven biển dưới sự đô hộ của họ, trực tiếp hoặc gián tiếp, chỉ còn là vấn đề thời gian.

Điều đáng lưu ý là nếu không có Hoàng Sa và Trường Sa thì sẽ không có cái “lưỡi bò”. Vì vậy Trung Quốc phải chiếm hữu hai quần đảo này của Việt Nam bằng mọi giá và chuyện đó đã xảy ra khi hải quân Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ Hoàng Sa vào tháng 1/1974 và một phần Trường Sa do vào tháng 3/1988 như trên đã nói tới.

Vì vậy, dùng vũ lực để chiếm nốt Trường Sa của Việt Nam là vấn đề có tính nguyên tắc đối với Trung Quốc và thực tế cho thấy Trung Quốc đang “chạy nước rút” để đạt mục tiêu này, để nói xung đột quân sự lớn tại biển Đông chắc chắn sẽ nổ ra tại đây, tại Trường Sa, mà Trung Quốc là kẻ châm ngòi. Chắc chắn là như vậy.

VOA:
Ông vừa nói Trung Quốc đang “chạy nước rút”, nhưng theo các chuyên viên quốc tế thì Hải quân Trung Quốc chưa thật đủ mạnh để tiến hành một cuộc chiến dài ngày trên biển. Vậy theo Tiến sĩ, vì sao Trung Quốc lại không đợi đến lúc đủ mạnh để chắc chắn thành công trong việc đánh chiếm Trường Sa mà lại “chạy nước rút”?

TS Cù Huy Hà Vũ:
Đúng là Hải quân Trung Quốc chưa phải là một cường quốc quân sự trên biển để có thể kết thúc chiến trận trên biển với Việt Nam một cách nhanh chóng và dễ dàng. Tuy nhiên rất có thể Trung Quốc nghĩ rằng trong vòng dăm năm tới mà họ không chiếm được toàn bộ Trường Sa của Việt Nam thì sẽ không bao giờ chiếm được, đồng nghĩa tham vọng của họ làm chủ biển Đông để từ đó “Trung Quốc hóa” các nước Đông Nam Á sẽ mãi là bong bóng xà phòng!

VOA:
Ông có thể nói rõ hơn vì sao Trung Quốc lại “sốt ruột” đánh chiếm Trường Sa đến như vậy?

TS Cù Huy Hà Vũ: Rất có thể Trung Quốc nghĩ rằng Đảng cộng sản Việt Nam hiện phụ thuộc vào họ hơn bao giờ hết, không chỉ do Trung Quốc có người của họ trong cấp lãnh đạo cao nhất của đảng, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đứng vào hàng đầu xếp hạng tham nhũng ở châu Á, mà còn vì Đảng cộng sản Việt Nam không còn sự bảo trợ về ý thức hệ nào khác ngoài Trung Quốc sau khi Liên Xô và khối cộng sản Đông Âu sụp đổ cách đây hai chục năm, mà sự bảo trợ này là tuyệt đối cần thiết để tiếp tục duy trì vị trí cầm quyền ở Việt Nam.

Nói cách khác, Trung Quốc chỉ có thể đánh chiếm Trường Sa mà không sợ Việt Nam chống trả quyết liệt chừng nào Việt Nam còn do Đảng cộng sản lãnh đạo. Thế nhưng rất có thể Trung Quốc cho rằng tình hình này sẽ không kéo dài vì nạn tham nhũng, quyền lợi của nông dân và ngay cả của công nhân bị hy sinh cho lợi ích của các công ty “sân sau” của giới cầm quyền đã ở mức “báo động đỏ”, thêm nữa người dân ngày càng ít ngoan ngoãn vâng lời đảng bởi Internet đã đưa lại cho họ những sự thật phũ phàng của chế độ chính trị hiện hành…

Ngoài ra, không kể tại thời điểm hiện nay lực lượng phòng thủ biển của Việt Nam là vô cùng yếu kém mà bằng chứng là Quốc hội Việt Nam, một cách vô cùng hài hước buộc ngư dân phải tự bảo vệ mạng sống của họ khi ra khơi, cũng như thay hải quân bảo vệ chủ quyền biển quốc gia. Trong nhiều năm tới Việt Nam dù cố gắng đến đâu cũng khó có thể sở hữu được những phương tiện chiến tranh khả dĩ đánh bại sức mạnh của hải quân Trung Quốc.

VOA: Vậy trước tình hình Trung Quốc quyết bành trướng lãnh thổ ở biển Đông mà trước hết đánh chiếm Trường Sa trong một tương lai gần, Việt Nam có thể đối phó ra sao, thưa ông?

TS Cù Huy Hà Vũ:
Bộ Ngoại giao Việt Nam cho rằng có thể giải quyết xung đột ở Biển Đông nói chung, với Trung Quốc nói riêng bằng công pháp quốc tế hoặc bằng cách quốc tế hóa xung đột, cụ thể là tìm cách nâng Tuyên bố chung về ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) được ký giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002 lên thành Bộ quy tắc về ứng xử trên Biển Đông có tính ràng buộc nhiều hơn.

Tuy nhiên tôi cho rằng quan điểm trên của Bộ Ngoài giao Việt Nam là sai lầm chết người vì cha ông ta có câu: “Mạnh vì gạo, bạo vì tiền” hay cái “lý” luôn thuộc về kẻ mạnh. Thực vậy, giải quyết tranh chấp lãnh thổ bằng đàm phán hoặc bằng toà án quốc tế chỉ có thể diễn ra khi sức mạnh quân sự của hai bên đối địch ở thế cân bằng hoặc xấp xỉ để không bên nào có thể dám chắc sống sót sau cuộc chiến nếu nổ ra, trong khi tương quan lực lượng vũ trang hiện nghiêng hẳn về phía Trung Quốc. Để lấy lại thế cân bằng với nước lớn phương Bắc này, Việt Nam không còn cách nào khác là phải gấp rút hiện đại hoá quân đội nói chung, các lực lượng phòng vệ biển nói riêng như các hợp đồng mua tàu ngầm và máy bay trị giá nhiều tỷ đôla mà Thủ tướng và Bộ Quốc Phòng Việt Nam đã ký kết với Nga và Pháp thời gian qua cho thấy. Tuy nhiên nhìn về toàn cục thì giải pháp này hoàn toàn không đủ để giúp Việt Nam giành thắng lợi trong hải chiến với Trung Quốc để bảo vệ toàn vẹn Trường Sa.

VOA: Xin ông cho biết lý do vì sao?

TS Cù Huy Hà Vũ: Cơ bản có hai lý do sau đây:

Thứ nhất, dù có tăng tốc mua sắm phương tiện chiến tranh đến mấy thì hải quân Việt Nam cũng không bao giờ có thể bắt kịp hải quân Trung Quốc mà tốc độ hiện đại hoá luôn được duy trì ở mức chóng mặt.

Thứ hai, chi quá nhiều tiền vào quốc phòng ắt đẩy Việt Nam vào khủng hoảng kinh tế sâu sắc, biến những mâu thuẫn và bất ổn xã hội vốn đã trầm trọng thành những xung đột phá vỡ Nhà nước và xã hội. Tất nhiên trong bối cảnh đó không chỉ Trường Sa mà ngay cả đất liền của Việt Nam tất cả sẽ là mồi ngon cho một cuộc xâm lăng từ phía Trung Quốc.

VOA: Vậy thưa ông, Việt Nam cần làm gì để có thể bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, thậm chí nền độc lập quốc gia trước tham vọng của Trung Quốc?

TS Cù Huy Hà Vũ:
Lịch sử cho thấy Việt Nam cộng sản dẫu tự tin đến mấy vào chủ nghĩa dân tộc với học thuyết “chiến tranh nhân dân” cũng không thể chắc chắn giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh vệ quốc nếu không có được liên minh với cường quốc quân sự nào đó. Thực vậy, các cỗ pháo 105 mm và cao xạ của Liên Xô được Trung Quốc chuyển giao và huấn luyện sử dụng là nhân tố quyết định chiến thắng của Việt Minh trước tập đoàn cứ điểm của Pháp tại Điện Biên Phủ vào năm 1954.

Rồi các tên lửa SAM của Nga đã giúp Hà Nội biến cuộc tập kích chiến lược bằng B-52 của Mỹ kéo dài 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972 thành dấu chấm hết cho sự can thiệp của Mỹ tại Việt Nam mà việc các lực lượng cộng sản tiến vào Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975 là hệ quả tất yếu.

Và cuộc tấn công của 30 vạn quân Trung Quốc trên toàn tuyến biên giới Việt Nam đầu năm 1979 để ứng cứu Khmer Đỏ bị quân đội Việt Nam đánh tan tác tại Kampuchia, chắc hẳn không bị hất ngược về nơi xuất phát hay dừng ở mức “bài học” theo cách diễn đạt đầy sĩ diện của nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình nếu Việt Nam không nhanh tay ký Hiệp ước liên minh quân sự với Liên Xô một năm trước đó.

VOA:
Vậy để đối phó thành công với cuộc tấn công quân sự có thể có của Trung Quốc trên biển cũng như trên đất liền, Việt Nam có nên liên minh quân sự với một cường quốc nào hay không?

TS Cù Huy Hà Vũ:
Mới đây Việt Nam đã mua hàng tỷ đô la vũ khí của Nga trong đó có 6 tàu ngầm lớp kilo và việc Nga chuẩn bị xây cho Việt Nam căn cứ tàu ngầm tại cảng Cam Ranh dẫn đến đồn đoán rằng siêu cường quân sự này sẽ quay trở lại Việt Nam với tư cách đồng minh quân sự. Tuy nhiên cá nhân tôi bác bỏ khả năng này vì Nga đang phải căng sức đối phó với các cuộc chiến ly khai ở Bắc Kapkaz cùng lúc với NATO ngày càng áp sát biên giới của cựu thành lũy cộng sản thế giới này. Tóm lại, nước Nga trong quan hệ với phần đông các nước khác đang tự hoàn thiện thành một lái súng chuyên nghiệp.

Pháp chăng? Cũng không nốt, không hẳn vì Pháp đã chính thức “giã từ vũ khí” với xứ cựu Đông Dương từ năm 1954 mà chính vì nước này chưa bao giờ lấy đối đầu với Trung Hoa Cộng sản làm chính sách.

Thành thử chỉ còn Hợp chủng quốc Hoa Kỳ để Việt Nam có thể thiết lập liên minh quân sự, nhất là siêu cường quốc quân sự này là quốc gia duy nhất có chính sách kìm hãm sự bành trướng trên biển của Trung Quốc với sự hiện diện của hạm đội 7 ở Thái Bình Dương.

VOA:
Sau khi nghiên cứu chính sách của các cường quốc, đặc biệt là Hoa Kỳ, theo ông, liệu có trở ngại nào cho một khả năng liên minh quân sự giữa Việt Nam và Mỹ, vì trước đây, hai nước có chiến tranh Việt Nam; và bây giờ hai nước có chế độ chính trị có thể nói tuyệt đối khác biệt chẳng hạn?

TS Cù Huy Hà Vũ: Trong mọi quan hệ, cùng có lợi sẽ chơi với nhau, cái lợi càng lớn thì quan hệ càng phát triển, càng bền vững và ngược lại. Liên minh quân sự với Mỹ thì Việt Nam chắc chắn sẽ bảo vệ được Trường Sa nói riêng, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ nói chung trước mọi cuộc tấn công quân sự của Trung Quốc và qua đó bảo vệ được nền độc lập của chính mình.

Tất nhiên sẽ có người nói “Đi với Mỹ thì mất Đảng” thì tôi xin thưa rằng nếu Đảng cộng sản Việt Nam thực sự đặt Tổ quốc Việt Nam lên trên hết như Đảng vẫn nói, chắc chắn Đảng sẽ không tiếc mạng sống của mình để Tổ Quốc quyết sinh! Là nói vậy chứ tôi không thấy có lý do gì đi với Mỹ lại mất Đảng cả, bằng chứng là Đảng cộng sản Mỹ hiện vẫn sống khỏe.

Về phía Mỹ, liên minh quân sự với Việt Nam Mỹ sẽ có điều kiện hoàn tất chiến lược quân sự Đông Á của mình, cụ thể là khép kín “vành đai” ngăn chặn sự bành trướng trên biển của Trung Quốc được cấu thành bởi các liên minh quân sự hiện hữu giữa Mỹ với Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan.

VOA:
Xin cảm ơn Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ đã dành thời gian cho cuộc phỏng vấn này.

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp

ÔNG TÂY “VIỆT CỘNG” ĐÃ PHẢN TỈNH?

“..tôi xin phép hỏi các vị một câu: tại sao các vị chưa bao giờ công khai,long trọng tưởng niệm trên toàn quốc hàng nghìn liệt sĩ và đồng bào đã bỏ mình trong cuộc chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược năm 1979?”

- Andre Menras (Hồ Cương Quyết)

Ngày thứ ba, 6 tháng 4, 2010 trên trang BBC tiếng Việt có đăng bài viết với nhan đề “Nhiệm vụ ghi nhớ và lòng yêu nước“(1) của tác giả Andre Menras (Hồ Cương Quyết) viết bằng tiếng Việt gửi cho BBCVietnamese.com từ Pháp bày tỏ suy nghĩ của cá nhân mình đối với việc ứng xử thiếu thận trọng và thiếu minh bạch của chính quyền Việt nam trong quan hệ đối với Trung quốc.

Vào cuối năm 2009, hẳn chúng ta chưa quên có một tin rất đáng lưu ý và đáng trân trọng có liên quan đến ông Andre Menras(Hồ Cương Quyết), đó là chiều 1/12, tại Sở Tư pháp TP HCM đã diễn ra lễ trao Quốc tịch Việt Nam tặng ông Andre Menras , người bạn Pháp thủy chung suốt gần 40 năm qua của nhân dân Việt Nam. Tại buổi lễ trọng thị này, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nhấn mạnh sự trân trọng của Việt Nam dành cho ông Andre Menras, nay là công dân Việt Nam. Chủ tịch nước nói: “Chúng ta dành những tình cảm đặc biệt cho Andre Menras vì ông đã dành cho chúng ta những tình cảm đặc biệt, đã sát cánh cùng Việt Nam trong những thời kỳ khó khăn nhất”. Chủ tịch nước bày tỏ mong muốn người công dân mới của Việt Nam sẽ giữ mãi trái tim yêu Việt Nam, tiếp tục cuộc đấu tranh với “những ai còn hiểu sai về Việt Nam, chống lại nhân dân Việt Nam”.

Được biết ông Andre Menras là người Pháp với tên Việt Nam là Hồ Cương Quyết, tháng 9/1968, tốt nghiệp sư phạm Monpellier, Andre Menras chọn Việt Nam để dạy học. Ngày 25/7/1970, ông là một trong hai người Pháp đã dũng cảm phất cao cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam trước tòa nhà Quốc hội của ngụy quyền Sài Gòn và rải truyền đơn đòi độc lập, hòa bình cho Việt Nam vào năm 1970 bị chính quyền Sài gòn bắt giam tại khám Chí Hòa và bị trục xuất về Pháp tháng 1/1971.

Về Pháp ông đã tham gia giúp đỡ đoàn Đại biểu Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền nam Việt nam tại Hội nghị Paris, đổi lại thành viên Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng Lâm thời đã giúp ông chuẩn bị những bài phát biểu tại các nước có phong trào phản chiến nơi ông sang nói chuyện. Sau khi Việt nam thống nhất do điều kiện không trở lại được Việt nam, những năm gần đây (2002)ông mới có dịp trở lại Việt Nam. Từ đó ông đã dùng hết khả năng của mình để tham gia vào các chương trình hợp tác, đào tạo, chia sẻ kinh nghiệm sư phạm với các sinh viên và đồng nghiệp Việt Nam. Đồng thời, ông cũng là người sáng lập Hiệp hội Hữu nghị phát triển trao đổi sư phạm Pháp – Việt (ADEP), huy động những đồng nghiệp, bạn bè hỗ trợ trao hàng trăm học bổng cho học sinh nghèo Việt Nam. Ông quan tâm sâu sắc và tích cực ủng hộ chương trình “nước ngọt cho Trường Sa”…

Ông Andre Menras (Hồ Cương Quyết) có biệt danh là “ông tây Việt cộng” có khả năng nói tiếng Việt lưu loát và viết chữ Việt thành thạo, bài viết trên trang BBC tiếng Việt “Nhiệm vụ ghi nhớ và lòng yêu nước” được ghi chú rằng “Bài viết này tác giả viết thẳng bằng tiếng Việt và gửi cho BBCVietnamese.com, thể hiện quan điểm riêng của ông”. Ông ta đến với Việt nam bằng lòng chân thành với tình yêu đất nước và con người Việt nam mà ông đã từng gắn bó và có nhiều kỷ niệm tốt đẹp và đáng nhớ.

Sau khi được nhập quốc tịch Việt nam báo chí trong và ngoài nước đã tốn không ít giấy mực để nói về ông, coi đó là một thắng lợi chính trị quan trọng của Đảng CSVN, nhiều tờ báo cho đó một niềm tự hào và danh dự của dân tộc Việt nam và là nhân chứng sống cho những “những ai còn hiểu sai về Việt Nam, chống lại nhân dân Việt Nam” như lời Chủ tịch Nguyễn Minh Triết.

Chủ đề này đã được bàn luận sôi nổi trên các trang web site hay các diễn đàn, nhiều người tỏ ra hoài nghi và lo lắng cho tương lai của ông tây Viẹt cộng này. Trên trang danluan.org một trang tin tức chính trị nổi tiếng ngày 10/2/2010 một độc giả đã bình luận về việc này “Tội ông quá! Mong niềm tự hào này của ông không sớm biến thành nỗi thất vọng ê chề!” và một độc giả khác cũng viết “Không sớm thì muộn, ông cũng sẽ nhận ra được bộ mặt thật của chính quyền hành dân ở VN. Khi đó, ông sẽ cảm nhận được rõ hơn những nỗi thống khổ mà bao người dân phải chịu đựng trong mấy chục năm qua. Hi vọng ông sẽ trở thành cầu nối giữa VN và thế giới”(2). Quả nhiên chỉ sau không đày 2 tháng, suy nghĩ của các độc giả trên trang danluan.org đã trở thành sự thật.

Tại bài viết “Nhiệm vụ ghi nhớ và lòng yêu nước” ông Andre Menras có viết “Với tư cách một công dân Việt Nam, tôi xin phép nói với các nhà chức trách địa phương một câu: trong tình hình hiện nay, tình hình mà các vị không thể không biết, nếu các vị muốn tưởng niệm những người bạn Trung Quốc quý mến của quá khứ, thì các vị nên tỏ ra sáng suốt và minh bạch hơn… với trong nước, nhiều người dân đang tỏ sự chống đối và tức giận trước những hành động ngạo mạn và thách thức của Trung Quốc, ngay trong năm kỷ niệm Hữu nghị Việt –Trung, việc công khai tin này cũng khiến người dân hiểu rõ hơn chủ trương của chính quyền là bảo vệ tổ quốc bằng chính sách hữu nghị nhưng không kém phần cương quyết” quyết liệt hơn ông đã tây Việt công này đã nói thay được phần nào cảm tưởng của người dân Việt nam về vấn đề nhạy cảm này, ông Andre Menras viết “nhân nói với ký ức và lòng yêu nước, tôi xin phép hỏi các vị một câu: tại sao các vị chưa bao giờ công khai, long trọng tưởng niệm trên toàn quốc hàng nghìn liệt sĩ và đồng bào đã bỏ mình trong cuộc chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược năm 1979? Có điều gì tự nhiên và phải lẽ hơn? Và chắc chắn sẽ được toàn dân, từ nam chí bắc, đồng tâm nhất trí ?”

Đặc tính của người phương tây là thẳng thắn, nghĩ sao nói vậy tốt nói tốt, sai thì nói sai chứ không khôn lỏi như người Việt mình hay nghĩ một đằng nhưng nói một nẻo hòng trục lợi. Ông Andre Menras là người Pháp mang hai quốc tịch Pháp và Việt nam, ông ta yêu quý và tự hào là người Việt nam là một điều đáng trân trọng và cảm động.

Trong bối cảnh đất nước Việt nam chúng ta, việc từ bỏ được quốc tịch Việt nam để khoác một quốc tịch nước ngoài đã trở thành lối thoát và là mong ước của đa phần những người mong được đổi đời về vật chất và tư tưởng. Hàng vạn phụ nữ Việt nam đi làm dâu, làm Oshin ở nước người, hàng vạn thanh niên trai tráng bán nhà bán cửa hoặc mang ruộng vườn thế chấp để lấy tiền ký quỹ đi làm thuê ở nước ngoài hy vọng đổi đời v.v.. là những ví dụ. Vậy mà đi ngược với xu thế ấy có một ông tây đã tự nguyện mang quốc tịch Việt nam, điều đó đáng để người Việt nam chúng ta tự hào và phải cảm ơn một người Pháp đã dành cho đất nước và con người Việt nam những tình cảm trong sáng vô tư, thực sự tình con người. Cảm động nhất là mỗi phát biểu, mỗi bài viết ông Andre Menras đều khảng khái và nhấn mạnh rằng “Với tư cách một công dân Việt Nam …”.

Nhưng yêu quý, cảm động và biết ơn ông Andre Menras bao nhiêu thì chúng ta càng lo lắng cho sinh mệnh của ông bấy nhiêu, vì ông Andre Menras là người Pháp, mới nhập quốc tịch Việt nam ông không hiểu rằng những hành động viết bài cho BBC với giọng điệu chê trách chính quyền thì ông sẽ dễ dàng bị người ta khoác cho ông cái tội “phản động” tuyên truyền chống phá nhà nước CHXHCN Việt nam như Lê Công Định, Nguyễn Tấn Trung, Trần Huỳnh Duy Thức…Ông Andre Menras không biết rằng bước đâu phạm tội của bọn họ cũng như ông hôm nay, họ cũng đã dùng quyền tự do tư tưởng của công dân, từng viết bài gửi cho BBC. Ông đừng quên rằng Việt nam có một chế độ cai trị quái quỷ chả giống quốc gia nào trên trái đất này, ông đừng nghĩ Việt nam cũng như nước Pháp của ông, nơi người dân tự do được biểu lộ suy nghĩ của mình được luật pháp cho phép và bảo hộ.

Ông Andre Menras là người Việt, xi ông nên nhớ kỹ câu “Nhập gia phải tùy tục”, ông phải hiểu ở Việt nam bây giờ yêu nước không phải là yêu Tổ quốc, yêu dân tộc như tất cả các quốc gia khác trên thế giới họ quan niệm như vậy, mà ở Việt nam bây giờ yêu nước là yêu Đảng CSVN, tung hô, ca ngợi đảng CSVN là yêu nước. Những người như ông Andre Menras giá hiểu được điều này thì ông làm giàu bằng cách ca ngợi và ngợi ca đảng CSVN hết mình, đổi lại đảng và chính quyền cũng sẽ hết mình đáp ứng những gì ông muốn. Bởi chính quyền Việt nam họ muốn sử dụng tên tuổi của cá nhân ông hòng đánh bóng cho chế độ của họ, đó là cái chế độ mà đa phần người dân Việt nam đã và đang nguyền rủa vì sự độc tài, sự độc đoán vô lý, vô luật pháp và chà đạp quyền tự do của con người.

Một câu hỏi đặt ra là “Vì sao ông Andre Menras lại sớm có hành động phê phán chính quyền như vậy?” Ông là người được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trao quốc tịch Việt nam chưa đầy nửa năm, điều gì đã khiến ông lên tiếng trước sự hèn mạt, khom lưng quỳ gối của các quan chức Việt nam trước anh bạn láng giềng phương Bắc? Ông mới làm công dân Việt nam chưa đầy 6 tháng, ông mang dòng máu Pháp không phải dòng máu Việt, phải chăng ông đã làm điều đó xuất phát từ danh dự công dân Việt nam mà ông mới được công nhận?


Khẩu hiệu yêu nước “Hoàng sa-Trường sa là của Việt nam”
chỉ dám viết “trộm” HS.TS.VN vào ban đêm.


Mới có chưa đầy 6 tháng ông đã không chịu đựng nổi những hành động ngang tai chướng mắt, quỳ gối đê hèn của các quan chức chính quyền với ngoại bang như vậy, thì thử hỏi hơn 80 triệu người Việt nam cả cuộc đời của họ danh dự công dân Việt nam của họ bị chà đạp, dày xéo tới mức nào? Vậy mà họ không dám lên tiếng vì sợ bỏ tù ông có biết không?

Chưa nơi đâu trên trái đất này, không có quốc gia nào khi người dân bày tỏ lòng yêu nước bằng các khẩu hiệu “Hoàng sa-Trường sa là một phần máu thịt của Việt nam” khẳng định chủ quyền lãnh thổ quốc gia mà bị coi là phản động, bị coi là chống chính quyền, người dân chỉ dám viết tắt “HS-TS-VN” vẽ vội trên tường vì sợ bị bắt, muốn viết rõ đủ chữ họ phải ra nước ngoài để làm việc đó như SV Lê Trung Thành đã từng làm tại Thailand vì Việt nam đất nước họ không coi đó là yêu nước.

Việc làm của ông Andre Menras là việc nhỏ nhưng nghĩa lớn, xin thay mặt những người Việt nam yêu nước, qua bài viết này xin gửi lời cảm ơn đến ông Andre Menras vì ông đã làm những việc mà người Việt nam biết mà không dám làm, biết mà không dám nói vì họ sợ hãi. Với tư cách công dân Việt nam ông đã nói lên được phần nào những suy nghĩ của tất cả các công dân Việt nam, đó là sự dũng cảm của những người đấu tranh cho chính nghĩa và lẽ phải.

Người Việt nam phải coi ông Andre Menras là một công dân kiểu mẫu, một tấm gương đáng để sống và học tập.

08/4/2010

———————–
Ghi chú:
(1)http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2010/04/100406_menras_chinavietnam.shtml
(2)http://danluan.org/node/4189

Kami blog


Nhiệm vụ ghi nhớ và lòng yêu nước

Đã nói đến ký ức lịch sử thì không thể lập lờ, mà phải minh bạch, công khai, xứng đáng với sự hy sinh của những con người mà ta muốn vinh danh

Do sự bất cập về thông tin ở Việt Nam bởi chính sách kiểm soát, một lần nữa tôi phải vào mạng internet, và tìm thấy những chuyện kỳ quặc. Sau vụ dấm dúi cho “doanh nhân Trung Quốc” thuê đất (thời hạn hàng chục năm), bây giờ đến phiên những lời đồn đại về lễ tưởng niệm “liệt sĩ” Trung Quốc chết trận ở Việt Nam. Tin đồn này bắt nguồn từ trang mạng internet của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Lạng Sơn: công văn số 218 được đưa lên mạng rồi bị lặng lẽ gỡ đi (nhưng xin nhà cầm quyền an tâm: bộ nhớ của Google còn ghi lại đầy đủ !). Theo đó thì lễ “dâng hương” của Đại sứ quán Việt Nam với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương sẽ được tổ chức tại huyện Hữu Lũng, ở phía nam tỉnh Lạng Sơn trong tháng 4 này.

Theo tôi được biết, trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ, Trung Quốc từng cử công binh sang Việt Nam giúp xây dựng cầu đường… và đã bị máy bay Mỹ xả đạn bắn chết. Nếu có, hành động nhớ ơn của Việt Nam đối với họ là hoàn toàn cần thiết.

Nhưng trong việc này cũng như trong nhiều việc khác, nhất thiết phải công khai minh bạch. Bởi vì cũng tại tỉnh biên giới Lạng Sơn này, cách đó mấy chục ki lô mét thôi, cũng đã có những binh lính Trung Quốc khác đã chết trong cuộc chiến xâm lăng Việt Nam năm 1979. Đối với Việt Nam, đó là hai việc rất khác nhau, khác xa. Một bên (nếu có) là những binh sĩ đã hy sinh để giúp nhân dân Việt Nam đánh bại kẻ xâm lược. Một bên là những kẻ xâm lược đã bỏ mạng trong cuộc xâm lăng. Một bên là cứu giúp, một bên là giết hại.

Mỗi người có mẫu anh hùng của mình. Đối với ông đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường – người mới đây đã ngang nhiên tuyên bố trên đài truyền hình quốc gia Việt Nam rằng trong quan hệ Việt-Trung “hợp tác sẽ phát triển, đấu tranh sẽ thất bại” – thì người lính Trung Quốc nào bỏ mình ở nước ngoài chẳng là anh hùng liệt sĩ ? Đối với tôi thì không. Cũng như đối với những người Việt Nam đã bỏ mình dưới làn đạn Trung Quốc tháng giêng 1974 ở Hoàng Sa, đầu năm 1979 ở các tỉnh biên giới phía bắc, năm 1988 ở Trường Sa… là không. Cũng như đối với những ngư dân tội nghiệp đã bị bắn chết hay chết chìm vì đụng tàu ở Biển Đông trong những năm 2000.

Với tư cách một công dân Việt Nam, tôi xin phép nói với các nhà chức trách địa phương một câu: trong tình hình hiện nay, tình hình mà các vị không thể không biết, nếu các vị muốn tưởng niệm những người bạn Trung Quốc quý mến của quá khứ, thì các vị nên tỏ ra sáng suốt và minh bạch hơn.

Thứ nhất, với thế giới và cả với người Trung Quốc, các ông nên công khai và tuyền truyền sâu rộng sự kiện này hơn. Bởi đây là hình thức quảng bá và cho thế giới và chính những người Trung Quốc chưa có thông tin đầy đủ về biển đảo, biết rõ người dân Việt đã “chơi đẹp”, đã phân định rõ giữa công và tội đối với kẻ xâm lăng như thế nào. Phải cho thế giới biết trong khi Trung Quốc đang muốn ép, đe dọa ngày đêm trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam thì ở trong đất liền, dân tộc Việt Nam vẫn cởi mở cho họ vào nhà để họ thắp nén nhang cho những người con của họ đã mất trong lịch sử (nếu có).

Thứ hai, với trong nước, nhiều người dân đang tỏ sự chống đối và tức giận trước những hành động ngạo mạn và thách thức của Trung Quốc, ngay trong năm kỷ niệm Hữu nghị Việt –Trung, việc công khai tin này cũng khiến người dân hiểu rõ hơn chủ trương của chính quyền là bảo vệ tổ quốc bằng chính sách hữu nghị nhưng không kém phần cương quyết, đúng tinh thần của phát biểu Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nói trong lần thăm huyện đảo Bạch Long Vĩ: “Đối với biên giới, lãnh hải, chúng ta luôn muốn hòa bình hữu nghị giữa hai dân tộc, giữa các dân tộc có biên giới với chúng ta, đó là mong muốn của nhân dân…. Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình.”

Nên, với các vị ở địa phương ra công văn trên chớ nên làm một cách dấm dúi, không công khai đưa lên báo đài : kiểu tưởng niệm “kín đáo” ấy sẽ được tiếp nhận như những hành động khiêu khích, nếu không nói là phản quốc. Các vị cũng chớ nên quên chăm lo những nấm mồ hoang phế tràn ngập cỏ dại của những đồng bào nạn nhân của cuộc chiến tranh xâm lược năm 1979 của Trung Quốc – những nấm mồ mà tôi gặp nhiều nơi trong một chuyến đi bằng xe máy dọc theo biên giới phía Bắc.

Cuối cùng nhân nói với ký ức và lòng yêu nước, tôi xin phép hỏi các vị một câu: tại sao các vị chưa bao giờ công khai, long trọng tưởng niệm trên toàn quốc hàng nghìn liệt sĩ và đồng bào đã bỏ mình trong cuộc chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược năm 1979? Có điều gì tự nhiên và phải lẽ hơn? Và chắc chắn sẽ được toàn dân, từ nam chí bắc, đồng tâm nhất trí ?

Và, xin nói thật, tôi cũng an tâm hơn.

Andre Menras (tên tiếng Việt: Hồ Cương Quyết), một người Pháp, nhập quốc tịch Việt Nam ngày 1/12/2009. Bài viết này được tác giả viết thẳng bằng tiếng Việt và gửi cho BBCVietnamese.com, thể hiện quan điểm riêng của ông.

Nguồn: BBCVietnamese.com


Filed under: Chính Trị-Xã Hội , ,

2 Responses

  1. minh tran nói:

    Có lẽ đây là viên thuốc đắng cho CSVN nhất là cái người trao QTVN cho Ô Tây VC này-đúng là trăm nghe không bằng một thấy và trăm thấy không bằng 6 tháng nằm trong chăn…còn cái việc Ô ta phải đối diện cái gì,có lẽ là một tai nạn giao thông là lựa chọn tối ưu.Xin thay lời những người DânVN yêu nước cám ơn nền giáo dục Pháp đã dạy Ô làm Người đúng nghĩa.

  2. malachi nói:

    sau 10 năm thằng mạnh nó cầm quyền bị mất bao nhiêu đất

Nguyễn Thanh Giang – Từ nay, tôi không nhận giấy triệu tập của công an nữa

10/04/2010 3:45 sáng 2 phản hồi

Tác giả: Nguyễn Thanh Giang

Chuyên mục: Chính trị - Xã hội, Pháp luật
Thẻ: >

Đợt triệu tập này bắt đầu từ sáng 5 tháng 4 năm 2010. Vẫn rất “trịnh trọng” với đầy đủ máy ghi âm, ghi hình liên tục suốt buổi. Ngoài người ghi biên bản khẩu cung còn một người ghi chép khác nữa.

Điều kỳ lạ là, qua nhiều đợt khảo cung liên can đến tập san Tổ Quốc trong mấy năm qua, hầu như không thấy cật vấn về tội trạng của nội dung tờ báo. Riêng lần này thượng tá Ngô Quang Du phê phán: Sao lại cho đăng bài tố cáo xuyên tạc “Sáu mươi năm Đảng bảo phá rừng”?

Nguyên văn câu trong bài thơ của Bảo Quốc đăng trên bán nguyệt san Tổ Quốc số 84 là: “Năm 60 Đảng bảo phá rừng”. Thật vậy. Năm 1960 Đảng thúc giục toàn dân phá rừng khẩn hoang. Đài Tiếng nói Việt Nam phát những bài hát thôi thúc rực lòng: “Rừng ơi ta đã về đây… Tiếng búa, tiếng rìu, tiếng cưa rộn ràng khắp trên non ngàn”. Tiến sĩ lâm nghiệp kỳ cựu Thái Văn Trừng can ngăn vì sợ sự xói mòn nguy hại. Ông bị xem là chống lại chủ trương của Đảng. Một vị tướng, ủy viên Trung ương Đảng chế riễu: “Không có xói mòn thì làm sao có được châu thổ Sông Hồng và đồng bằng Nam Bộ”. Thế là nhà khoa học nổi tiếng này được cho ngồi chơi xơi nước.

Tuy nhiên, nội dung chính của buổi thẩm vấn ngày 5 tháng 4 là về nhân thân của tôi. Từ ngày đi học rồi đi công tác đến nay tôi đã phải khai không dưới 100 bản lý lịch. Thế mà bây giờ họ còn bắt tôi phải khai vợ làm gì, có mấy con… Ngộ nghĩnh hơn là với ông lão đã 75 tuổi rồi mà họ còn bắt khai tên bố, tên mẹ, hiện ở đâu.

Ghi lại những câu hỏi và câu trả lời trong các buổi này không những làm mất thì giờ người đọc mà còn làm quý vị hoặc “cười vỡ bụng” hoặc “tức lộn ruột”. Tôi chỉ xin kể lại một số đoạn đối đáp như sau:

Đối: Sao bảo ông đã từng ra sức phấn đấu vào Đảng CSVN mà rồi lại quay ra nói xấu Đảng, chống Đảng?

Đáp: Tôi đã từng thiết tha gia nhập Đảng đến nỗi có lúc muốn quyên sinh khi nguyện vọng không được giải quyết. Lúc ấy tôi cho rằng Đảng hết sức thiêng liêng, cao quý. Cho rằng Đảng đang lãnh đạo toàn dân đánh đuổi ngoại xâm để tiến tới xây dựng một đất nước “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”, không ai đè nén ức hiếp ai. Tôi rất cảm phục các bậc tiền bối cách mạng vì họ dám dấn thân nằm gai nếm mật, kể cả đưa đầu vào máy chém vì muốn xóa bỏ nghèo đói, bất công. Việc tôi được đề nghị phong Anh hùng Lao động và được chi bộ trong đơn vị do tôi phụ trách kiến nghị giải quyết thủ tục để kết nạp tôi ngày ấy ông Trần Đức Lương cũng biết. Tuy nhiên, đã từ lâu Đảng ngày càng tha hóa biến chất quá nhiều, nhiều cán bộ lãnh đạo của Đảng ngày nay không chỉ là những kẻ quan liêu, ăn cắp mà còn là những tên bán nước. Tôi không chống Đảng, tôi không thù ghét Đảng vì đảng viên nói chung là những người tốt. Họ là vợ tôi, họ hàng tôi, bạn bè thân thích của tôi. Tuy nhiên cái chế độ chính trị độc đảng, độc quyền, độc đoán làm cho nhiều người cứ có chức có quyền là dần dần trở nên tồi tệ. Ông Trần Đức Lương khi ở và làm việc với tôi là người rất tốt, ông không có bằng cấp sớm nhưng thông minh. Chúng tôi yêu quý và tôn trọng nhau. Tuy nhiên, tôi nghĩ, nếu tôi được Đảng tâng lên như thế thì chắc rằng tôi cũng chẳng khác ông ấy được là bao. Cái tội là tội ở chủ trương đường lối của Đảng. Nó làm hỏng con người. Trẻ con hỏng đường trẻ con, người lớn hỏng đường người lớn, càng quyền cao chức trọng càng khó giữ mình.

Đối: Các ông có biết nếu cứ bắn súng vào quá khứ thì hậu quả sẽ thế nào không?

Đáp: Các ông có biết ai đã bắn đại bác vào lịch sử khi chỉ đạo đập phá hết đình chùa và tượng đài các anh hùng là vua chúa thời phong kiến không? Ở Thanh Hóa quê tôi, không chỉ tất cả đình chùa miếu mạo mà cả cung vua Lê Lợi, cả thành Tây Giai cũng bị triệt phá tan hoang! Có biết ai hô hào ném bom nguyên tử vào chủ nghĩa tư bản để tiêu diệt nó và bảo rằng nó đang giãy chết?

Tôi không chỉ đã từng xung phong đi bộ đội chống Pháp mà còn rất muốn được vào chiến trường miền Nam tham gia chống Mỹ (trong kháng chiến chống Mỹ, Cục Bản đồ Địa chất đã đưa một đoàn vào khảo sát địa chất ở miền Nam). Do bị kỳ thị về lý lịch nên ngay cả nguyện vọng như thế cùng không được đáp ứng. Hài hước đến nỗi: tuy đã từng đi bộ đội chống Pháp mà khi tôi về Cục Bản đồ Địa chất, đang tham gia Dân quân Tự vệ ở đấy thì bỗng được cho nghỉ sinh hoạt vì cấp trên về kiểm tra phát hiện người Dân quân Tự vệ này có bố đang ở Sài Gòn!

Đối: Ông không được vào Đảng không phải vì Đảng mà vì cụ thân sinh của ông.

Đáp: Ba tôi khi học Collège Vinh đã cùng Nguyễn Khắc Viện rải truyền đơn vận động để tang Phan Châu Trinh cho nên bị đuổi học. Hồi làm “ông phán đầu tòa” ở Tòa sứ Thanh Hóa (tương đương Chánh Văn phòng Ủy ban Nhân dân tỉnh) đã nổi tiếng hay bênh vực người nghèo. Năm 1945, trên đường đi làm về ông đã xông vào đánh nhau với một tên Nhật để bênh vực một người phu kéo xe tay ở Hà Nội. Ông có võ Vovinam nhưng đã bị món Judo của tên Nhật quật ngã. Ông ốm, phải nghỉ việc nằm ở nhà cả tuần. Vào Sài Gòn ông làm cho Cơ quan Viện trợ Phát triển của Mỹ (USAID) và là người rút chạy cuối cùng trên chuyến trực thăng cuối cùng đỗ trên nóc Tòa Đại sứ Mỹ.

Đối: Làm sao mà có thể coi ông là nhà cách mạng kỳ cựu được!

Đáp: Tôi chưa bao giờ tự xưng như vậy. Bài viết “Đảng Cộng sản Việt Nam bị chính giới cách mạng kỳ cựu tố cáo là ‘mềm yếu’ trước Trung Quốc” đã dẫn các câu trả lời phỏng vấn của bà Aude Genet – giám đốc hãng thông tấn AFP – đối với 4 người: Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Trọng Vĩnh, Bùi Tín, Nguyễn Thanh Giang.

Đối với cuộc cách mạng dân tộc, tôi thuộc thế hệ 20 (1950 – 1930) / 45 (1975 – 1930). Học trò phổ thông của tôi có người lên cấp tá rất sớm. Một số đã hy sinh ở Điện Biên Phủ để không ai kịp lên tướng. Hồi học phổ thông, tôi là thường vụ hiệu đoàn phụ trách thiếu nhi toàn trường, trong đó có Đặng Thùy Trâm về sau ra Hà Nội đã học với Nguyễn Khoa Điềm, rồi trở thành bác sĩ-liệt sĩ. Thái Thanh thì học Đại học Tổng hợp Hà Nội với Nguyễn Phú Trọng…

Đối với công cuộc đấu tranh dân chủ hóa, tôi thuộc lớp người dấn thân từ rất sớm.

Đối: Hãy tự hỏi, ông đã làm được những gì cho tổ dân phố (ý nói sao tôi không cầm loa đi gọi quét ngõ nhà mà cứ “gái góa lo việc triều đình”)!

Đáp: Hãy hỏi xem ông Nông Đức Mạnh, ông Nguyễn Phú Trọng… đang làm được gì cho khối phố của các ông ấy.

Đối: Ông nương tựa vào Nguyễn Gia Kiểng nhưng có biết ông ta là người thế nào không? (Họ lục trong cặp ra một tài liệu nói về nhân thân của ông Kiểng dài đến hơn ba trang đánh máy vi tính.)

Đáp: Ba mẹ tôi bỏ nhau từ lúc tôi mấy tháng tuổi nên đến cha mẹ mình tôi cũng không từng được nương tựa. Đảng CSVN không những không cho tôi nương tựa mà còn kỳ thị, vùi dập tôi suốt cuộc đời. Nói tôi nương tựa vào Nguyễn Gia Kiểng là nói láo!

Dẫu ông Kiểng có là phản động, tôi cũng không việc gì phải né tránh ông ấy. Một đôi lần tôi đã nói với các quan chức công an cấp tá và cấp tướng rằng: Tôi ngồi với các ông cũng như ngồi với CIA thôi. Các ông là các ông, CIA là CIA. Còn tôi nhất định bao giờ cũng là tôi.

Đối: Ông là thủ trưởng mà sao không biết ông Vi Đức Hồi, ông Phạm Quế Dương, ông Nguyễn Thượng Long đều đã gia nhập Tập hợp Dân chủ Đa nguyên và Nguyễn Gia Kiểng đã phong Phạm Quế Dương làm chủ nhiệm, phong Nguyễn Thượng Long làm Phó Tổng Biên tập bán nguyệt san Tổ Quốc ư?

Đáp: Tôi không là thủ trưởng của ai hết. Các ông ấy có gia nhập Tập hợp Dân chủ Đa nguyên không là quyền của các ông ấy. Nhưng, nói ông Kiểng phong chức như trên cho ông Dương và ông Long là nói bậy. Tất cả những chuyện ấy đều do tôi sắp đặt.

Đối: Chúng tôi tiếp ông với thái độ hòa nhã, kính trọng, có trà nước đàng hoàng, sao ông cứ la lối rằng bị đàn áp dã man?

Đáp: Tôi xin lỗi nói khí không phải. Nếu thân sinh các ông cứ thường xuyên “được” triệu tập đến đây như thế này thì các cụ có chịu được không? Và các ông cũng cứ vui vẻ chiều lòng Đảng chứ?

Làm sao mà cứ lúc lúc lại khám nhà, lại thẩm vấn như thế này cho được. Hơn chục năm qua đã xông vào nhà tôi gần chục lần để lục lọi, khám xét tan hoang từ thùng gạo cho đến hố xí. Bắt cóc dọc đường hoặc triệu tập thẩm vấn cũng hơn chục lần. Một lần, hai lần, đến ba lần là phải xác định được con người đó như thế nào hoặc phải khởi tố để đưa ra tòa xét xử chứ. Sao lại có cái Đảng, cái chính quyền mà cứ hành xử kiểu lưu manh, côn đồ như vậy mài. Hành xử như tội phạm đối với người không có tội là tội phạm.

*

Tôi yêu cầu kết thúc đợt thẩm vấn này trong ngày 6 tháng 4 và phải ghi vào biên bản như sau:

Từ nay, tôi không nhận giấy triệu tập của công an nữa. Công an muốn vào nhà tôi phải báo trước hai ngày và chỉ được vào không quá hai người. Nếu cưỡng bức sẽ có thể có án mạng. Trong trường hợp ấy, tội trạng không cáo buộc cho những người thừa hành nhiệm vụ mà cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Đảng và Bộ trưởng Công an. Khi đối chất với công an, tôi sẽ chỉ trả lời những vấn đề liên quan đến pháp luật. Muốn đấu tranh tư tưởng và lý luận phải tổ chức hội thảo. Thành phần hội thảo phải có số đông gồm những người tuổi tác tương đương, học vấn tương đương, quá trình tham gia cách mạng tương đương. Tôi không có thì giờ để tranh luận về những vấn đề lớn và phức tạp với từng cá nhân, dù người đó là ông Nguyễn Phú Trọng hay ông Tô Huy Rứa.”

Hà Nội 8 tháng 4 năm 2010

© 2010 Nguyễn Thanh Giang

© 2010 talawas

Nguyễn Hoàng Văn – Chính trị tiêu chuẩn và tiêu chuẩn… chính trị

link :http://www.talawas.org/?p=18681

09/04/2010 6:00 sáng 3 phản hồi

Tác giả: Nguyễn Hoàng Văn

Chuyên mục: Chính trị - Xã hội, Tổng hợp
Thẻ: > > >

Bàn đến câu chuyện ồn ào much ado about nothing về Sợi xích của Nhà Xuất bản Hội Nhà văn, nhà thơ Lý Đợi nhận định:

“Thông thường ở các nước phát triển, các NXB (nhà xuất bản), các cơ quan truyền thông có tên tuổi thường biết từ chối và phân loại các sản phẩm, các tác phẩm không đủ đẳng cấp hoặc không phù hợp với tiêu chí của mình. Ở Việt Nam thì thật là khó, vì từ các chuyên mục, các chương trình nhỏ đến các NXB, các cơ quan truyền thông lớn… thì đẳng cấp và tiêu chí không bao giờ được giữ vững.

Các chương trình phỏng vấn định kỳ trên các phương tiện truyền thông là dễ nhận thấy sự đánh lận này nhất; ví dụ hôm trước phỏng vấn một chuyên gia đầu ngành, có nhiều đóng góp thì hôm sau lại phỏng vấn một người mà trong giới biết tỏng là ‘đạo chích’, chẳng có công trình nào mà lại không dùng ‘thủ pháp’… đạo văn, thì đâu cần phải nói tới đẳng với cấp!

Cho nên, trước câu hỏi là phải “phán xét” thế nào với Sợi xích? Có lẽ cách trả lời dễ nghe là chẳng có gì phải phán xét cả, vì ở Việt Nam chuyện này đang diễn ra hàng ngày.”[1]

Thì chẳng có gì để phán xét với tự thân câu chuyện. Nhưng khi những câu chuyện tương tự cứ “diễn ra ngày ngày”, bình thường tới mức “chẳng có gì phải phán xét” thì hẳn phải có cái gì đó không bình thường với ý niệm “đẳng cấp” và “tiêu chí”. Mà “đẳng cấp” nào thì có “tiêu chí” ấy, do đó vấn đề có thể rút gọn lại ở khái niệm “tiêu chí”.

“Tiêu chí”, theo Từ điển tiếng Việt (2004) của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, là “tính chất, dấu hiệu làm căn cứ để nhận biết, xếp loại một sự vật, một khái niệm”. Tôi đã thử tra và phát hiện rằng “tiêu chí” xuất hiện khá muộn hay ít ra là không được ghi nhận sớm hơn. Từ điển Khai Trí Tiến Đức không có. Từ điển Đào Duy Anh không có. Từ điển của Thanh Nghị hay của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ cũng không có. Chỉ có “tiêu chuẩn” và, trước sau, cũng chỉ được hiểu như là “Cái nêu và cái thước để làm chừng mực / Sự chừng mực để noi theo”, là “Nêu và đích / Cái làm mức, chừng mực” hay “Cây nêu và cây thước, vật đo / Chừng mực, mực thước” vậy thôi.

Nhưng theo sự xuất hiện của “tiêu chí” thì “tiêu chuẩn”, trong cuốn từ điển chính thống nói trên, phải chịu cảnh… bể dâu. Vừa là “điều quy định làm căn cứ để đánh giá, phân loại”, bây giờ “tiêu chuẩn” còn è cổ ra gánh vác một ý nghĩa hoàn toàn khác như là “mức quy định được hưởng, được cung cấp theo chế độ”.

Vấn đề cần đặt ra là nguyên ủy của chuyện bể dâu “đau đớn lòng” này. Tại sao, tại sao “cái nêu và cái thước làm chừng mực” có thể chuyển mình một cách trái cựa như thế để trở thành “quyền lợi theo chế độ”?

“Được cung cấp theo chế độ” là một thứ đặc quyền. Để được ban cấp những đặc quyền ấy thì cần phải chứng tỏ những tiêu chuẩn nào đó, để được đánh giá và xếp lọai vào những thứ hạng nào đó. Mà sự “chứng tỏ” này không phải là chuyện một sớm một chiều: nó là cả một quá trình, một “quá trình phấn đấu” đầy thử thách hay một quá trình luồn cúi ê chề.

Hơn thế nữa, nếu “tiêu chuẩn” là mức “được hưởng theo chế độ” thì yếu tố then chốt ở đây là… chế độ, từ “chế độ” nghĩa hẹp như một quy định/chính sách đến “chế độ” nghĩa rộng như một hệ thống chính trị. Càng được đánh giá cao là càng hợp với những “tiêu chuẩn” xếp lọai cao. Càng được xếp loại cao thì “tiêu chuẩn” đặc quyền càng cao. Hai ý nghĩa tưởng là toàn khác nhau nhưng lại có mối quan hệ rất là biện chứng với nhau. Mà “tinh thần biện chứng” này chính là tinh thấn cốt tủy của … chế độ: nó rất cần những thành viên có tiêu chuẩn xếp lọai cao, và nó sẵn sàng đầu tư tài nguyên để dung dưỡng cái giai tầng “tiêu chuẩn” cao này.

Nếu Karl Marx phân chia giai cấp theo tình trạng sở hữu “tư liệu sản xuất” thì chính chế độ nêu cao khẩu hiệu xoá bỏ giai cấp của Marx, có thể nói, đã giai cấp hoá xã hội bằng… “tiêu chuẩn”. Như cái xã hội “giai cấp hoá” trong cộng đồng báo chí xã hội chủ nghĩa theo hồi ức của ông Đinh Phong, người có thời là Chủ tịch Hội Nhà báo Thành phố Hồ Chí Minh, chẳng hạn:

“Một lần được anh Hoàng Tùng giao đi làm tin Thủ tướng Phạm Văn Đồng chiêu đãi chuyên gia. Tôi được đi cùng Tổng Biên tập đến Nhà hát lớn, nhưng khi đến cổng, nhân viên lễ tân không cho vào. Anh Hoàng Tùng nói thế nào họ cũng khăng khăng giấy mời Tổng Biên tập, không phải cho phóng viên. Tôi trở về, không viết được tin. Sáng hôm sau, Văn phòng Thủ tướng hỏi: sao không đưa tin Thủ tướng tiếp khách? Anh Hoàng Tùng cho biết vì không có giấy mời, đến xin vào cũng không cho. Nghe nói sau đó Vụ Lễ tân bị phê bình, còn tôi thì ‘trắng án’.

Sở dĩ có sự kiểm soát đó, ngoài các nguyên nhân về an ninh còn có nguyên nhân ‘sợ’ phạm tiêu chuẩn cho phép. Lúc đó do khó khăn, lễ tân nhà nước quy định: phóng viên không được dự các cuộc chiêu đãi. Chúng tôi đến các cuộc tiếp khách phải ngồi ngoài cửa, chỉ được uống nước trà, không được vào bàn ăn. Thậm chí ở các cuộc họp lớn, còn quy định: phóng viên nước ngoài được uống bia, phóng viên trong nước chỉ được uống nước trà.”[2]

Hay rõ hơn là hồi ức về “Ngày xưa xa thế” của Trần Đức Chính, nguyên là phó Tổng Biên tập báo Lao Động:

“Đã là vào nghề thì phải cao thấp, sư phụ, đồ đệ, đại ca, tiểu đệ. Các phóng viên tầm cỡ thường được dành phần viết các anh hùng. Phóng viên èng èng chỉ được viết đến cỡ chiến sĩ thi đua nhiều năm liền là cùng. Anh nào yếu hơn có khi chỉ được viết lao động tiên tiến.

[…] Ngày ấy làm báo chỉ viết các nguồn tin trong nước là chính. Tin nước ngoài chủ yếu do Việt Nam Thông Tấn Xã phát. Có quy định những người hưởng lương chuyên viên II trở lên mới được đọc các bản tin tham khảo. Muốn vươn tới chuyên viên II (được khám bệnh tại Bệnh viện Hữu nghị Việt – Xô, có phiếu thực phẩm loại C, tháng mua cả cân đường, cân thịt lợn) phải qua chuyên viên I. Muốn lên chuyên viên I phải qua 6 bậc cán sự, tức 6 bậc phóng viên. Nếu không được đề bạt làm một chức vụ nào đó thì đến lúc về hưu nhiều nhà báo vẫn chưa mon men được đến phiếu C.

[…] Ấy thế mà khi tôi mở BBC để tham khảo tin, ông quản trị khu tập thể đến góp ý: đồng chí không nên mở đài địch công khai như vậy. Tôi nhận lỗi và báo cáo: cháu là nhà báo, mới được lên phó ban, có phiếu C rồi. Lúc đó ông ta mới tha, không báo lên trên, nhưng dặn tôi phải mở bé, đủ nghe, anh em các phòng xung quanh họ chưa đủ tiêu chuẩn nghe đâu (!).

[…] Dăm năm trở lại đây làm ‘quản lý’, ngồi phòng máy lạnh, có tiêu chuẩn nước khoáng, tôi vẫn phụ trách mục phóng sự, mỗi năm tổ chức anh em viết dăm trăm cái, dùng độ hơn hai trăm.”[3]

Đường “hoạn lộ” như thế thì kể cũng khá hanh thông. Thời bao cấp đã là chuyên viên bậc hai, không chỉ có phiếu C mỗi tháng “mua cả” cân đường cộng cân thịt lợn mà còn được nghe cả “đài địch” BBC. Đến thời “kinh tế thị trường”, khi hồi tưởng về “ngày xưa xa thế” trong cuốn sách xuất bản năm 2001, thì đã là nghiễm nhiên “ngồi phòng máy lạnh, có tiêu chuẩn nước khoáng”. Cách kể chuyện của tác giả vừa có vẻ mãn nguyện của kẻ đang ngây ngô tự đắc về thành đạt nghề nghiệp của mình và cả những thành đạt trong “tiêu chuẩn” hưởng thụ của mình. Tôi ngờ rằng niềm tự hào ngây ngô của ông phó Tổng Biên tập này đã nói lên yếu tố then chốt trong sự biến nghĩa của từ “tiêu chuẩn”.

Trong một hệ thống như thế thì những tầng bậc “tiêu chuẩn” như ăn thịt hay uống trà, cân đường cộng cân thịt không chỉ đơn thuần là vật chất để hưởng thụ mà còn là… nhân phẩm nữa. Chưa đủ “tiêu chuẩn” mỗi tháng một cân thịt lợn cũng có nghĩa là chưa đủ trình độ nghề nghiệp và bản lĩnh chính trị để “đọc tin tham khảo” hay “nghe đài địch”. Phải xơi mỗi tháng ít nhất một cân thịt lợn và cân đường thì mới đủ “trình độ” để viết về người tốt việc tốt tầm cỡ “anh hùng”. Như thế thì cân thịt và cân đường đã trở thành “nhân phẩm”, thành những thứ “nêu và đích” để những thành viên năng nổ của hệ thống “phấn đấu” để đạt tới. Khi thịt hay đường trở thành “nêu và đích” để họ đạt tới hay “sự chừng mực” để họ noi theo thì chúng đã nghiễm nhiên trở thành … “tiêu chuẩn”.

Điều đáng nói là trong khi thứ “tiêu chuẩn” ở ý nghĩa quyền lợi này được bảo vệ một cách chặt chẽ thì thứ “tiêu chuẩn” kia, trong ý nghĩa của “tiêu chí”, đã không được tôn trọng.

Như trường hợp ông Phạm Văn Đồng, chẳng hạn. Là Thủ tướng, ông ta là người chịu trách nhiệm cao nhất cho những quy định chi li về quyền ăn và quyền uống nói trên v.v… Nhưng cũng trong vai trò Thủ tướng, ông ta đã ra lệnh kiểm điểm những thuộc cấp đã hành xử cứng nhắc, không chịu du di những “tiêu chuẩn” mà ông ta ấn định.

Mấu chốt của vấn đề cũng là quyền lợi. Hệ thống có thể du di tất cả “tiêu chuẩn” hay “tiêu chí” miễn là sự du di đó không va chạm đến quyền lợi. Và khi không thể không va chạm quyền lợi thì, hẳn nhiên, bao giờ người ta cũng có thể du di quyền lợi bé để “kiên định” với quyền lợi lớn.

Chỉ đi ăn tiệc thôi mà xuất hiện trên trang nhất báo Nhân Dân thì có nghĩa là một đặc quyền hay một “tiêu chuẩn chính trị”. Để được tham dự “quốc tiệc” tại Nhà hát lớn suông thôi, không lên tin trên báo thì tự thân việc tham dự chỉ có một ý nghĩa thấp hơn, thiên về khía cạnh kinh tế. Ông Phạm Văn Đồng bảo vệ “tiêu chuẩn kinh tế” của những cán bộ cao cấp bằng những quy định chặt chẽ về điều kiện tham dự buổi chiêu đãi. Nhưng ông ta cũng muốn bảo vệ cái “tiêu chuẩn chính trị” còn cao hơn mấy bậc cho riêng mình trên trang nhất báo Nhân Dân. Chính vì thế có chuyện kiểm điểm những kẻ không chịu du di trong những “tiêu chuẩn kinh tế” thấp hơn.

Đó chính là cái “chính trị tiêu chuẩn” của hệ thống tòan trị, cái hệ thống có thể du di mọi “tiêu chuẩn” nhưng luôn cứng nhắc với “tiêu chuẩn của chính trị” của nó. Sẽ không có gì hiểu khi Nhà Xuất bản Hội Nhà văn thản nhiên du di những tiêu chuẩn mỹ học để đứng tên xuất bản Sợi xích của Lê Kiều Như nhưng tuyệt không dám du di, tự trói chặt mình trong sợi xích của “tiêu chuẩn chính trị” với hồi ký của Trần Vàng Sao hay hồi ký của Trần Độ.

Trên lý thuyết thì cách mạng vô sản là để xoá bỏ cách biệt giai cấp. Cũng trên lý thuyết thì cách mạng phải thực hiện chuyên chính vô sản để bảo vệ quyền lợi giai cấp. Như thế thì, theo logic thông thường, ngay từ đầu “cách mạng” đã tự mâu thuẫn với mình bởi, khi giai cấp vô sản đã có “quyền lợi”, thậm chí quyền lợi đó được bảo vệ bằng cả một nền chuyên chính, nó đâu còn là… vô sản nữa? và nền chuyên chính ấy cũng đâu còn là “vô sản” nữa?

Sinh thời nhà sử học Trần Quốc Vượng kể chuyện thời còn trẻ học trung học trong vùng kháng chiến của mình: ông được hiệu trưởng Trần Văn Giàu chú ý vì khẳng khái từ chối suất du học theo “tiêu chuẩn của bố”. Bố ông là một viên chức quan trọng trong bộ máy hành chính kháng chiến, do đó có được cái “tiêu chuẩn con đi du học”, thế nhưng nhà sử học tương lai khẳng khái rằng nếu được đi du học thì ông phải đi bằng năng lực của mình chứ không muốn làm một thứ sinh viên “tập ấm”, được chọn đi du học theo “tiêu chuẩn” của bố.

Thế có nghĩa là một thứ quan cách mạng, với những bổng lộc cách mạng, ngay trong thời kháng chiến. Về thứ quan kháng chiến này còn có một câu chuyện sinh động khác của nhà văn Vũ Thư Hiên:

“Lần đầu tôi được thấy tận mắt trong quân đội cách mạng cũng có lính hầu là ở trạm Quảng Nạp, một trong cửa ngõ vào an toàn khu từ ngả Thái Nguyên. Trước đó tôi không bao giờ hình dung có người đi làm cách mạng chỉ để hầu ai đó. Trong quân đội Việt Nam cũng có các vệ sĩ, hồi mới kháng chiến còn gọi là gác-đờ-co nhưng họ hoàn toàn không phải là lính hầu. Cơn sốt rét rừng bất chợt buộc tôi phải nằm lại trạm này đã cho tôi có dịp quan sát mấy đoàn cố vấn Giải phóng quân đi ngang. Những cố vấn Trung Quốc, thường là cấp tướng, đến Việt Nam mang theo cả đoàn lính hầu nhộn nhịp, nào bảo vệ, nào cần vụ, nào cấp dưỡng, nào giám mã. Khi cố vấn lên đường công tác, anh cấp dưỡng quảy nồi niêu xoong chảo lên vai, anh cần vụ lỉnh kỉnh chăn màn gối đệm trên vai, anh giám mã chạy tới cúi gập mình xuống làm cái kê cho cấp trên đạp lên lưng mình mà leo lên ngựa. Cố vấn đến nơi cần nghỉ ngơi thì cần vụ kê giường trải nệm, bày ra nào chậu nào thau cho cấp trên rửa mặt rửa chân, cấp dưỡng te tái lo nấu cơm nấu nước, bảo vệ lăm lăm súng đứng gác, giám mã te tái đi cắt cỏ ngựa. Răm rắp, răm rắp, không chê vào đâu được.

Nhìn cảnh đó tôi vừa ngạc nhiên vừa ghê tởm. Có lẽ không có quân đội nào trên thế giới có thứ lính hầu khốn khổ khốn nạn như lính cần vụ Trung Quốc.

Ăn uống trong quân đội Trung Quốc cũng phân biệt rõ rệt theo cấp bậc, hay nói cho đúng hơn, theo đẳng cấp. Lính trơn cho tới cấp chỉ huy trung đội thì ăn tiêu chuẩn đại táo, tức là mức ăn phổ thông, thấp nhất. Trên đại táo là trung táo, dành cho cấp chỉ huy đại đội tới tiểu đoàn. Tiểu táo là mức ăn dành cho cấp trung đoàn trở lên. Cao nhất là đặc táo, dành riêng cho các nhà lãnh đạo, để đãi khách, bữa nào cũng như tiệc.

Nỗi kinh ngạc của chúng tôi kéo dài không lâu – cả về mặt này quân đội Việt Nam cũng nhanh chóng tiếp cận quân đội đàn anh. May mắn thay, cái sự phân biệt các thứ táo tồn tại không lâu, và ở mức độ thấp hơn nhiều. Ở ngoài mặt trận không ai dám liều lĩnh sao chép nguyên bản cái trật tự đẳng cấp kỳ cục ấy. Trước mặt người lính là kẻ thù xâm lược, người lính có thể nổi giận. Mà ở chiến trường thì chẳng ai biết được người lính nổi giận sẽ hành động thế nào. Ðiều chắc chắn là sức chiến đấu của quân đội sẽ giảm sút.”[4]

Thời chiến thì họ không nhưng thời bình thì họ dám. Và không chỉ là quân đội mà là cả hệ thống chính trị như có thể thấy trong cái lớp lang “tiêu chuẩn” quanh bàn tiệc của ông Phạm Văn Đồng. Như thế thì, bên cạnh các phương thức “đảng trị”, “công an trị”, hệ thống còn có phương thức “tiêu chuẩn trị”.

Hệ thống khăng khăng bảo vệ quyền lợi giai cấp. “Giai cấp” thì khăng khăng bảo vệ… “tiêu chuẩn”. Bằng những “tiêu chuẩn” đặc quyền, hệ thống tạo ra một giai tầng đặc quyền. Để bảo vệ đặc quyền của mình, giai tầng ấy bảo vệ hệ thống như là bảo vệ chính sinh mạng của mình. Mà để vươn tới những giai tầng đặc lợi, toàn bộ những thành viên của nó phải bám vào hệ thống, phải vận hành như những thứ ốc vít hay con rối đúng theo tiêu chuẩn của hệ thống.

Phương thức “tiêu chuẩn trị” này, không chừng, còn là cội rễ sâu xa nhất của căn bệnh tham bất trị hiện tại. Và khi hệ thống toàn trị thừa nhận rằng bệnh tham nhũng là bất trị thì có nghĩa là nó cũng mặc nhiên thừa nhận rằng, để bài trừ tận gốc nạn tham nhũng, thì phải bài trừ tận gốc cái hệ thống toàn trị.[5]

Vì hệ thống, vốn dĩ, là… vô sản, còn tài nguyên lại là sở hữu quốc gia. Tài sản quốc gia nhưng bị trưng dụng như một thứ “tiêu chuẩn” riêng của hệ thống, và từ “tiêu chuẩn của chúng ta” đến “tiêu chuẩn của riêng ta” chỉ là một bước đi rất ngắn. Mỏng như sợi tóc.

Cao nhất trong “tiêu chuẩn của chúng ta” “tiêu chuẩn cầm quyền”, thể hiện qua Điều 4 Hiến pháp và đây chính là một hành động “tham nhũng chính trị” không hơn không kém. Hành động tham nhũng tập thể này được bảo đảm bằng sức mạnh của cả hệ thống công an trị, được tự nhiên hoá và chính đáng hoá bằng cả một hệ thống giáo dục và tuyên truyền. Khi mà cả hệ thống xem trò “tham nhũng” tập thể này là chính đáng, là tự nhiên, là “tiêu chuẩn” ắt có của nó thì những thành viên của nó cũng sẽ xem chuyện tham nhũng cá nhân như là “tiêu chuẩn” tự nhiên của mình.

Triết lý và hành động “tham nhũng chính trị” đã thai nghén nên cái “chính trị tham nhũng” đã trở thành bất trị như thế. Ngày nay, khi “phấn đấu” hay luồn cuối để vươn tới một vị trí nào đó thì, trong thâm tâm, đa số những thành viên năng nổ nhất của hệ thống cũng chi lăm lăm “phấn đấu” và luồn cuối để vươn tới những địa vị có đặc quyền tham nhũng. Đạt đến một “tiêu chuẩn chính trị” cao hơn cũng có nghĩa là đạt đến một “tiêu chuẩn tham nhũng” cao hơn. Họ cố vươn lên với mối ám ảnh về “tiêu chuẩn tham nhũng”. Cũng giống như các đồng chí đàn em ngày xưa cố vươn lên với mối ám ảnh về “tiêu chuẩn ăn tiệc”, cái về cái ngày họ có được cái quyền bước vào bàn tiệc ê hề thịt rượu bên trong, không phải ngồi chò hỏ bên ngoài uống trà suông, tưởng tượng cảnh các đồng chí đàn anh bên trong nhồm nhoàm chén chú chén anh.

Mà, khi có thể vạch ra một quy định chi ly buộc kẻ này phải ngồi ngoài uống trà nhìn kẻ kia vào trong ăn tiệc cho dù tất cả đều gọi nhau là đồng chí, chính cái hệ thống toàn trị đã khai sinh ra cái thói hành xử mà ngày nay chúng ta gọi là “bệnh vô cảm”.

Sự “vô cảm” thành bệnh bởi đó chính là… “tiêu chuẩn đạo đức” của hệ thống. Với hệ thống thì vô cảm đến đâu cũng mặc, là đừng chạm đến “tiêu chuẩn chính trị”. Cái “chính trị tiêu chuẩn” và “chính trị tham nhũng” của hệ thống là thế. Cãi chày cãi cối hay ngậm miệng ăn tiền thì qua chuyện và những quan lại hay hào lý và trương tuần cách mạng ăn chặn tiền bạc và phẩm vật cứu trợ nạn nhân bão lụt vẫn an nhiên tại vị. Họ ăn chặn năm này sang năm khác, từ mùa bão lụt này tới mùa bão lụt khác nhưng hầu như chẳng có ai thực sự ra toà và chẳng có ai thực sự đối diện với những hình thức truy bức và đàn áp của hệ thống công an trị. Khác hẳn những những blogger đi bên lề trái. Khác hẳn những công dân dám đá động đến chuyện chủ quyền trên biển.

Hẳn nhiên, hệ thống cũng có cách để bào chữa cho hành động truy bức những công dân lương thiện và yêu nước nhất của mình. Cũng giống như thời bao cấp, lúc những nhà báo có phiếu C mỗi tháng “mua cả” cân thịt lợn thì mới có tiêu chuẩn “nghe đài địch”, những kẻ như thế đã phạm lỗi vì họ chưa đạt đến “tiêu chuẩn” để đề cập đến những chuyện “nhạy cảm” như thế. “Tiêu chuẩn” ấy phải thuộc phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao.

Thế nhưng, xét cho cùng, “tiêu chuẩn phản đối” của viên chức này cũng chỉ là nói đi nói lại cái câu phản đối cái câu nói như đã được thu băng, chưa mở miệng đã biết nói gì: “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa…” Nếu lịch sử dân nhạc Việt Nam có “Sáu câu vọng cổ thì mai này lịch sử giữ nước của dân tộc sẽ ghi nhận thêm “Một câu phản đối” của hệ thống toàn trị bởi “tiêu chuẩn phản đối” của viên chức ấy cũng không thể vượt xa hơn câu nói trăm lần như một.

“Tiêu chuẩn phản đối” của viên chức ấy không thể vượt qua là chuyện tự nhiên. Nó cũng tự nhiên như “tiêu chuẩn xe” của ông ta hay bà ta, nếu có, sẽ không được phép vượt qua, giống như xe đại sứ thì không được vượt qua 65 ngàn đô la, xe tổng lãnh sự thì 50 ngàn đô la…[6]

Sydney 5.4.2010

© 2010 Nguyễn Hoàng Văn

© 2010 talawas



[1] Lý Đợi, “Phán xét thế nào với Sợi xích?”

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/03/100323_lydoi.shtml

[2] Đinh Phong, “Từ báo Nhân dân đến báo Giải phóng”, trong Thời gian và Nhân chứng, Hà Minh Đức, chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia., tr. 410.

[3] Trần Đức Chính (2001), “Ngày xưa xa thế”, Thời gian và Nhân chứng, tr. 121, 122, 12 và 140, sđd.

[4] Cuốn này được phổ biến khá rộng rãi trên mạng Internet, có thể tham khảo ở Chương 9, tại địa chỉ: http://doquynhgiao.tripod.com/hkdgbn/vthuhien.htm

[5] Xin dẫn ba câu chuyện vui vui về mối quan tâm đến “quốc nạn tham nhũng” của những nhà lãnh đạo cộng sản.

I. Nguyễn Văn Chi, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng:

“Các cấp ủy viên được bầu trong nhiệm kỳ này phải là những cán bộ không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng”.

Nghĩa là cán bộ đảng viên tham nhũng tràn lan và tham nhũng thì chẳng sao cả, chỉ là không đựợc bầu vào cấp ủy thôi!

Xem: http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/09/870365/

II. Trương Tấn Sang, Thường trực Bộ Chính trị

“Những quy định của Đảng và Nhà nước đã phù hợp nhưng do tổ chức, điều hành yếu kém, cần phải kiên quyết thay người phụ trách, điều hành. Cạnh đó, cần cụ thể hóa tiêu chuẩn cấp ủy “không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng”.

Nghĩa là chỉ cần “tiêu chuẩn cấp ủy không tham nhũng” thôi, còn “tiêu chuẩn đảng viên” thì không làm khó, tha hồ mà tham nhũng!

Xem: http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/361177/Phong-chong-tham-nhung-Chon-nguoi-trong-sach-dung-dau.html

III. Lê Khả Phiêu, cựu tổng bí thư:

“Đảng phải đổi mới trong công tác cán bộ, từ việc bố trí, sắp xếp, đề bạt, tuyển chọn cán bộ lãnh đạo ở Trung ương, các đoàn thể cho đến các địa phương. [..] Nhất thiết không giới thiệu, không đưa vào danh sách, không bầu cử những người tham nhũng và thiếu trách nhiệm trong chống tham nhũng, những người không kiên định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, không có khả năng thực tế, thiếu gắn bó với nhân dân, không dũng cảm tự phê bình và phê bình. Đấu tranh loại bỏ tệ chạy chức, chạy quyền, mua lòng nhau để kiếm phiếu.”

Nghĩa là tham nhũng không sao cả, không bị ra toà hay bị khai trừ đảng, chỉ không được “bố trí, sắp xếp, đề bạt, tuyển chọn” và các chức vụ “lãnh đạo ở Trung ương” thôi!

Xem:http://vietnamnet.vn/chinhtri/201002/Nguyen-Tong-Bi-thu-va-nhung-tran-tro-chinh-don-Dang-893032/

[6] Quyết định số 30/2010/QĐ-TTg do Thủ tướng Việt Nam ký ngày 15/3/2010 quy định xe của đại sứ không quá 65.000 đô la, xe của tổng lãnh sự thì không quá 60.000 đô la. Không rõ xe của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao là bao nhiêu.

Xem: http://legal.moit.gov.vn/default.aspx?page=news&do=detail&category_id=34&news_id=502

Phản hồi

3 phản hồi (bài “Nguyễn Hoàng Văn – Chính trị tiêu chuẩn và tiêu chuẩn… chính trị”)

  1. Bắc Phong nói:

    giai cấp hóa bằng định tiêu chuẩn
    tiêu chuẩn của khỉ khác đười ươi
    mong có ngày họ đạt tiêu chuẩn
    sống cho ra được cái giống người

    Xin cám ơn tác giả Nguyễn Hoàng Văn đã cho đọc một bài viết hết sức thâm thúy về chế độ tiêu chuẩn của nhà nước CHXHCNVN.

  2. vantruong nói:

    Bài này hay quá, lời lẽ đích đáng, phải nói rõ những lời đúng phải nói. Hoan hô.
    Nhưng mà tôi vẫn sợ… “tiêu chuẩn”, “đẳng cấp”, “tham nhũng tập thể” (như một thời “lên đồng tập thể”) vẫn là những thứ còn nhiều người chưa hiểu vỡ vì như một câu tôi tình cờ thấy được trên quầy rượu của một quán cà-phê trong vùng Bretagne bên Pháp: “Il vaut mieux être saoul que con, ça dure moins longtemps”, xin được tạm diễn dịch là: “Thà là ta say xỉn còn hơn bị ngu, vì ngu thì hơi bị lâu dài”.

  3. nguyen mai linh nói:

    Miếng thịt là miếng nhục – Miếng thịt là tiêu chuẩn phân phối, miếng nhục là nhân phẩm con người. Thời nay tuy không còn giành giựt miếng thịt tiêu chuẩn như trước, nhưng chuyện giành giựt miếng thịt vẫn diễn ra hàng ngày trên đất nước ta, người thì thịt cá ê hề, người thì không có cái mà ăn. Miếng nhục vẫn từ miếng thịt giành giựt mà ra

ĐCSVN NGUYỆN THEO CON ĐƯỜNG TRUNG QUỐC ĐÃ CHỌN

link :

http://clbnhabaotudo.wordpress.com/2010/04/09/dcsvn-nguy%e1%bb%87n-theo-con-d%c6%b0%e1%bb%9dng-trung-qu%e1%bb%91c-da-ch%e1%bb%8dn/#more-1966

Chuẩn bị cho các hoạt động của năm Hữu nghị Việt – Trung 2010, kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước Việt nam-Trung quốc, tại buổi họp báo sáng nay (6/1) ở Hà Nội, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường đã thông báo các sự kiện cũng như đánh giá về tiến trình hợp tác 60 năm Trung – Việt qua đó Đại sứ Tôn Quốc Tường đã cho rằng giải pháp thiết thực hiện nay, đó là tạm gác lại tranh chấp Biển Đông, chờ điều kiện chín muồi giải quyết, trong khi ưu tiên cho hoạt động phát triển kinh tế xã hội ở hai nước(1). Mọi người đánh giá rằng, phía Trung quốc mượn cuộc phỏng vấn ngày 6/1/20010 hòng thông qua Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của mình tại Hà nội Tôn quốc Tường phía Trung quốc đã yêu cầu đảng, chính quyền và nhân dân Việt nam phải thực hiện một số điểm sau:
1. Tạm gác tranh chấp:

Chúng ta hẳn còn nhớ ngài Đại sứ Tôn Quốc Tường, trong cuộc họp báo đó với giọng điệu nước lớn, sặc mùi Đại Hán khi nói tới kinh nghiệm quý báu nhất rút ra trong tiến trình 60 năm quan hệ Trung – Việt là “hợp tác sẽ phát triển, đấu tranh sẽ thất bại” và khuyên nhủ nhà nước và nhân dân Việt nam hãy “Để giải quyết tranh chấp, hai bên cần xuất phát từ đại cục, toàn cục và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, tạm gác lại tranh chấp, không làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường, thuận lợi của quan hệ hai nước”. Ngạo mạn chưa đủ ngài Đại sứ Trung quốc còn lên giọng răn đe đàn em “Là láng giềng, là đồng chí, anh em, hai nước có 100 lý do để hợp tác và không có một lý do nào làm hỏng quan hệ Trung – Việt”“Lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đã nêu ra một sáng kiến mang tính xây dựng, đó là gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác. Ý nghĩa của nó là không nhắc đến vấn đề tranh chấp mà hai bên có thể tiến hành hoạt động phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội của hai bên chúng ta. Bời vì đó là lợi ích hai bên cùng có lợi và cùng chia sẻ”.

2.Không được đưa thông tin xấu về quan hệ Việt nam-Trung quốc:

Trả lời câu hỏi về cách ứng xử của Trung Quốc thời gian qua đối với ngư dân Việt Nam, ông Đại sứ Trung quốc cho rằng “Thông tin đăng trên báo chí có một số là sự thật, một số không phải là sự thật. Tôi phải nói rằng Trung Quốc luôn ứng xử những vấn đề như thế này rất có trách nhiệm. Khi phía Việt Nam nêu vấn đề, chúng tôi đã xác minh, kiểm tra ngay lập tức nhưng kết quả xác minh của chúng tôi lại khác với kết quả của phía Việt Nam.” và lớn tiếng nhắc nhở phía Việt nam như sau “Sau khi sự việc xảy ra, chúng tôi đã trao đổi riêng với các đồng chí Việt Nam. Chúng tôi cho rằng không nên đưa tin những việc xấu như thế này. Phóng viên Việt Nam kiểm tra lại, báo chí Trung Quốc ít đưa tin về tranh chấp trên biển, tranh chấp về nghề cá và chúng tôi luôn xuất phát từ đại cục, tuy rằng chúng tôi có lý nhưng chúng tôi thấy cũng không nên đưa tin”.

Từ cuộc họp báo ngày 6/1/2010 đến hôm nay vừa tròn ba tháng, không cần điểm lại những thông tin trên báo chí của đảng trong ba tháng vừa qua mà chí cần điểm những thông tin trong khoảng 10 ngày cuối tháng 3 và đầu tháng tư đến hôm nay, ta thấy báo chí trong nước đã đưa tin gì trước động thái của các cấp chính quyền và báo chí Việt nam qua việc thực hiện nghiêm túc các chỉ thị của ông Đại sứ Trung quốc. Đó là “Tạm gác lại tranh chấp-Không được đưa tin xấu về quan hệ Việt nam-Trung quốc” cụ thể một số dẫn chứng:

1. Sự việc ngày 22-3, Trung Quốc bắt tàu cá QNg-50362 do ông Tiêu Viết Là ở Bình Châu, Bình Sơn (Quảng Ngãi) làm thuyền trưởng và 12 ngư dân. Theo Báo Tuổi trẻ ngày 25-3, ông Tiêu Viết Là gọi điện thoại về nhà thông báo chuẩn bị 70.000 nhân dân tệ (tương đương 200 triệu đồng) để nộp phạt(2). Trước vụ việc trên, Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản đề nghị Cục Lãnh sự – Bộ Ngoại giao có công hàm gửi phía Trung Quốc yêu cầu sớm thả vô điều kiện tàu cá và ngư dân đang bị bắt giữ. Nhưng mọi chuyện vẫn chìm trong sự im lặng đáng sợ, Bộ ngoại giao vướng “vấn đề nhạy cảm” vì Thứ trưởng Bộ ngoại giao Phạm Bình Minh đang ở thăm và làm việc tại Trung quốc, nên để bà con ráng chờ.

Phải đến ngày 5/4/2010 trang VN plus của TTXVN đưa tin (3) cho biết người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga (chỗ dựa duy nhất của dân tộc Việt nam trong vấn đề tranh chấp với TQ) nhấn mạnh, việc Trung Quốc cử tàu ngư chính đi tuần tra tại khu vực quần đảo Trường Sa là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này, mà bà Nguyễn Phương Nga “quên” không phản đối Trung quốc bắt giữ 12 ngư dân nói trên, mà lý do tin “vỉa hè” những ngày đó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang họp hội nghị thượng đỉnh Sông Mê Công tại Huahin-Thailand cũng vướng “vấn đề nhạy cảm” vì có sự tham gia của đại diện Bộ Ngoại giao Trung quốc nên không cho ý kiến chỉ đạo được.

Ngày 8/4/2010 Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh(4) cho biết đã mất liên lạc với 12 bà con ngư dân, bản tin viết: ” (PL)- Chiều 7-4, ông Nguyễn Thanh Hùng, Phó Chủ tịch UBND xã Bình Châu (huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi), cho biết sau hơn nửa tháng kể từ ngày bị phía Trung Quốc bắt giữ, 12 ngư dân của xã vẫn chưa được thả về.

Cũng chiều 7-4, bà Nguyễn Thị Bưởi, vợ của ngư dân Tiêu Viết Là (chủ tàu cá bị phía Trung Quốc bắt giữ), cho biết ngày 29-3, sau khi gọi điện thoại đòi tiền chuộc 70.000 nhân dân tệ, phía Trung Quốc hẹn hai ngày sau sẽ gọi lại. Nhưng mãi đến chiều 7-4, phía Trung Quốc vẫn không liên lạc“.

Điều đáng ngạc nhiên nhất là các tờ báo quan trọng của Đảng và Chính quyền như Nhân dân, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tạp chí Cộng sản…im tịt, không hề có một mẩu tin nhỏ về sự kiện nghiêm trọng này.

Chỉ qua một vụ việc nêu trên, đã cho thấy từ Thủ tướng chính phủ, Bộ Ngoại giao, Ban Tuyên giáo trung ương, các tòa báo hàng đầu và các cơ quan hữu quan của Việt nam thực hiện rất nghiêm túc chỉ thị của Ngài Đại sứ Trung quốc là “Không được đưa thông tin xấu” !?


Giải phóng quần đảo Trường Xa

2. Cùng thời gian trên, ngày 4/04/2010 trang nhandan.org(5)cơ quan trung ương của Đảng CSVN có một bài liên quan đến Trường sa, không hiểu vô tình lỗi của cậu đánh máy hay có sự chỉ đạo của cấp trên, phần chú thích ảnh minh họa có ghi “Giải phóng quần đảo Trường Xa”, chữ Trường Sa đã được viết là Trường Xa !?. Việc sai sót này có liên quan gì đến việc Báo Nhân dân thực hiện nghiêm túc chỉ thị “Gác lại tranh chấp”?

Về chuyện này có người trong nước biết đã bình luận rằng: “Trời đất! Nó là “Giải phóng quần đảo Trường Xa” ạ. Đây không phải thứ “lỗi đánh máy” đơn giản như của anh Quát năm ngoái, vì nó là thứ danh từ riêng đặc biệt mà lẽ ra mỗi người VN yêu nước phải ghi khắc nó rõ nhất trong lòng. Vậy mà … Mới biết tòa báo nầy đã huấn luyện cho đội ngũ nhân viên thiệt giỏi (sao cho càng ít được biết tới hai chữ Trường Sa, Hoàng Sa nhất càng tốt?)”

3. Trên trang VnExpress ngày 4/4/2010 có đăng bài báo “Trung Quốc tăng cường tuần tra gần Trường Sa”(6) ủng hộ Trung Quốc tuần tra ngư chính và bảo vệ ngư dân Trung Quốc? Về bài viết này trang Bauxite Việt Nam có bình luận khá chua xót “Những sai phạm loại này hình như bây giờ đã bị xếp vào nhóm không còn đáng quan ngại, nghĩa là trong tâm lý một bộ phận có chức có quyền nào đấy, làm sao dẹp bỏ phản ứng của người dân quá nhạy bén với tinh thần yêu nước còn quan trọng hơn rất nhiều cái việc để cho dân chúng trơ lỳ mất sức đề kháng trước hành vi ngang ngược của bọn cướp nước. Cho nên, mấy ông TBT những tờ báo “lề phải” mà bài viết dưới đây đem ra chất vấn, nếu chẳng may có sơ suất vi phạm ý thức về chủ quyền đất nước nhưng dư luận sơ ý không khơi ra thì âu cũng lờ đi cho họ, bởi vì căn bản họ… ngoan ngoãn”.

VNEXPRESS ngày 4/4/2010

Còn nhiều và rất..rất nhiều những bài viết mang tính phục tùng ngoan ngoãn tương tự trên báo lề phải trong nước, không đủ sức để mà dẫn ra giúp bạn đọc mà thôi.

Hôm nay ngày 9/4/2010 trên trang Dân trí có đưa tin “Việt-Trung đàm phán hợp tác du lịch thác Bản Giốc”(7), bản tin cho biết “Hai bên đồng ý việc hợp tác khai thác du lịch tại khu vực thác Bản Giốc-Đức Thiên phải đảm bảo phát triển bền vững, bảo vệ cảnh quan môi trường, góp phần tăng cường mối quan hệ giữa chính quyền và nhân dân khu vực biên giới”.

Người viết đọc xong tin sau cùng này chỉ biết kêu trời và nói “thế là xong” bởi nó đúng như chỉ đạo của Đại sứ Trung quốc Tô Quốc Tường là “Hãy tạm gác tranh chấp”. Kể từ ngày 6/1/2010 sau khi Đại sứ Trung quốc Tô Quốc Tường trả lời phỏng vấn xong, sau khi những phát biểu ngạo mạn, trịch thượng của vị Đại sứ Trung quốc không mấy thiện cảm bị dư luận cộng đồng người Việt nam trong và ngoài nước phản đối mạnh mẽ bằng nhiều bài viết lắng xuống, mọi người đã bắt đầu quên đi sự kiện đó. Thì bỗng nhiên toàn bộ bộ máy đảng, chính quyền, các cơ quan hữu quan và các cơ quan truyền thông của nhà nước Việt nam đồng loạt, đồng lòng trên dưới như một, đã và đang tuân thủ thực hiện nghiêm chỉnh và triệt để các ý kiến “vàng ngọc” của đồng chí Đại sứ Trung quốc Tô Quốc Tường với hai nội dung lớn đó là “Tạm gác lại tranh chấp-Không được đưa tin xấu” nếu không thì coi chừng, đừng quên rằng ” quan hệ Trung – Việt là “hợp tác sẽ phát triển, đấu tranh sẽ thất bại” như lời của đồng chí Tô Quốc Tường.

Như thế thì Đảng CSVN bây giờ không cần tốn kém tiền bạc để mở một cuộc vận động giáo dục tư tưởng cho tất cả đảng viên và toàn thể nhân dân Việt nam, như trước đây đã từng làm với Chủ tịch Hồ Chí Minh để giáo dục và vận động mọi người đồng lòng thực hiện “Toàn Đảng-Toàn quân và toàn dân Việt nam nguyện đi theo con đường của Bác Hồ đã chọn”. Thay vào đó, Đảng CSVN sẽ sửa đổi tên Bác Hồ trong khẩu hiệu đó bằng tên Bác Tô Quốc Tường, và vẫn dùng khẩu hiệu như xưa “Toàn Đảng-Toàn quân và toàn dân Việt nam nguyện đi theo con đường của Bác Tô Quốc Tường đã chọn” cho dân tộc Việt nam buộc phải đi theo.

Con đường đó là “Tạm gác lại tranh chấp-Không được đưa tin xấu về quan hệ Việt nam-Trung quốc”

Ôi sao nhục nhã quá!

9/4/2010

Cùng Suy Ngẫm: Chúng ta không thể ngu, ngu nữa, ngu mãi như thế!

Chúng ta đã có hơn một ngàn năm nô lệ phương Bắc
Chúng ta đã chịu nhục nhiều đời
Chúng ta đã có những anh hùng nhỏ giọt máu cuối cùng bảo vệ đất nước
Chúng ta bị xem là man di mọi rợ
Chúng ta không thể làm ngơ
Chúng ta đã chịu ngu ngốc quá nhiều
Chúng ta không thể ngu ngốc thêm nữa…

Những thông tin…

Một người dân có chồng, con, cha, mẹ, anh, em làm nghề biển và bản thân cũng làm nghề biển sẽ suy nghĩ gì trong lúc này? Một người dân Việt Nam sẽ suy nghĩ gì trong lúc này? Đương nhiên cách đặt câu hỏi như vậy quá rộng và dễ dẫn đến lan man nhưng không hẳn lạc đường trong trạng huống thông tin đang nóng lên – thông tin về biển đảo đang bị “tàu lạ” xâm nhập, thông tin về những chiếc “tàu lạ” ngang nhiên bắt ngư thuyền Việt và yêu cầu trả tiền chuộc, thông tin về Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam chính thức lên tiếng (đã nhiều lần, lặp đi lặp lại đúng một câu) yêu cầu Trung Quốc đưa tàu ra khỏi lãnh hải, khỏi vùng biển đảo thuộc chủ quyền Việt Nam…

Và một công văn số 218/UBND-KTTH của Ủy ban Nhân dân tỉnh Lạng Sơn trân trọng “mời đoàn đại biểu Trung Quốc dự Lễ Dâng hương tưởng niệm các liệt sỹ Trung Quốc”:

Kính gửi:
- Các Sở: Ngoại vụ, Lao động, Thương binh và Xã hội;
- Uỷ ban nhân dân huyện Hữu Lũng.
Sau khi xem xét Tờ trình số 21/TTr-SNgV ngày 22 tháng 3 năm 2010 của Sở Ngoại vụ về việc mời Đoàn đại biểu Trung Quốc tham dự Lễ dâng hương tưởng niệm Liệt sĩ Trung Quốc nhân “Tiết Thanh minh”, Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn có ý kiến như sau:
1. Nhất trí chương trình mời và đón tiếp Đoàn đại biểu Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam và đại biểu cựu binh Trung Quốc vào dự Lễ dâng hương tưởng niệm Liệt sĩ Trung Quốc tại huyện Hữu Lũng theo đề xuất của Sở Ngoại vụ.
2. Giao Sở Ngoại vụ làm đầu mối liên hệ mời, chịu trách nhiệm về công tác Lễ tân trong việc đón tiếp đại biểu Trung Quốc vào dự Lễ dâng hương;
3. Giao Sở Lao động, Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Uỷ ban nhân dân huyện Hữu Lũng và các cơ quan liên quan chuẩn bị nội dung, cơ sở vật chất tổ chức Lễ dâng hương và thực hiện chế độ báo cáo theo quy định.
Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo để các Sở, ngành, đơn vị liên quan biết và thực hiện.

Vòng hoa “Đời đời nhớ ơn các liệt sỹ Trung Quốc”

Và một thông tin khác từ đài RFA cũng không kém phần nóng bỏng, nếu không nói là làm cho người ta phải suy nghĩ rất nhiều về thái độ ứng xử đối với lịch sử… Luật sư Cù Huy Hà Vũ đưa bản kiến nghị lên chính phủ Việt Nam yêu cầu xây dựng Đài tưởng niệm 58 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã ngã xuống để bảo vệ đảo Trường Sa trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lăng Trung Quốc, bảo vệ biển đảo Trường sa, Hoàng Sa những năm trước 1975.

Chúng ta đang cần gì?

Có lẽ cũng đã đến lúc đặt câu hỏi chúng ta đang cần gì, nên làm gì và xem lại hiệu ứng của những thông tin trên cũng như đánh giá một cách khách quan giá trị mỗi thông tin!

Về chuyện những ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc bắt giữ và yêu cầu trả tiền chuộc, điều này thể hiện sự ngang tàng của người phương Bắc, không tôn trọng chủ quyền Việt Nam và trên hết là xâm phạm một cách thô bạo vào đời sống người dân Việt, xâm phạm vào quyền bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải cũng như quyền tự do mưu sinh trên chính quê hương, đất nước của mình đối với người dân Việt. Nhưng phía chính phủ Việt Nam chỉ lên tiếng như vậy thì e rằng chẳng xi-nhê gì với kẻ đã có bề dày lịch sử hơn ngàn năm xâm lược đất Việt, và càng chẳng ăn thua gì trước sinh mệnh người dân (bị tàu lạ bắt giữ, đe dọa và khống chế…) đang ngàn cân treo cọng tóc với vài câu nước miếng suông, chẳng mang lại kết quả nào ngoài việc tàu Trung Quốc đậu cứ đậu, mình nói là chuyện của mình!

Bình luận về chuyện này, đứa em trai (kết nghĩa) của tôi nói: “… nếu em là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng như ông Phùng Quang Thanh, việc đầu tiên em làm sẽ là lên truyền hình, hoặc đứng ra tuyên bố rằng Trung Quốc phải rút tàu ra khỏi lãnh hải Việt Nam ngay tức khắc. Trường hợp bị kỉ luật vì làm vượt chức năng gì đó cũng không sao, cần thiết thì về hưu non, ôm gì cái chức mà để tàu quân sự người ta nghênh ngang như thế, nhục! Còn nếu cần thiết, ông Phùng Quang Thanh tuyên bố từ chức và sẽ đuổi bất kì thằng Trung Quốc nào bắt gặp ngoài đường ra khỏi Việt Nam nếu như hai chiếc tàu kia không rút đi, biển đảo Việt Nam chưa được toàn vẹn… Đương nhiên là cả hai hành động trên đều có vẻ điên rồ nhưng chí ít cũng ném về phía Trung Quốc một thông điệp rằng người Việt Nam xem việc bảo vệ lãnh thổ và dân tộc mình là nhiệm vụ trên hết; người Việt Nam sẵn sàng từ bỏ tất cả để bảo vệ đất nước, quê hương; người Việt Nam vẫn luôn giữ tinh thần, hào khí Đông A một thuở và sẵn sáng nhỏ giọt máu cuối cùng cho đất nước… Đằng này, cứ khư khư ôm ghế mà chả có lời lẽ nào cho ra hồn! Trấn tướng của một đất nước mà sao thấy hèn yếu và lù đù không chịu được…”

Có lẽ thằng em tôi nói hơi quá vì nó không phải là người trong nội bộ nhà nước, trung ương nên không hiểu hết chuyện (?!). Nhưng trong một chừng mực nào đó thì nó cũng có lý, vì thực ra, những người dám đứng ra đấu tranh cho dân tộc, đấu tranh tự do dân chủ, đấu tranh bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải quốc gia thì đã bị vào tù, những người có trách nhiệm thì im hơi lặng tiếng và chẳng đưa ra một thông điệp nào trước nhân dân nhằm kêu gọi tinh thần yêu nước, kêu gọi đấu tranh chống ngoại xâm. Họ chỉ phát ngôn vài ba câu như vậy thì đến tết Công Gô chưa chắc đã được gì!

Nên hay không nên xây Đài tưởng niệm chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa?

Đã là người Việt Nam, đã là người đổ máu xuống để bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ lãnh hải thì dù đứng trên đảng phái, ý thức hệ nào đi nữa vẫn là người có công đóng góp cho dân tộc, là người yêu nước, là người đã mang máu xương mình ra để đổi lấy đất đai cho tổ quốc, để bảo vệ phần di kế của cha ông để lại cho con cháu mai sau. Những người như vậy chắc chắn sống làm trung dân, thác làm trung thần. Không thể nhân danh bất kì một chính kiến hay ý thức hệ vớ vẩn nào gạt bỏ họ ra khỏi lịch sử, gạt bỏ họ ra khỏi lòng ngưỡng mộ, lòng tri ân của nhân dân Việt Nam! Chuyện xây Đài tưởng niệm là chuyện thuộc về lương tri dân tộc, chuyện phải làm. Và khi chúng ta xây đài tưởng niệm những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa cũng có nghĩa là chúng ta đang gửi cho những kẻ xâm lăng một thông điệp: “Việt Nam có chia đôi Nam Bắc một thời, nhưng người Việt Nam là một, người Việt Nam sẽ chung vai đấu cật bảo vệ đất nước, người Việt Nam sẵn sàng hy sinh xương máu để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam. Người Việt Nam là anh em một nhà, không phân biệt…”.

Có một điều lạ là không hiểu tại sao khi luật sư Cù Huy Hà Vũ đưa kiến nghị xây dựng đài tưởng niệm (bằng chữ Việt, ngôn ngữ Việt và bằng tư cách công dân Việt, Luật sư Việt, người Việt yêu nước) thì bị xem là kẻ không bình thường, bị loại ra khỏi Luật sư đoàn, bị phớt lờ kiến nghị… Trong khi đó Bộ ngoại giao Trung Quốc gửi công văn hay thư tín hoặc có khi chỉ một cuộc điện thoại yêu cầu (đương nhiên là bằng tiếng Hoa hoặc tiếng Việt trọ trẹ của mấy ả/ gã phiên dịch) thì cả cái Ủy ban tỉnh Lạng Sơn nháo nhào lên, cắm đầu cắm cổ gửi công văn xuống cấp dưới (huyện Hữu Lũng) yêu cầu chuẩn bị điều kiện tốt nhất cho kẻ ngoại bang sang Việt Nam làm lễ tưởng niệm vong hồn những kẻ từng vác súng sang bắn dân Việt, từng gây đổ máu, từng có nợ máu với dân tộc Việt?! Và theo như công văn thì đâu chỉ có riêng Ủy ban tỉnh Lạng Sơn đồng lõa việc này?!

Thật sự là tôi không thể hình dung Việt Nam lại có những con người lú lẫn, u mê và mất sĩ khí đến độ như vậy?! Và tôi cũng không thể tin đó là sự thật! Phải chăng cái Ủy ban tỉnh Lạng Sơn đã bị Trung Hoa hóa? Hoặc giả trong Ủy ban đó có cài đặt người Trung Quốc để chiêu dụ, nội ứng cho một công cuộc “khai hóa về phía Nam, đồng hóa Trung Việt”? Và, liệu có nên tin vào những con người đang ngồi trên ghế nhà nước một khi họ có những hành động bán đứng lịch sử, bán đứng lòng tự trọng dân tộc, bán đứng danh dự quốc gia như vậy được không? Một câu hỏi nhức nhối chưa từng thấy!

Và, đã đến lúc người Việt Nam tỉnh thức hơn bao giờ hết, trong một trăm năm, hay một ngàn năm, có thể có rất nhiều chế độ đi qua lịch sử dân tộc. Nhưng lãnh thổ, lãnh hải của một quốc gia thì muôn đời không thể co giãn, thay đổi. Bây giờ là lúc người Việt hơn bao giờ hết, kêu gọi lòng yêu nước của chính mình và lòng yêu nước của cộng đồng. Chúng ta không thể ngu mãi được! Chúng ta không thể ngu ngốc thêm nữa!

Liêu Thái

Nguồn: Tienve.org

Thứ Sáu, 9 tháng 4, 2010

TOI AC CUA CHINH QUYEN LIEN XO CU :Hồ lớn thứ tư thế giới sắp biến mất

Diện tích hồ Aral tại Trung Á giảm tới 90% do thiếu nước và Tổng thư ký Liên Hợp Quốc gọi đây là một "thảm họa môi trường gây sốc".

Ảnh chụp hồ Aral từ trên cao vào năm
Ảnh chụp hồ Aral từ trên cao vào năm 1989 và năm 2008. Ảnh: wikipedia.org.

Từng có diện tích khoảng 67.300 km2 - gần bằng diện tích Ireland - hồ Aral nằm giữa phía nam Kazakhstan và phía tây bắc Uzbekistan. Trên thực tế nó là một vùng bồn địa trũng gồm vài hồ nước mặn nằm ở Trung Á từng liên kết thành một hồ kín (không thông thủy với các biển hay đại dương khác). Hồ Aral có chiều dài 420 km và chiều rộng 280 km. Nó là hồ rộng thứ tư thế giới, sau biển Caspian, hồ Superieur và hồ Victoria.

Hai dòng sông Syr Darya và Amu Darya từng cấp nước cho hồ. Vào đầu thập niên 50 của thế kỷ trước, chính quyền Liên Xô cũ quyết định lấy nước của hai dòng sông để tưới cho vùng đất khô cằn quanh biển Aral, biến nơi đây thành những đồng lúa, dưa, ngũ cốc, và bông. Chủ trương này khiến lượng nước ngọt trong hồ giảm mạnh. Tình trạng suy giảm diện tích mặt nước liên tục của hồ Aral trong những thập kỷ qua khiến hoạt động đánh bắt cá tê liệt và hàng loạt ngư dân phải bỏ nghề. Aral tách thành hai hồ nhỏ hơn vào năm 1990, trong đó một hồ nằm ở Uzbekistan, còn hồ kia (nhỏ hơn) nằm ở Kazakhstan.

Reuters cho hay phần lớn lòng hồ Aral đã biến thành những vùng đất khô cằn. Chúng được bao phủ bởi những bụi cây nhỏ và muối. Hàng trăm tàu đánh cá nằm chỏng trơ trên những vùng đất khô như thể chúng rơi từ trên trời xuống. Sự bốc hơi của hồ tạo nên nhiều lớp cát mặn trên những vùng trước kia từng là đáy hồ. Điều đáng lo ngại là loại cát này có thể theo gió tới tận Nhật Bản và khu vực Scandinavia, gây nên nhiều bệnh tật cho người dân.

Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon
Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon tham quan "nghĩa trang" tàu cá tại thành phố Nukus, Uzbekistan. Vùng đất trong ảnh từng là lòng hồ Aral. Ảnh: AFP.

Theo AP, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon đã thị sát hồ Aral vào ngày 4/4 bằng trực thăng trong chuyến công du tới 5 nước cộng hòa Trung Á thuộc Liên Xô cũ.

"Tôi cảm thấy rất sốc. Đây rõ ràng là một trong những thảm họa môi trường nghiêm trọng nhất trên thế giới", Reuters dẫn lời phát biểu của ông Ban sau chuyến thị sát hồ Aral.

Tổng thư ký Liên Hợp Quốc kêu gọi các nhà lãnh đạo Trung Á thảo luận với nhau để tìm ra các giải pháp ngăn chặn tình trạng mất nước trong hồ Aral. Ông khẳng định các cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc sẽ hỗ trợ các nước Trung Á trong nỗ lực này.

Giới khoa học khẳng định sự biến mất của hồ Aral sẽ gây nên thảm họa sinh thái và kinh tế cho khu vực.

Minh Long

LA QUA ...Cụ già có sừng trên trán sắp mọc thêm sừng mới

link : http://www.vnexpress.net/GL/Doi-song/2010/04/3BA1AA77/

Cụ bà Zhang Ruefang, 101 tuổi, người Trung Quốc từng khiến nhiều người tò mò khi có một chiếc sừng mọc lên từ trán cụ thì nay một chiếc sừng mới đang sắp sửa nhú lên.

Theo Austriantimes, cụ Zhang cho biết, cụ đã từ chối lời đề nghị cắt bỏ chúng đi bởi vì cụ chưa bao giờ nhận được nhiều lời chúc tốt lành và có nhiều người đến thăm như thế.

Cụ Zhang không hề thấy phiền phức vì chiếc sừng trên trán mình. Ảnh: Chinamask.

"Mới đầu, nó cũng gây nhiều phiên toái khi nằm ngủ. Nhưng đến giờ tôi đã quen với việc nhiều người đến thăm, mang cho thức ăn, quà và đề nghị được chụp ảnh tôi", cụ tâm sự.

Cũng theo lời cụ Zhang, các bác sĩ đã đề nghị sẽ phẫu thuật cắt bỏ chiếc sừng hoàn toàn miễn phí nhưng cụ đã nói "không". Thực tế, cụ đang rất ngóng chờ chiếc sừng mới kia lớn hơn một chút.

Chiếc sừng đầu tiên mọc ở bên trái trán, dài gần 8 cm và vẫn đang tiếp tục phát triển. Nó mọc ngay trước sinh nhật lần thứ 100 của cụ. Và giờ đây, các bác sĩ xác nhận, một chiếc sừng nữa cũng đang phát triển ở phía bên phải trán cụ.

Ông Zhang Guozheng, 60 tuổi, con út của cụ cho biết, ông và 5 người anh trai đã từ bỏ việc thuyết phục mẹ đi cắt bỏ chiếc sừng vì dường như bà đã quá quen với sự tồn tại của nó.

Theo các chuyên gia y tế, chiếc sừng có khả năng là vết sừng da. Trong phần lớn các trường hợp chúng chỉ dài vài milimet, một số có thể mọc dài đến vài centimet so với bề mặt da.

Phương Trang